Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Bệnh sán lá dạ cỏ ở gia súc nhai lại là bệnh rất phổ biến, phân bố rộng ở tất cả các nước thuộc châu Á, châu Phi, châu Mỹ và châu Úc, nhưng bệnh phổ biến nhất ở các nước châu Á và Đông Nam Á như: Trung Quốc, Ấn Độ, Srilanca, Bangladesh, Ả Rập, Malaysia, Philippin, Thái Lan và Việt Nam. Ở Việt Nam, sán lá dạ cỏ phân bố rộng ở nhiều tỉnh thành như: Sơn La, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lai Châu, Cao Bằng, Hòa Bình, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Huế, Nha Trang, Sài Gòn và các tỉnh thuộc Nam Bộ (Phạm Sỹ Lăng (2009) [8], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2011) [6]). Đặc điểm sinh học của sán lá dạ cỏ (Paramphistomum) 1.
Vị trí của sán lá dạ cỏ trong hệ thống phân loại động vật học Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [7]: bệnh sán lá dạ cỏ do nhiều loài sán lá thuộc các giống trong họ Paramphistomatidae gây ra. Sán lá dạ cỏ nằm trong lớp sán lá Trematoda Rudolphi, 1808 thuộc ngành sán dẹp Platheminthes Schneider, 1873. Năm 1754, Daubenton đã phát hiện sán lá dạ cỏ đầu tiên nhưng chưa định được loài. Sau đó, Falk (1782) đã phân loại sán lá dạ cỏ dựa vào vị trí ký sinh.
Năm 1790, Schrank và Zeder đều tìm ra một loài sán lá trong dạ cỏ hươu và đặt tên là Fasciola cervi và Festucaria cervi. Năm 1890, Rudolphi đổi tên thành giống Ampllistoma. Theo Skrjabin và cs (1977) [15], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [9], vị trí của những sán lá dạ cỏ ký sinh ở gia súc nhai lại Việt Nam trong hệ thống phân loại động vật học như sau: n 5 Ngành Plathelminthes Schneider, 1873 Phân ngành Platodes Leuckart, 1854 Lớp Trematoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Prosostomadidea Skrjabin và Guschapskaja, 1962 Bộ Paramphistomatada Szidat, 1936. Phân bộ Paramphistomatata Skrjabin et schulz, 1937 Họ Paramphistomatada Szidat, 1936 Phân bộ Paramphistomatidae Fischoeder, 1901 Giống Paraphistomum Fischoeder 1901 Loài Paraphistomum cervi (Zeder, 1970) Loài Paramphistomum epiclitum (Fischoeder, 1904) Loài Paramphistomum gotoi (Fukui, 1922) Loài Paramphistomum gracile (Fischoeder, 1901) Loài Paramphistomum ichikawai (Fukui, 1922) Loài Paramphistomum liorchis (Fukui, 1922) Giống Gigantocotyle Nasmark, 1937 Loài Gigantocotyle bathycotyl (fischoeder, 1901) Loài Gigatocotyle siamense (Stiles et Goldterger, 1910) Giống Calicaphoron Namark, 1937 Loài Calicophoron calicophorum (Fischoeder, 1901) Loài Calicophoron cauliorchis (Stiles et Golberger, 1910) Loài Calicophoron ijimai (Fukui, 1922) Loài Calicophoron microbothrioides (Price et Mcintash, 1944) Loài Calicophoron papillosum (Stiles et Goldbberger, 1910) Giống Ceylonocotyle Namrk, 1937.
n 6 Loài Ceylonocotyle dinniki (Eduarko, 1982) Giống Cotylophoron Stiles et Galdberges, 1910 Loài Cotylophoron cotylophorum (Fischoeder, 1901) Loài Cotylophoron indicum (Stiles et Galdberger, 1910). Giống Explanatum Namark, 1937 Loài Exptanatum explanatum (Cruplin, 1847) Họ Gastrodiscidae, Stiles và Goldberger, 1910. Giống Homalogaster Poirier, 1882 Loài Homalogaster paloniae (Poirier, 1882) Giống Gastrodiscoides Leiper, 1913 Loài Gastrodiscoides hominis (Leiper, 1913) Họ Gastrodiscoides Stiles và Goldberger, 1910 Phân họ Gastrothylacinae Stiles và Goldberger, 1910 Giống Gastrothylax Poirier, 1883 Loài Gastrothylax crumenifer (Creplin, 1847) Loài Gastrothylax compressus (Brandes, 1898) Giống Carmyerius Stiles và Goldberger, 1910 Loài Carmyerius mancupatus (Fischoeder, 1901) Loài Carmyerius spatiosus (Brandes, 1898) Loài Carmyerius synethes (Fischoeder, 1901) Giống Fischoederius Stiles và Goldberger, 1910 Loài Fischoederius elongatus (Poirier, 1883) Loài Fischoederius cobboldi (Poirier, 1883) Loài Fischoederius japonicus (Fukui, 1922) n 7 1. Thành phần loài sán lá dạ cỏ ở gia súc nhai lại Sán lá dạ cỏ ký sinh ở động vật nhai lại gồm nhiều loài thuộc lớp Trematoda Rudolphi, 1808.
