ĐẶT VẤN ĐỀ Núi Luốt – trƣờng đại học Lâm Nghiệp có tổng diện tích rộng hơn 100 ha. Là địa điểm học tập, thực hành lý tƣởng của sinh viên trong trƣờng. Là nơi thu hút đƣợc nhiều khách du lịch về tham quan nhờ vào không gian xanh. Hàng năm, nơi đây cũng đón nhiều nhà khoa trong và ngoài nƣớc về nghiên cứu.
Với sự đa dạng, phong phú về các trạng thái rừng, hơn 342 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 257 chi và 90 họ. Đã biến nơi đây thành môi trƣờng sống của nhiều loài sinh vật. Trong đó có các loại côn trùng bộ cánh vẩy ( Lepidoptera) nhƣ bƣớm ngày. Bƣớm ngày hoạt động vào ban ngày, sở hữu đôi cánh rực rỡ với hàng nghìn vảy nhỏ li ti xếp chồng lên nhau, đôi khi nó cũng là những hạt có màu có thể khúc xạ ánh sáng.
Do đó cánh bƣớm có màu sắc thay đổi liên tục khi chúng chuyển động. Ngoài giá trị về thẩm mỹ các loài bƣớm ngày nói riêng còn có khả năng thụ phấn, có một số giá trị quan trọng khác, nhiều loài nằm trong sách đỏ Việt Nam. Mặc dù những đề tài nghiên cứu về bƣớm ngày tại núi Luốt Trƣờng đại học Lâm nghiệp thu đƣợc nhiều kết quả. Nhƣng trong bối cảnh biến đổi khí hậu không ngừng nhƣ hiện nay, thêm vào đó là sự tác động của con ngƣời thì thành phần loài có nhiều thay đổi.
Để đánh giá đúng thực trạng của các loài bƣớm ngày tại thời điểm hiện tại cần có thêm những nghiên cứu để từ đó có các biện pháp quản lí, bảo vệ và phát triển cho phù hợp hơn. Nhân thấy tính cần thiết này em đã thực hiện đề tài:“Nghiên cứu đề xuất biện pháp quản lý loài bướm ngày tại núi Luốt trường đại học Lâm Nghiệp – Hà Nội” 1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu về côn trùng nói chung Côn trùng (Insecta) là nhóm động vật đa dạng bậc nhất với khoảng 1 triệu loài đã đƣợc mô tả. Là nhóm động vật không xƣơng sống duy nhất có cánh mà nhờ đó chúng có mặt ở hầu hết các nơi trên trái đất, khả năng thích nghi cao nhƣng vòng đời lại ngắn.
Ba nghìn năm trƣớc công nguyên, ở Trung Quốc đã bắt đầu nuôi tằm. Gần 400 năm trƣớc công nguyên, Aristote (ngƣời Hi Lạp) đã viết về 60 loài côn trùng trong tác phẩm của mình. Vào thế kỉ 18 đã có nhiều học giả và công trình nghiên cứu về côn trùng học. Trên thế giới, năm 1935, Carl Linne (1707 – 1778) xuất bản cuốn sách nổi tiếng “Systema naturae” đề cập đến ba lĩnh vực quan trọng của tự nhiên là khoáng vật, thực vật và động vật.
Ông là ngƣời đầu tiên phân loại động vật trong đó có côn trùng một cách hiện đại. Lần xuất bản thứ 10 của sách “Hệ thống tự nhiên” ông đã đƣa vào cách gọi tên khoa học các loài sinh vật. Năm 1973, Sprengel (1750 – 1816) xuất bản tác phẩm nổi tiếng mô tả mối quan hệ giữa cấu tạo của hoa và quá trình thụ phấn của côn trùng. Trong cuốn sách này lần đầu tiên vai trò thụ phấn hoa của côn trùng đƣợc đề cập đến và giải thích.
Lamarck (1744- 1829) đã có những đóng góp đáng kể cho khoa học côn trùng, đặt biệt trong việc phân loại. Từ thế kỉ 20 các lĩnh vực côn trùng học thực nghiệm ra đời, trong đó có côn trùng nông và lâm nghiệp. Ngoài ra, ở Trung Quốc môn “Côn trùng lâm nghiệp” đã chính thức đƣa vào giảng dạy ở trƣờng ĐHLN từ năm 1952. Từ đó việc nghiên cứu côn trùng đƣợc đẩy mạnh.
