Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Khảo cổ học với đề tài "Di tích chùa Dạm trong hệ thống các chùa thời Lý" do nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Đáp thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Tống Trung Tín và TS. Trịnh Hoàng Hiệp, bảo vệ năm 2019.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Chùa Dạm (tên chữ là Đại Lãm tự, Cảnh Long Đồng Khánh, hoặc Thần Quang tự) tọa lạc trên sườn núi Dạm, thuộc thôn Tự, xã Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Đây là một đại danh lam kiêm hành cung do triều đình nhà Lý khởi dựng từ năm 1086 và hoàn thành cơ bản vào năm 1094. Mặc dù là một công trình Phật giáo Hoàng gia có quy mô lớn trên quê hương nhà Lý, trải qua biến thiên lịch sử và chiến tranh, toàn bộ kiến trúc gỗ bên trên đã bị phá hủy hoàn toàn.

Trước năm 2009, các nghiên cứu về chùa Dạm chủ yếu dừng lại ở việc tiếp cận thư tịch cổ, khảo sát dấu tích bề mặt hoặc tranh luận về ý nghĩa biểu tượng của cột đá chạm rồng. Khoảng trống nghiên cứu lớn nhất lúc bấy giờ là giới nghiên cứu hầu như chưa nắm được quy mô mặt bằng tổng thể, kỹ thuật gia cố nền móng, kết cấu kiến trúc liên hoàn, hệ thống thoát nước, cũng như diện mạo vật liệu xây dựng và đồ dùng sinh hoạt qua các thời kỳ lịch sử. Việc khai quật khảo cổ học quy mô tổng thể từ năm 2011 đến 2014 đã mở ra nguồn tư liệu thực địa phong phú, đòi hỏi một công trình nghiên cứu hệ thống nhằm giải mã toàn diện di tích.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận án là tổng hợp, phân tích kết quả khai quật khảo cổ học tổng thể; xác định đặc điểm mặt bằng kiến trúc, kỹ thuật xây dựng, trang trí kiến trúc và hệ thống di vật; làm rõ vị trí, vai trò của chùa Dạm trong hệ thống chùa tháp thời Lý; xác định các giai đoạn trùng tu thời Trần, Lê Trung Hưng, Nguyễn; đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn di tích.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm 4 nội dung:

  1. Nhận thức và làm rõ cấu trúc mặt bằng chùa Dạm thời Lý, thời Trần và các giai đoạn sau.
  2. Xác định công năng của các công trình trong quần thể kiến trúc chùa Dạm thời Lý thông qua phân tích di tích và di vật khảo cổ học kết hợp tư liệu lịch sử.
  3. So sánh, phân tích đối sánh giữa chùa Dạm với các di tích chùa tháp thời Lý khác (như Phật Tích, chùa Cao, núi Ngô Xá, Long Đọi Sơn, chùa Lạng, chùa Bà Tấm, tháp Tường Long...) để tìm hiểu lịch sử kiến trúc Phật giáo Việt Nam.
  4. Phân tích, đánh giá giá trị di sản văn hóa, cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho các phương án bảo tồn, phát huy giá trị khu di tích chùa Dạm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ dấu tích kiến trúc, địa tầng, hố móng, bờ kè, chân tảng, cống thoát nước và hệ thống di vật thu được qua các đợt thám sát năm 2009, khai quật tổng thể (2011–2014) tại chùa Dạm; cùng các di tích, di vật thời Lý tại một số địa điểm liên quan.
  • Phạm vi không gian: Trọng tâm là khu di tích chùa Dạm (xã Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh) và mở rộng so sánh với các di tích thời Lý tại các tỉnh, thành phố: Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Hưng Yên, Hà Nam, Hải Phòng.
  • Phạm vi thời gian: Trọng tâm nghiên cứu thời kỳ khởi dựng dưới thời Lý (thế kỷ XI–XII), kết hợp xem xét các giai đoạn tồn tại, tu bổ thời Trần, thời Lê Trung Hưng và thời Nguyễn.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Tác giả chia lịch sử nghiên cứu chùa Dạm thành hai giai đoạn chính:

