phần mở đầu và kết luận ra thì cấu trúc thành 4 chương: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận nghiên cứu địa mạo bờ biển phục vụ quản lý thống nhất đới bờ Chƣơng 2. Các nhân tố thành tạo địa hình bờ biển vùng nghiên cứu Chƣơng 3. Đặc điểm địa mạo đới bờ biển Tuy Hòa - Nha Trang Chƣơng 4.
Định hướng quản lý đới bờ biển Tuy Hòa - Nha Trang trên cơ sở địa mạo 4 z CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU ĐỊA MẠO BỜ BIỂN PHỤC VỤ QUẢN LÝ THỐNG NHẤT ĐỚI BỜ 1. Khái niệm đới bờ biển Cho đến nay, các nhà nghiên cứu thế giới vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về đới bờ biển. Có rất nhiều lý do khác nhau được ra để giải thích cho sự không thống nhất đó, cho thấy mức độ phức tạp của vấn đề cả về ý nghĩa về khoa học, kinh tế và chính trị - xã hội.
Dưới đây đề cập một số khái niệm phổ biến về đới bờ trên Thế giới: Năm 1972 tại Hội nghị về “Vùng nước ven bờ” (The water’s edge) được tổ chức ở Masachuset (Hoa Kỳ) “đới bờ biển là một dải lục địa và không gian biển lân cận (cả khối nước và đất dưới đáy) mà trong đó các quá trình lục địa và sử dụng lãnh thổ đều ảnh hưởng trực tiếp đến các quá trình và sử dụng biển và ngược lại” [87]. Năm 1989, World Bank đưa ra khái niệm: “đới bờ có thể bao gồm cả một vùng đất rộng lớn trên lục địa tính từ đường phân thuỷ của các sông đổ ra biển và đến tận vùng nước trên sườn lục địa. Các đặc trưng tự nhiên của đới bờ bao gồm bãi biển, vùng cửa sông, vùng đất thấp/ướt, vũng vịnh, đầm phá, rạn san hô và cả các đụn cát ven bờ. Các hợp phần nhân tạo bao gồm cảng biển, hoạt động nuôi trồng hải sản và đánh bắt thương mại, các hoạt động công nghiệp, phát triển du lịch và giải trí, các di tích khảo cổ - lịch sử, các đô thị là nơi có mật độ dân số cao nhất”[29] Năm 1995, tại Stockhom (Thụy Điển), Hội thảo “Chương trình Sinh - Địa quyển” đã đưa ra định nghĩa “đới bờ là một dải rộng gồm các hệ sinh thái bờ như vùng cửa sông, đầm phá, đới triều, vùng ven biển, vùng đá ngầm và vùng biển xa bờ được đặc trưng bởi các tính chất và các quá trình sinh học và không sinh học khác nhau.
Đới bờ được kéo dài từ vùng đất ven biển tới rìa ngoài của thềm lục địa” [84]. Đây chính là đới tương tác đất - biển như chính chủ đề của hội thảo này là mối tương tác đất - biển (Land - Ocean Interaction Zone, LOIZ). Gần đây, ở Hoa Kỳ người ta cũng đưa ra một định nghĩa về đới bờ như sau: “khu vực có sự gặp nhau giữa nước và đất như bãi biển, vũng vịnh, vùng đất thấp 5 z được gọi là đới bờ. Các vùng cửa sông (nơi có nước mặn và nước ngọt trộn lẫn với nhau) và toàn bộ các lưu vực sông cũng là một phần thống nhất của đới bờ”[29].