Trong các sán lá ký sinh ở loài nhai lại, sán lá thuộc họ Paramphistomatidae được coi là quan trọng nhất vì số lượng lớn và vai trò gây bệnh của chúng. Nghiên cứu về thành phần các loài sán lá dạ cỏ, Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2011) [6] cho biết, bệnh gây ra do nhiều loài sán lá ký sinh ở dạ cỏ thuộc các giống Paramphistomum, Calicophoron, Ceylonocotile, Gigantocotyle, Gastrotylax, Fischoederius thuộc họ Paramphistomatidae gây ra và ở nước ta loài gây bệnh chủ yếu là Paramphistomum cervi. Theo Trịnh Văn Thịnh (1963) [19], có 11 loài sán lá ký sinh ở dạ cỏ thuộc họ Paramphistomatidae: Paramphistomum cervi, Paramphistomum ichikawai, Fischoeder elongatus, Fischoeder cobbldi, Fischoede japonicus, Carmyerius spatiosus, Carmyerius synethes, Carmyerius mancupatus, Ceylonocotyle streptocolium, Ceylonocotyle orthocoelium, Gastrothylax compressus. Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [9] đã xác định, ngoài các giống, loài mà các tác giả trên phát hiện, gia súc nhai lại ở nước ta còn nhiễm thêm 2 giống: Explanatum Nasmark, 1937 và Homalogaster Poirier, 1882.
Theo kết quả nghiên cứu của Phan Lục và cs (1999) [11], có 11 loài sán lá dạ cỏ ký sinh ở trâu, bò các tỉnh miền Bắc Việt Nam. Đặc điểm hình thái của sán lá Paramphistomum Sán lá dạ cỏ nằm trong lớp sán lá (Trematoda) thuộc ngành giun dẹp, vì vậy hệ tiêu hóa, bài tiết, thần kinh và hệ sinh dục của nó có những đặc điểm chung với lớp sán lá. Các sán lá thuộc phân bộ Paramphistomatata gồm những sán lá có thân hình khối chói, màu đỏ hồng, đặc biệt có giác bụng rất lớn ở cuối thân n 8 sán, 2 nhánh ruột phát triển mạnh và kéo dài đến cuối thân, bịt kín ở cuối. Sán có hai tinh hoàn xếp phía trước buồng trứng hoặc có khi ở sau buồng trứng.
Sán lá dạ cỏ lưỡng tính, thụ tinh chéo và tự thụ tinh. Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [9], trên bề mặt cơ thể sán lá dạ cỏ thường có gai phân bố ở phần trước cơ thể, ở mặt bụng gai nhiều hơn và lớn hơn. Hệ tiêu hoá, bài tiết, thần kinh và hệ sinh dục của sán lá dạ cỏ có những đặc điểm sau: cơ quan tiêu hoá bắt đầu từ lỗ miệng ở đáy giác miệng, hầu, thực quản, ruột. Cặn thức ăn được thải ra ngoài qua lỗ miệng.
Cơ quan bài tiết cấu tạo kiểu nguyên đơn thận, gồm 2 ống chạy dọc cơ thể và nối với nhau tạo thành túi bài tiết chính mở ra ở mút sau cơ thể, mỗi ống bài tiết có nhiều nhánh nhỏ, tận cùng có tế bào ngọn lửa thực hiện chức năng bài tiết. Hệ thần kinh gồm vòng thần kinh hầu nằm ở phía trước cơ thể, từ đó có các dây thần kinh chạy dọc về mút trước và mút sau cơ thể, nối với nhau bởi các cầu nối ngang. Hệ sinh dục rất phát triển, chiếm phần lớn cơ thể, có cấu tạo phức tạp, có bộ phận sinh dục đực và cái trên mỗi cá thể. Về cấu trúc vi hình thái của sán lá dạ cỏ, trước năm 1980 chưa có tác giả nào nghiên cứu.
[26] đã công bố kết quả nghiên cứu về hình thái và cấu tạo giác miệng, hầu, thực quản, gai sinh dục và bề mặt biểu bì của sán lá dạ cỏ dưới kính hiển vi điện tử: bề mặt biểu bì, trên miệng, phía trong giác bụng và hầu của sán lá dạ cỏ có hàng trăm mấu lồi (gai thịt) có tác dụng hỗ trợ sán lá dạ cỏ bám và lấy dinh dưỡng. Theo ông, cấu trúc vi hình thái của giác bụng, miệng, số lượng và sự phân bố gai thịt là cơ sở bổ sung cho việc phân loại sán lá dạ cỏ. Theo Phạm Sỹ Lăng (2009) [8], 11 loài sán lá ký sinh phổ biến ở dạ cỏ trâu bò nước ta là: Paramphistomum cervi, Paramphistomum ichikawai, Fischoeder elongatus, Fischoeder cobbldi, Fischoeder japonicus, n 9 Carmyerius spatiosus, Carmyerius synethes, Carmyerius mancupatus, Ceylonocotyle streptocolium, Ceylonocotyle orthocoelium, Gastrothylax compressus, có hình thái đặc trưng như sau: - Paramphistomum cervi có hình khối chóp, dài từ 5 - 12 mm, rộng 2 - 3 mm. Thân sán hình nón, rất dày, thót phía trước, mở rộng và tù về phía sau.