1. Giai đoạn trước khi khai quật khảo cổ học (trước năm 2009)

Nguồn tư liệu giai đoạn này chủ yếu dựa vào thư tịch cổ và hiện vật lộ thiên:

  • Tư liệu cổ sử và địa chí: Đại Việt sử ký toàn thư, Việt Sử lược, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, An Nam chí nguyên (Cao Hùng Trưng), Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú), Đại Nam nhất thống chí, Bắc Ninh toàn tỉnh dư địa chí. Các tài liệu này ghi nhận thời điểm khởi dựng (1086), dựng tháp (1088), khánh thành (1094), làm ba ngọn tháp chỏm đá (1105) và các chuyến ngự giá của vua Lý Nhân Tông.
  • Tư liệu văn bia: Thác bản văn bia "Đại Lãm Thần Quang tự trùng tu bi ký" khắc năm Chính Hòa thứ 14 (1694) ghi nhận đợt trùng tu chùa vào các năm 1693–1694.
  • Tranh luận về công năng cột đá chạm rồng:
    • Nhóm quan điểm xem cột đá là Linga: Đại diện gồm Chu Quang Trứ (1999, 2000, 2012), Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Phạm Ngọc Long (2010), Trần Ngọc Thêm (1996, 2011), Phan Cẩm Thượng (1997), Trần Lâm Biền (2000), Tạ Chí Đại Trường (2006, 2012). Quan điểm này căn cứ vào hình thái bên ngoài và bối cảnh giao lưu Đại Việt - Champa để cho rằng cột đá mang yếu tố tín ngưỡng phồn thực.
    • Nhóm quan điểm xem cột đá là phế tích kiến trúc (Liên hoa đài / bệ đỡ kiến trúc): Khởi nguồn từ nhận định của Nguyễn Bá Lăng, Nguyễn Du Chi, Nguyễn Đỗ Cung, tiếp tục được phát triển bởi Ngô Văn Doanh (1990), Nguyễn Hùng Vĩ (2001, 2011) và Trần Trọng Dương (2012). Nhóm này khảo sát hệ thống lỗ mộng, kết cấu dầm chịu lực và xác định đây là cột trụ đỡ một đài sen (tương tự đồ án chùa Một Cột).

2. Giai đoạn sau khi khai quật khảo cổ học (từ năm 2009 đến nay)

  • Năm 2009, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh thám sát 20m² tại cấp nền 3 (hố H1 15m², hố H2 10m²), tìm thấy lớp sinh thổ laterite và nhiều mảnh ngói, gốm men thời Lý - Lê.
  • Từ cuối năm 2011 đến 2014, Viện Khảo cổ học phối hợp cùng Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh khai quật khảo cổ học tổng thể toàn bộ 4 cấp nền.
  • Nguyễn Văn Đáp (2017) công bố bài báo "Tổng thể mặt bằng di tích chùa Dạm qua tư liệu khảo cổ học" trên Tạp chí Khảo cổ học (số 6), công bố sơ bộ cấu trúc 4 cấp nền.

Khoảng trống luận án giải quyết

Luận án giải quyết khoảng trống về sự thiếu hụt tư liệu mặt bằng kiến trúc chi tiết, phân tầng địa tầng, cấu tạo các hố gia cố chân tảng, kỹ thuật ghép đá bằng ngàm đuôi cá chốt chì, phân định công năng các công trình trên 4 cấp nền, xác lập mối tương quan giữa móng tháp và cột đá thời Lý, đồng thời đặt chùa Dạm vào mạng lưới không gian kiến trúc Phật giáo Hoàng gia thế kỷ XI–XII.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm

Luận án vận dụng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét các hiện tượng khảo cổ học trong mối liên hệ hữu cơ với điều kiện kinh tế, chính trị, tôn giáo và văn hóa thời Lý. Tác giả sử dụng các khái niệm chuyên ngành khảo cổ học và kiến trúc truyền thống, có sự chuẩn hóa thuật ngữ như: "hố gia cố chân tảng" (thay cho móng trụ sỏi, móng cột), "đấu củng" (kết cấu gồm bộ phận bệ đỡ "đấu" và tay đỡ "củng"), "bích ngõa" (ngói men xanh), "uyên ngõa" (ngói uyên ương), "liên ngõa" (ngói sen), "thủy ba" (đồ án sóng nước hình ngọn núi).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp khảo cổ học chuyên ngành: Khai quật thực địa, bóc tách địa tầng, phân loại hình thức hiện vật, đo đạc, lập bản vẽ kỹ thuật, chụp ảnh ghi nhận hiện trạng; chỉnh lý di vật, phân tích đối sánh loại hình đồng đại và lịch đại.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành:
    • Hán Nôm và Thư tịch học: Đối chiếu văn bản cổ sử (Toàn thư, Việt sử lược, Cương mục) và thác bản văn bia thời Lê Trung Hưng.
    • Dân tộc học và Văn hóa dân gian: Tiếp cận truyền thuyết địa phương (sự tích Tấm Cám, truyền thuyết Cao Biền, giếng Bống) để bổ trợ cách hiểu về địa danh và cảnh quan.
    • Địa chất học và Khoa học tự nhiên: Xác định thành phần đất đồi laterite, đá cát kết, đá sa thạch, kỹ thuật gia cố đầm sỏi và chốt kim loại (chì).
    • Lịch sử kiến trúc: Phân tích kết cấu chịu lực, vì kèo, bước gian, tỷ lệ mặt bằng, không gian hành lang và rãnh tiêu thoát nước.

Nguồn tư liệu

  • Tư liệu thực địa từ cuộc thám sát năm 2009 và đợt khai quật tổng thể (2011–2014) trên 4 cấp nền di tích chùa Dạm.
  • Tư liệu khảo cổ học tại 23 phế tích thời Lý trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh cùng các di tích thời Lý tiêu biểu ở miền Bắc.
  • Tài liệu lưu trữ tại Viện Khảo cổ học, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia và Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 trình bày đặc điểm địa lý, môi trường cảnh quan vùng núi Dạm, lịch sử biến đổi hành chính của vùng đất Bắc Ninh và tổng thuật toàn bộ tư liệu nghiên cứu liên quan đến di tích chùa Dạm.

Về vị trí địa - văn hóa, Bắc Ninh nằm ở trung tâm châu thổ sông Hồng. Núi Dạm (Lãm Sơn) cao khoảng trên dưới 70m so với mực nước biển, tọa lạc trong vùng đất có địa thế tự nhiên bao bọc bởi các ngọn núi mang biểu tượng Tứ linh (núi Rùa, núi Phượng, núi Long, núi Ly). Dưới chân núi có dòng sông Đuống (sông Thiên Đức) và ngòi Con Tên tạo thành tuyến giao thông thủy bộ kết nối trung tâm Thăng Long với vùng Luy Lâu, Phật Tích, Tiêu Sơn và Lục Đầu.

Chương này phân tích quá trình chuyển biến địa giới hành chính qua các thời kỳ: từ bộ Vũ Ninh thời Hùng Vương - An Dương Vương, quận Giao Chỉ thời Hán, phủ Thiên Đức và phủ Siêu Loại thời Lý, lộ Bắc Giang thời Trần, đến trấn Kinh Bắc thời Lê và tỉnh Bắc Ninh thời Nguyễn. Toàn tỉnh hiện lưu giữ dấu tích của 23 chùa tháp thời Lý, tập trung mật độ cao tại vùng Tiên Du và Từ Sơn (12 di tích).

Tác giả phân tích chi tiết các ghi chép cổ sử, đồng thời hệ thống hóa 2 giai đoạn nghiên cứu trước và sau năm 2009, khẳng định việc khai quật khảo cổ học tổng thể đã chuyển giai đoạn nghiên cứu từ mô tả hình thái bên ngoài sang phân tích kết cấu khảo cổ học toàn diện.