Như vậy, có thể tóm tắt về đới bờ biển với nội dung chính như sau: * Định nghĩa đới bờ biển: “Đới bờ biển là một nơi đã, đang và sẽ diễn ra mối tác động tương hỗ phức tạp, đa dạng và đầy đủ nhất giữa lục địa và đại dương, với khả năng cung cấp cao nhất các nguồn tài nguyên cho con người và giữ các chức năng quan trọng đối với toàn bộ hệ thống Trái Đất, đồng thời cũng là nơi rất nhạy cảm dễ bị thay đổi dưới tác động của tự nhiên và con người”. Định nghĩa này đã phản ánh được cả bản chất tự nhiên và kinh tế - xã hội của đới bờ biển. * Không gian đới bờ biển Hình 1. Sơ đồ biểu diễn các yếu tố của đới bờ [29] Không gian của đới bờ biển được xác định một cách mềm dẻo tùy thuộc vào quan điểm chính trị, mục đích kinh tế - xã hội, nghiên cứu khoa học, an ninh chủ quyền và quản lý lãnh thổ của từng quốc gia có biển.
Trên cơ sở các nguồn tài liệu đã có về mặt quản lý, có thể đưa ra phạm vi không gian chung của đới bờ biển như sau. Trước hết, đới bờ biển là một không gian địa lý đặc biệt hơn các không gian địa lý khác trên lục địa hay ngoài biển cả. Bởi vì, đới bờ biển là một dải cả đất liền, đáy biển và khối nước trên đáy biển kéo dài dọc theo đường bờ được mở rộng về phía biển đến hết vùng đặc quyền kinh tế và về phía lục địa có thể vào hết phạm vi vùng cửa sông (hình 1. Điều đó cho thấy rằng, mỗi quốc gia có biển cần thực 6 z hiện quyền của mình như đã được quy định trong Công ước Quốc tế về Luật Biển năm 1982.
Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chọn ranh giới đới bờ biển để nghiên cứu là: Về phía đất liền có giới hạn trên là ranh giới hành chính huyện; phía biển là ranh giới ngoài bị ảnh hưởng của sóng tới đáy (ước chừng khoảng độ sâu 30). * Tầm quan trọng, nhu cầu phải nghiên cứu và quản lý thống nhất bờ biển + Tầm quan trọng Mặc dù không gian đới bờ không lớn nhưng là nơi sinh sống và hoạt động kinh tế - xã hội sôi động nhất hành tinh. Đến năm 1999, dân số Thế giới có 6 tỷ người thì có khoảng 240 triệu người sống tập trung ở các thành phố nằm trong vùng đới bờ. Đến nay, dân số Thế giới ước tính khoảng 7 tỷ, thì đã có tới 634 triệu người sinh sống và khoảng 2/3 các thành phố có dân số hơn 5 triệu dân được xây dựng ở đới bờ, trong phạm vi độ cao 10m so với mực biển.
Tại Việt Nam, đến năm 2005 có khoảng 41,4 triệu người sinh sống trong dải đất có độ cao từ 10 mét trở xuống (được xếp ở vị trí thứ 5 trong số 10 nước trên thế giới) chiếm tỷ lệ xấp xỉ 53% tổng số dân cả nước (được xếp ở vị trí thứ 8 trong số 10 nước có tỷ lệ cao nhất) + Nhu cầu nghiên cứu quản lý thống nhất bờ biển Đới bờ là nơi tập trung tài nguyên, giá trị sử dụng phong phú đa dạng là tiền đề phát triển đa ngành trong một không gian nhất định, do đó nảy sinh mâu thuẫn lợi ích, tác động đến môi trường, sinh thái v.v và cả kinh tế - xã hội. Đó là một thực tiễn đòi hỏi có những hành động cụ thể để hài hòa giữa phát triển và giảm những tác động tiêu cực đến vùng bờ. Cho đến nay, quản lý thống nhất vùng bờ biển được xem là một công cụ sắc bén để giải quyết thực tiễn này. Quản lý thống nhất đới bờ biển 1.