Các tài liệu nghiên cứu về côn trùng ngày càng phong phú, không chỉ gới hạn về hệ sinh thái mà còn tập trung nhiều vào các vấn đề sinh học và bảo tồn. Ở Việt Nam, năm 1897 đoàn nghiên cứu ngƣời Pháp “Mission parie” đã điều tra côn trùng Đông Dƣơng trong đó có Việt Nam. Đến năm 1904 công bố 2 kết quả phát hiện 1020 loài côn trùng với 541 loài cánh cứng, 168 loài cánh vảy, 139 loài chuồn chuồn, 59 loài muỗi, 55 loài cánh màng, 9 loài bộ 2 cánh và 49 loài thuộc bộ khác. Từ năm 1904 – 1942 có rất nhiều công trình nghiên cứu về côn trùng nhƣ của Bou Tan (1904), Bee Nier (1906), Nguyễn Công Tiễu (1922 – 1935).
Từ sau cách mạng tháng 8/1945, xuát phát từ nhu cầu xã hội trong lĩnh vực nông lâm công tác điều tra các nghiên cứu mới đƣợc chú ý hơn và bổ sung thêm nhiều loài mới. Năm 1953 thành lập “Phòng côn trùng” thuộc Viện trồng trọt. Năm 1961 thành lập cục bảo vệ thực vật rừng. Năm 1996 thành lập hội côn trùng học Việt Nam.
Tình hình nghiên cứu côn trùng bộ cánh vảy trên thế giới Bƣớm là côn trùng thuộc bộ cánh vảy (Lepidoptera). Trên thế giới có khoảng 17. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về bƣớm nhƣ: Nhật, Trung Quốc, Anh,… không những nghiên cứu về thành phần loài mà bên cạnh đó còn nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của chúng. Năm 1997, theo New Bƣớm là nhóm động vật đa dạng và phong phú bắt gặp ở hầu hết các hệ sinh thái trên cạn.
Bƣớm gần gũi với con ngƣời và đƣợc ƣa chuộng vì có giá trị văn hóa. Nhu cầu thế giới về việc sử dụng bƣớm cho mục đích khoa học cũng nhƣ mục đích khác rất lớn. Mỗi năm có hàng triệu mẫu đƣợc thu thập và buôn bán trên toàn thế giới với mức giá cao dùng để trang trí, làm lƣu niệm, làm bộ sƣu tập…. Từ những năm 1920 – 1940 các nhà khoa học thu thập và xuất bản tài liệu về phân loại bƣớm gồm 33 tập ở Niederland.
Năm 1959, Manfred – Koch đã xuất bản “phân loại một số bƣớm ngày” Năm 1990, Wang và Emmel tìm hiểu đƣợc nguyên nhân và cách thức côn trùng di trú Năm 1994, Chu Nghiêu trong tại liệu Bƣớm ngày chí Trung Quốc. Thống kê đƣợc tai Trung Quốc có 1225 loài bƣớm ngày. Năm 2003, Finn và Colin đã xác định đƣợc có 133 loài bị đe dọa ở mức 3 toàn cầu và các taxon đặc hữu ở Philippines trong tổng số 915 loài và 910 loài phụ bƣớm đã ghi nhận ở Philipppines trƣớc đó. Năm 2000, theo Schappret để bảo tồn bƣớm cũng nhƣ các loài động thực vật khác trƣớc tiên cần giải quyết đƣợc ba vấn đề: thứ nhất cần biết vị trí phân loại của chúng, cần biết phân bố địa lý và điều kiện về sinh thái nhƣ yêu cầu về sinh cảnh, thứ 2 là sự ƣa thích sinh cảnh của loài, cuối cùng là cần biết càng nhiều càng tốt về các đặc điểm sinh học của loài.
Năm 2008, Kitahara đã khẳng định rằng Bƣớm ngày trong một khu vực tỉ lệ thuận với sự phong phú của thực vật có hoa. Nghiên cứu bƣớm ở Sulawesi của Schulze và al. chỉ ra sự đa dạng của quần xã bƣớm cao ở sinh cảnh rừng thứ sinh và sự đa dạng của quần xã này giảm mạnh ở khu đất nông lâm nghiệp và canh tác ngô. Tác giả cũng chỉ ra rằng không có sự khác nhau đáng kể về sự đa dạng giữa rừng thứ sinh lâu năm và rừng nguyên sinh nơi có thẩm thực vật gần giống nhau.