Chương 2: Di tích kiến trúc và niên đại

Chương 2 là nội dung trọng tâm của luận án, công bố chi tiết kết quả khai quật địa tầng, mặt bằng tổng thể 4 cấp nền giật cấp theo sườn núi phía Nam của núi Dạm, được kè đá khối kiên cố.

Cấp nền Quy mô / Dấu tích kiến trúc tiêu biểu Kích thước / Kết cấu khảo cổ quan trọng Niên đại
Cấp nền 1 Tam quan và hệ thống 2 hành lang Đông - Tây - Xuất lộ 09 chân tảng hoa sen (phía Đông 04, phía Tây 04).
- 08 móng trụ sỏi (mỗi bên 04, kích thước 1,3–1,4m, khoảng cách vì 3,3–3,4m).
- Lòng hành lang rộng 5,7–5,75m; khoảng cách giữa hai vì từ 1,93–1,95m.
Thời Lý
Cấp nền 2 - Cột đá chạm rồng
- Móng tháp đá thời Lý
- Giếng Bống
- Hai công trình kiến trúc Đông - Tây
- Cột đá: Kè chân cột gồm 8 hàng đá (đk 4,80m; cao 2,9m) mộng đuôi cá chốt chì, chạm sóng nước. Thân cột dưới chạm đôi rồng chầu lá đề (cao 1,02m; đk 1,20–1,38m). Thân trên có 2 tầng lỗ mộng chịu lực vát 66° (tầng dưới 6 lỗ lớn, tầng trên 12 lỗ nhỏ) và mộng đỉnh dài 0,60m.
- Móng tháp: 71,57m² (8,46 x 8,46m), cửa tháp rộng 2,60m mở về hướng Đông nhìn sang cột đá.
- Kiến trúc phía Đông: Diện tích 206,72m² (lòng 92,63m²).
- Kiến trúc phía Tây: Diện tích 210,6m² (lòng 102,58m²).
- Giếng Bống: Sâu 3–5m, kè đá gốc; bờ sân gạch dài 10,04m, rộng 7,36m.
Thời Lý
Cấp nền 3 - Hai kiến trúc kéo dài Đông - Tây
- Móng tháp thời Lý trung tâm
- Kiến trúc thời Nguyễn chồng đè
- Kiến trúc phía Đông: 212,27m² (lòng 157,92m²), 26 hố gia cố chân tảng, rãnh thoát nước dài 16m.
- Kiến trúc phía Tây: 27 hố gia cố chân tảng, 2 rãnh nước vuông góc.
- Móng tháp Lý trung tâm: 7,90 x 7,90m, cửa tháp rộng 1,60m hướng Nam lệch Đông 15°.
- Dấu tích thời Nguyễn: Diện tích ~400m² (19 x 21m), 5 gian, tái sử dụng 12 chân tảng thời Lý, dấu vết nền thiêu hương (2,17 x 1,35m).
Thời Lý,
chồng đè thời Nguyễn
Cấp nền 4 Quần thể kiến trúc trung tâm và 2 dãy hành lang nối dài - Kiến trúc trung tâm: Hướng Nam lệch Đông 15°, diện tích 628,12m² (32,8 x 19,15m), lòng nhà 386,42m² (27,8 x 13,9m) gồm 5 gian 2 chái, 6 hàng chân cột/vì. Hệ thống cột hiên thấp hơn cột cái 0,60m.
- Xuất lộ 141 hố cột đục vào đá gốc quanh hiên (102 hố đầm sỏi, 39 hố không đầm sỏi) để làm kết cấu đỡ sàn.
- Thềm bậc đá phía Bắc chạm rồng và chạm hổ.
- Hành lang phía Tây: 11,10 x 7,50m (4 gian), nền đá gốc đục phẳng 51,6m², rãnh thoát nước đục vào đá gốc.
Thời Lý

Hệ thống bậc đá lên xuống giữa các cấp nền được ghép từ các khối đá cát kết (dài 0,73–0,78m; cao 0,12–0,25m). Trên một số mặt bậc đá (như bậc số 1, số 5, số 7, số 13) có đục các lỗ mộng nhằm dựng cột làm mái che cho lối đi liên hoàn giữa 4 cấp nền.