Quản lý thống nhất đới bờ biển (QLTNĐBB) trên Thế giới Cụm từ “Quản lý thống nhất đới bờ biển” hay “quản lý thống nhất bờ biển” được dịch ra từ tiếng Anh là “Integrated Coastal Zone Management” (viết tắt là ICZM) hoặc “Integrated Coastal Management” (ICM). Trước hết, thống nhất là một cách tiếp cận trong quản lý để thực hiện cho được mục tiêu đã đề ra, vấn đề quản lý thống nhất đới bờ biển được quan tâm đề 7 z cập, nghiên cứu của các quốc gia, tổ chức các nhà khoa học trên Thế giới, theo các cách tiếp cận, khuôn khổ, hành động khác nhau, dưới đây đề cập đến một số các tiếp cận chính về QLTNĐBB trên Thế giới: Hình 1. Chu trình QLTNĐBB [82] QLTNĐBB theo chủ yếu “chức năng sản xuất” nhằm kết hợp các yếu tố đầu vào như lao động, tài nguyên thiên nhiên, và thời gian để tạo ra các sản phẩm mong đợi như bãi biển cho nghỉ dưỡng công cộng, chất lượng nước đảm bảo, các vụ cá hàng năm, bảo tồn biển, giảm tổn thương do dâng cao mực biển hoặc các tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu [89]. Trong khu đó, QLTNĐBB là một chương trình tạo dựng nhằm quản lý tài nguyên vùng bờ biển, có sự tham gia của tất cả các ngành kinh tế bị tác động, các cơ quan chính phủ và các tổ chức phi chính phủ [74].
QLTNĐBB là mẫu hình quan niệm mới nhất về quản lý các vùng bờ biển, liên kết các hoạt động đối tác, tập hợp các bên có quyền lợi, là một quá trình phối hợp và các hoạt động không trùng lặp. Nó bao gồm việc đánh giá toàn diện, đặt ra các mục tiêu, quy hoạch và quản lý hệ thống vùng bờ và tài nguyên, có xét đến các đặc điểm lịch sử, văn hóa và truyền thống, mâu thuẫn lợi ích và sử dụng; đó là quá trình liên tục và tiến hóa nhằm đạt tới sự phát triển biền vững [88]. QLTNĐBB là một quá trình động và liên tục, nhờ đó có quyết định được đưa ra nhằm sử dụng, phát triển bền vững và bảo vệ các khu vực và tài nguyên bờ và biển [73]. Chu trình QLTNĐBB theo PEMSEA thực hành tại các nước đang phát triển khu vực Đông Á [77] Việc ban hành sắc lệnh quản lý vùng bờ biển năm 1972 tại Hoa Kỳ là mốc quan trọng trong lịch sử quản lý thống nhất vùng bờ và đại dương với 15 nguyên tắc [87].
Lý luận và thực tiễn quản lý vùng bờ biển đã được phổ biến đến các vùng miền nhờ sự trợ giúp quốc tế. Cho đến đầu thế kỷ 21, Thế giới đã có khoảng 380 địa điểm quản lý thống nhất vùng bờ biển [72]. Như vậy, sau 3 thập kỷ thực hành, quản lý vùng bờ biển đã thu được nhiều thành tựu, đáp ứng được mục tiêu phát triển bền vững vùng bờ biển. Đến những năm 90 và tiếp sau, nhiều dự án song phương liên quan đến quản lý tài nguyên và môi trường vùng bờ biển đã được thực hiện với tài trợ của JICA, USAID, Danida, DANCED, NORAD, EU, CIDA, ESCAP, UNDP và các tổ chức ngân hàng đa phương như ADB và WB.
Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF) cũng đã hỗ trợ nhiều cho quản lý môi trường biển và ven bờ. Phần lớn các chương trình tập trung và môi trường các vùng biển Đông Á và các hệ sinh thái lớn như Hoàng Hải, Biển Đông và biển Sulu-Celebes. Hoạt động quản lý thống nhất vùng bờ biển các nước trong khu vực Vào những năm 80 đã có ba chương trình khu vực hỗ trợ của Hoa Kỳ, Canada và Úc cho các nước ASEAN, tập trung vào quản lý hợp lý tài nguyên biển và ven bờ. Tiếp đến là các dự án tài trợ của chính phủ Đan Mạch, Hà Lan v.
Với sự hỗ trợ của GEF/UNDP/IMO, PEMSEA đã xây dựng một hệ thống các dự án trình diễn QLTNĐBB (ICZM) tại một số nước Đông Á Hình 1.