Trong số các loài bƣớm đã biết hiện nay, có nhiều loài quý hiếm đƣợc liệt kê trong danh mục đỏ IUCN cũng nhƣ có tên trong danh sách loài bị nghiêm cấm và hạn chế buôn bán vì mục đích thƣơng mại của CITES cũng đƣợc tập trung nghiên cứu. Bƣớm phƣợng (Papilionidae) là họ đặc biệt đƣợc quan tâm vì chúng đƣợc xem nhƣ ngƣời đại diện cho tính đa dạng của bƣớm. Đây là hộ có nhiều loài quý hiếm đang trong tình trạng bị đe dọa ở mức nguy cấp. Nhiều loài có kích thƣớc lớn, màu sắc đẹp, có gí trị thẩm mỹ cao hấp dẫn ngƣời sƣu tầm.
Trong 573 loài có tới 170 loài cần đƣợc bảo tồn. Tình hình nghiên cứu côn trùng bộ cánh vảy ở Việt Nam Những công trình đặt nền móng cho nghiên cứu về bƣớm nhƣ: Danh sách khu hệ bƣớm của Việt Nam của Mtaye năm 1957 với 454 loài. Công trình khảo sát về loài bƣớm do trung tâm nhiệt đới Việt – Nga tiến hành tại một số Vƣờn quốc gia và Khu bảo tồn nhƣ: VQG Ba Bể ( 1996 – 1997), VQG Ba Vì (1996), Hoàng Liên (1998 – 2000), … Năm 2000, Đặng Ngọc Anh đã thống kê đƣợc nhiều loài mới với khoảng trên 1000 loài trong đề tài “Nghiên cứu thành phần các loài bướm ngày 4 (Rhopalocera) của rừng Việt Nam làm cơ sở đề xuất biện pháp quản lý và sử dụng” của Viện điều tra quy hoạch rừng – Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Trên thực tế cho thấy, các nghiên cứu về côn trùng bộ cánh vẩy ở Việt Nam tuy nhiều nhƣng rải rác không có sự liên kết chặt chẽ. Một số nghiên cứu tập trung nhiều vào nghiên cứu thành phần loài nhƣng không chú trọng vào yếu tố tác động đến loài.
Năm 1957, Mtaye Danh đã công bố sách khu hệ bƣớm Việt Nam có 454 loài. Năm 1930 với công trình nghiên cứu côn trùng bộ cánh vẩy, J.de Joannis đã thống kê 1798 loài thuộc 746 giống và 45 họ. Hầu hết tập trung vào khảo sát thành phần loài kết hợp với những phân tích nhỏ về sinh thái học của chúng. Năm 2002, Monastyrskii nghiên cứu biến động về thành phần loài bƣớm ở một số VQG Việt Nam.
Đây là công trình nghiên cứu hiếm hoi về biến động bƣớm theo mùa ở Việt Nam. Năm 2004, Tạ Huy Thịnh và Hoàng Vũ Trụ đã so sánh độ tƣơng đồng về thành phần loài bƣớm giữa một số VQG và KBT của Việt Nam. Trong đó, yếu tố địa lý – khí hậu quyết định và độ cao là yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đến sự tƣơng đồng về thành phần loài bƣớm giữ các khu vực. Năm 2005, Vũ Văn liên có nghiên cứu phân bố Bƣớm theo đai cao cho thấy sự đa dạng và phong phú của loài Bƣớm ở đai cao thấp hơn so với đai thấp tại VQG Tam Đảo.
Năm 2006, Nguyễn và Bui đã nghiên cứu về Bƣớm của VQG Phú Quốc, Kiên Giang, Việt Nam. Năm 2008, sách hình về các loài bƣớm Việt Nam cũng đƣợc xuất bản nhƣ Bƣớm rừng Tân Phú. Năm 2009 Đặng Thị Đáp đã có những ghi nhận về cây chủ của ấu trùng bƣớm, cho thấy thêm những bằng chứng vững chắc về tính phụ thuộc của bƣớm với môi trƣờng sống của chúng, dựa trên mối liên hệ đặc biệt của bƣớm và sinh cảnh. 5 Ở núi Luốt trƣờng ĐHLN cũng có một số đề tài nghiên cứu về côn trùng nói chung và bƣớm nói riêng.