Chương 3: Hiện vật và niên đại

Chương 3 khảo tả chi tiết hệ thống di vật phát hiện qua khai quật và các di vật lộ thiên, phân loại theo chức năng và chất liệu:

  • Vật liệu kiến trúc bằng đá:
    • Chân tảng đá: Bao gồm chân tảng hình vuông chạm cánh sen nổi (cánh sen kép, bên trong chạm hoa văn uốn lượn phong cách thời Lý), chân tảng không trang trí hoa văn và các khối đá kè bậc thềm chạm rồng, chạm hổ, chạm sóng nước thủy ba.
    • Cấu kiện tháp đá và đá kè móng: Các khối đá xây móng tháp và kè chân cột có đục mộng hình đuôi cá ở hai đầu, liên kết bằng cách rót chì nguyên chất.
  • Vật liệu kiến trúc bằng đất nung và gốm:
    • Gạch: Gạch lát nền hình vuông (kích thước lớn chạm hoa cúc dây, hoa sen), gạch chữ nhật (gạch chỉ) xây bó nền, xây tường cống, gạch có chữ in nổi niên đại thời Lý, gạch thời Trần và thời Lê.
    • Ngói và cấu kiện mái: Ngói uyên ương (uyên ngõa), ngói men xanh (bích ngõa), ngói mũi lá sen (liên ngõa), ngói mũi hài thời Trần, ngói âm dương thời Lê; các loại tượng đầu rồng, đầu phượng, tượng chim uyên ương, lá đề trang trí bờ nóc mái.
    • Cấu kiện chịu lực: Mảnh cấu kiện đấu củng bằng đất nung phục vụ nâng đỡ mái hiên.
  • Đồ dùng sinh hoạt và đồ thờ cúng:
    • Đồ gốm men thời Lý - Trần: Bát, đĩa, âu men ngọc (celadon), men trắng ngà, men hoa nâu; đồ gốm hoa lam thời Lê Sơ, Lê Trung Hưng; đồ sành thời Nguyễn.
    • Dấu vết tro than, xỉ sắt và các mảnh kim loại trong tầng văn hóa chứng minh các giai đoạn sinh hoạt tâm linh và sửa chữa liên tục của di tích.

Chương 4: Di tích chùa Dạm trong hệ thống các chùa thời Lý

Chương 4 mở rộng so sánh chùa Dạm với 9 di tích chùa tháp thời Lý tiêu biểu ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ:

  1. Địa điểm tháp Ngô Xá (núi Chương Sơn, Hà Nam)
  2. Địa điểm tháp Tường Long (Đồ Sơn, Hải Phòng)
  3. Địa điểm chùa Lạng (Hưng Yên)
  4. Địa điểm đền Cầu Từ (Bắc Ninh)
  5. Địa điểm chùa Cao (Bắc Giang)
  6. Địa điểm chùa Phật Tích (Bắc Ninh)
  7. Địa điểm chùa Linh Xứng (Thanh Hóa / tư liệu văn bia)
  8. Địa điểm chùa Long Đọi Sơn (Hà Nam)
  9. Địa điểm chùa Bà Tấm (Gia Lâm, Hà Nội)

Qua phân tích đối sánh và liên hệ với kiến trúc thời Lý ở Hoàng thành Thăng Long, tác giả rút ra những đặc trưng cơ bản:

  • Cấu trúc mặt bằng "Tháp trước - Chùa sau": Chùa Dạm thể hiện mô hình quy hoạch kiến trúc tôn giáo Hoàng gia thời Lý: công trình tháp đá và cột đá biểu tượng được đặt ở cấp nền phía trước (cấp nền 2 và 3), trong khi tòa điện chính (chùa) nằm ở cấp nền cao nhất phía sau (cấp nền 4).
  • Kỹ thuật san bạt địa hình và xử lý nền móng: Việc xây dựng 4 cấp nền giật cấp bám vào sườn núi tự nhiên đòi hỏi kỹ thuật kè đá khối quy mô lớn, gia cố hố móng bằng sỏi cuội trộn đất laterite dày tới 1,6m, đục bạt nền đá gốc để làm sàn gỗ và hệ thống rãnh tiêu thoát nước ngầm liên hoàn.
  • Giá trị mỹ thuật và biểu tượng: Cột đá chạm rồng chùa Dạm là di vật độc bản thể hiện sự kết hợp giữa nghệ thuật điêu khắc rồng thời Lý và kết cấu đài sen kiến trúc.