Sán có màu hồng nhạt, phần sau đậm màu hơn. Trên thân có giác bám, hầu, gai sinh dục có nhiều núm gai thịt. Giác miệng nằm ở phần đầu, giác miệng lớn hơn giác bụng nằm ở phần cuối cơ thể, giác bụng luôn bám chặt vào nơi ký sinh. Lỗ sinh dục ở khoảng 1/3 đoạn trước thân.
Các manh tràng kết thúc về phía lưng, giác bụng ở cuối thân, rộng và sâu. Tinh hoàn chia thành nhiều thùy không rõ và cái nọ ở sau cái kia, tuyến noãn hoàng ở hai bên thân, hình thành những nhóm dày đặc, sát nhau, kéo dài từ hầu sang giác bụng, cả về phía lưng và phía bụng. Trứng Paramphistomum cervi có màu tro nhạt, hình trứng, đầu nhỏ có nắp, đầu to vỏ trứng dài ra chiều dài 0,16mm, rộng 0,069 - 0,082mm. Sán trưởng thành ký sinh trong dạ cỏ trâu, bò, dê, cừu… - Paramphistomum ichikawai: trứng có hình cầu nằm ở sau tinh hoàn tử cung phát triển mạnh, tinh hoàn phân thùy đường kính 1,5mm; thực quản dài bằng hầu, hai nhánh ruột kéo dài tới giác bụng.
Trứng có kích thước 0,125-0,062mm. Sán trưởng thành ký sinh ở dạ cỏ trâu. - Fischoederius elongatus: có thân mầu vàng đỏ có chiều dài 10- 20mm, rộng 4mm, hai đầu sán hẹp lại, giác bụng thường tròn, hầu hình bầu dục dài 0,6-0,8 mm, tinh hoàn hình bầu dục chia thùy rõ rệt, cái nọ xếp sau cái kia. Trứng có kích thước 0,115- 0,125x 0,065-0,070mm.
Sán Fischoederius elongatus trưởng thành ký sinh trong dạ cỏ của trâu bò và bò rừng. n 10 - Fischoeder cobbldi có chiều dài 3,6 mm, rộng 1,35 mm ở ranh giới 1/3 sau cơ thể, hầu kiểu Gastrothylax, đường kính 0,38 mm, ruột kéo dài đến giác bụng giác bụng kiểu Gastrothylax, đường kính 0,775 mm. Mút trước cơ thể có nhiều gai huyệt sinh dục, tinh hoàn phân thùy mạnh đường kính 0,258 mm, nằm ở phần giữa cơ thể. Tuyến noãn hoàng gồm các bao noãn tương đối nhỏ, đường kính hình ovan kích thước 0,19x0,18 mm, nằm ở đường giữa cơ thể đến phía trước tinh hoàn.
Trứng có kích thước 0,116x0,065 mm. Sán trưởng thành ký sinh ở dạ dày, ống dẫn mật trâu, bò, dê, cừu. - Fischoederius japonicus: Sán dài 7,75 mm, rộng nhất ở giữa cơ thể đạt 3,61 mm, phía trước có gai nhỏ, túi bụng mở ra ở ngang sau hầu phía sau đến ngang tinh hoàn, hầu tròn, kích thước 0,556x0,452 mm. Thực quản dài 0,39 mm, hai nhánh ruột uốn khúc kết thúc sau đường giữa cơ thể hoặc có thể đạt tới mép trước tinh hoàn, giác bụng kiểu Fischoederius, đường kính 1,2 mm.
Tinh hoàn nằm giữa cơ thể trước giác bụng, huyệt sinh dục kiểu Elongatus. Tuyến noãn hoàng bao gồm các bao noãn nhỏ nằm ở phía bên lưng có thể đạt tới ngang mép tinh hoàn, buồng trứng dạng ovan Trứng có kích thước 0,120x0,077 mm. Sán trưởng thành ký sinh chủ yếu ở dạ cỏ trâu bò. - Carmyerius spatiosus: Có chiều dài 9,0mm, chiều rộng bằng 1/3 đến 1/2 chiều dài cơ thể, hầu và giác bụng kiểu Gastrothylax, hầu tròn đường kính 0,387mm, thực quản dài 0,581mm.
Tinh hoàn phân thùy, tuyến noãn hoàng gồm các bao noãn nhỏ, nằm ở phía trên và phía lưng, buồng trứng hình cầu, kích thước trứng 0,076 x 0,127 mm. Sán trưởng thành ký sinh trong dạ cỏ trâu, bò, dê và thú nhai lại hoang dã. n 11 - Carmyerius synethes: Dài từ 9-12 mm, rộng 3,2 - 5,5 mm. Hầu thường hình cầu, đường kính 0,5-0,6 mm, thực quản dài 0,7-0,9 mm, ruột phân nhánh rộng 0,10-0,12 mm.