Phương án bảo tồn khu di tích: Tác giả đề xuất các giải pháp kỹ thuật cụ thể:

  • Bảo tồn nguyên trạng bờ kè đá 4 cấp nền và hệ thống lối lên xuống; gia cố chống sạt trượt và xói mòn chân kè.
  • Xử lý bảo tồn tại chỗ các hố móng trụ, chân tảng, cống thoát nước ngầm thời Lý; xây dựng mái che bảo vệ móng tháp và chân cột đá.
  • Ứng dụng công nghệ số hóa 3D di tích và xây dựng mô hình phục dựng giả định không gian kiến trúc chùa Dạm phục vụ nghiên cứu và trưng bày bảo tàng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Cung cấp cái nhìn toàn diện, xác thực về mặt bằng tổng thể của một đại danh lam Hoàng gia thời Lý thông qua phương pháp khảo cổ học thực nghiệm bóc tách địa tầng, thay thế các suy đoán hình thức trước đây.
  • Xác lập bằng chứng vật chất về cấu trúc 4 cấp nền liên hoàn có mái che lối đi, hệ thống móng trụ kép, sàn đục nền đá gốc và cống thoát nước bằng gạch - đá.
  • Giải mã thuyết phục công năng của cột đá chùa Dạm: đây là phế tích trụ đỡ bằng đá của một công trình kiến trúc liên hoa đài, có mối liên hệ mật thiết và đăng đối với tháp đá ở cấp nền 2.
  • Làm sáng tỏ các lớp văn hóa chồng đè, xác định lịch sử tồn tại của chùa Dạm trải qua các thời kỳ: khởi dựng thời Lý (thế kỷ XI), trùng tu thời Trần (thế kỷ XIII–XIV), thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII–XVIII) và thời Nguyễn (thế kỷ XIX–XX).

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp toàn bộ hồ sơ đo vẽ, bản ảnh, thông số kỹ thuật chuẩn xác về mặt bằng di tích làm cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch, trùng tu, tôn tạo di tích quốc gia chùa Dạm.
  • Cung cấp cứ liệu so sánh phục vụ nghiên cứu lịch sử kiến trúc Phật giáo thời Lý và lịch sử mỹ thuật cổ Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do di tích đã bị triệt giải và tàn phá nghiêm trọng trong chiến tranh, toàn bộ phần kiến trúc gỗ phía trên không còn nguyên vẹn, việc xác định chính xác số tầng, kiểu dáng mái của các tòa nhà trên cấp nền 2, 3, 4 chủ yếu dựa trên mặt bằng chân tảng và lỗ mộng, mang tính chất phục dựng giả định. Một số đoạn cống thoát nước và dấu vết móng gạch ở cấp nền 2 bị đứt đoạn do xói mòn tự nhiên.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục mở rộng thám sát các khu vực phụ cận chân núi Dạm (khu vực đền Vua, ngòi Con Tên); tiến hành phân tích thành phần khoáng vật học và vật lý hạt nhân đối với các mẫu chì chốt mộng và mẫu đất laterite gia cố móng; đẩy mạnh ứng dụng mô phỏng kỹ thuật số 3D kết cấu chịu lực của hệ khung gỗ bên trên.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên ngành Khảo cổ học, Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Nghệ thuật và Kiến trúc cổ: Sử dụng bộ số liệu thực địa, bản vẽ mặt bằng 4 cấp nền và phương pháp tiếp cận khảo cổ học kiến trúc.
  • Các cơ quan quản lý di sản văn hóa, bảo tàng và kiến trúc sư trùng tu di tích: Tham khảo phương án bảo tồn móng đá, kỹ thuật thoát nước và phương pháp bảo tồn di tích khảo cổ học lộ thiên bám theo địa hình đồi núi.

Câu hỏi thường gặp

1. Thư tịch cổ ghi nhận niên đại khởi dựng và hoàn thành chùa Dạm vào thời gian nào?

Theo Đại Việt sử ký toàn thư và Việt sử lược, chùa Dạm được vua Lý Nhân Tông cho khởi dựng vào mùa đông năm Bính Dần (1086), bắt đầu xây tháp vào năm 1088, đến mùa hạ/thu năm Giáp Tuất (1094) thì hoàn thành và được vua ban tên là Cảnh Long Đồng Khánh. Đến năm Ất Dậu (1105), nhà vua tiếp tục cho dựng thêm 3 ngọn tháp chỏm đá tại chùa.

2. Khai quật khảo cổ học đã làm rõ cấu trúc mặt bằng chùa Dạm gồm những cấp nền nào?

Mặt bằng chùa Dạm gồm 4 cấp nền giật cấp trườn theo sườn núi phía Nam của núi Dạm, được kè bằng các khối đá vuông vức:

  • Cấp nền 1: Tam quan và 2 dãy hành lang Đông - Tây.
  • Cấp nền 2: Cột đá chạm rồng, móng tháp đá thời Lý, giếng Bống và 2 công trình kiến trúc đối xứng Đông - Tây.
  • Cấp nền 3: Hai dãy hành lang Đông - Tây, móng tháp Lý trung tâm (bên trên có kiến trúc chùa thời Nguyễn chồng đè).
  • Cấp nền 4: Tòa kiến trúc trung tâm quy mô 5 gian 2 chái (diện tích 628,12m²) liên hoàn với 2 hành lang phụ hai bên.

3. Cột đá chạm rồng ở cấp nền 2 có kết cấu kỹ thuật và kích thước như thế nào?

Cột đá có chân kè gồm 8 hàng đá (đường kính 4,80m; cao 2,9m) chạm 3 tầng sóng nước hình núi, liên kết mộng đuôi cá chốt chì. Thân cột dưới hình trụ chạm đôi rồng chầu lá đề (cao 1,02m; đường kính 1,20–1,38m). Thân cột trên cao 1,33m có 2 tầng lỗ mộng chịu lực vát nghiêng 66° (6 lỗ mộng lớn ở dưới, 12 lỗ mộng nhỏ ở trên) và một lỗ mộng trung tâm ở đỉnh (dài 0,60m) dùng để liên kết hệ dầm gỗ đỡ đài sen hoặc công trình kiến trúc bên trên.

4. Kỹ thuật liên kết đá xây dựng thời Lý tại chùa Dạm có đặc điểm gì đặc biệt?

Tại móng tháp đá cấp nền 2 và bờ kè chân cột đá chạm rồng, các nghệ nhân thời Lý đã sử dụng kỹ thuật đục lỗ mộng hình đuôi cá ở hai đầu tiếp giáp giữa các phiến đá sa thạch/cát kết, sau đó rót chì nóng chảy vào mộng để khóa chặt các khối đá lại với nhau mà không cần dùng vữa liên kết.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Đáp là công trình nghiên cứu khảo cổ học toàn diện về di tích chùa Dạm dựa trên kết quả khai quật tổng thể giai đoạn 2011–2014. Tác phẩm đã xác lập đầy đủ mặt bằng kiến trúc 4 cấp nền, làm sáng tỏ kỹ thuật xây dựng, hệ thống di vật và mối tương quan giữa cột đá chạm rồng với tháp đá thời Lý. Kết quả nghiên cứu khẳng định vị trí của chùa Dạm như một đại danh lam Hoàng gia tiêu biểu, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho công tác bảo tồn, phục dựng di sản kiến trúc Phật giáo thời Lý tại Việt Nam.