ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, thế giới đang tích cực tìm những cây bản địa, mọc nhanh, phù hợp để làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp. Ở Việt Nam đã chú trọng đến công tác trồng rừng, các chiến lƣợc phát triển Lâm Nghiệp đã tác động đến các ngành kinh tế liên quan một cách tích cực, chủ động tìm kiếm, sử dụng hợp lý nguyên liệu, cải tiến công nghệ, thiết bị… đẩy mạnh phát triển sản xuất, xuất khẩu đồ gỗ. Việc nghiên cứu và đƣa các loài cây phù hợp với điều kiện tự nhiên cho từng vùng, có năng suất cao, chất lƣợng gỗ tốt, tham gia vào quá trình điều hòa khí hậu, duy trì tính ổn định màu mỡ của đất đai, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn sói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của thiên tai, bảo tồn nguồn nƣớc mặt và nƣớc ngầm và làm giảm mức ô nhiễm không khí và nƣớc, đồng thời đẩy mạnh chiến lƣợc trồng cây phủ xanh đất trống đồi trọc duy trì tác dụng đối với đời sống con ngƣời nơi đây. Một trong những cây trồng phổ biến trên địa bàn xã Đại Sảo là cây Mỡ (Manglietia glauca Dandy), cây gỗ nhỡ, chiều cao vút ngọn có thể đạt tới 20-25m, đƣờng kính 20-35 cm, cây thƣờng xanh quanh năm, có đặc tính sinh trƣởng khá nhanh, thích hợp với các loài đất miền núi, hoặc nơi ẩm ƣớt trong thung lũng.
Phạm vi phân bố chủ yếu ở Việt Nam: Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn,Tuyên Quang, Hà Giang, Lào Cai…Gỗ mỡ màu sáng hay vàng nhạt mềm nhẹ, chủ yếu phục vụ ngƣời dân địa phƣơng đóng đồ gia dụng, làm nhà, bột giấy… Cho đến nay, cây mỡ rừng nguyên sinh không còn nữa, chỉ bắt gặp chúng ở rừng thuần loài thứ sinh phục hồi sau nƣơng rẫy. Mấy năm gần đây ở các lâm phần mỡ thuần loài xuất hiện một số loài sâu hại nguy hiểm. Một số nơi dịch thƣờng xuyên xảy ra nhƣ: Dịch Ong ăn lá mỡ (Shizocera sp), sâu non ngài độc (Perina nuda (Fabricius, 1787)), sâu róm 7 túm lông (Orgyia leucostigma (Smith, 1797)), bọ cánh cứng ăn lá. Ong ăn lá mỡ đã phát dịch ở nhiều nơi trong địa bàn tỉnh Bắc Kạn, Phú Thọ,Yên Bái, Nghệ An, Hà Tĩnh.gây tổn thất lớn 1 cho rừng trồng.Theo nghiên cứu mới nhất đây Ong ăn lá mỡ (Shizocera sp.) đã gây dịch hại kéo dài từ tháng 3 đến tháng 9 hàng năm.
Năm 1967, ong đã phát dịch ở các rừng mỡ thuộc lâm trƣờng Đồi Giòng - Phú Thọ. Năm 1968, ong lại phát dịch ở các rừng mỡ thuộc lâm trƣờng Cầu Hai - Phú Thọ, lâm trƣờng Sông Hồng - Yên Bái và lâm trƣờng Hƣơng Sơn - Hà Tĩnh. Nó đã ăn trụi hàng trăm hecta rừng mỡ. Năm 2012 xuất hiện trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn chƣa đáng kể, đến năm 2014 phát thành dịch phá hoại hơn 300ha rừng mỡ tại các huyện Chợ Đồn, Bạch Thông, Pác Nặm, Chợ Mới, thành phố Bắc Kạn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhƣng dịch Ong ăn lá mỡ vẫn thƣờng xuyên xảy ra. Vì vậy đề tài “Nghiên cứu đề xuất biện pháp phòng chống sâu hại mỡ tại xã Đại Sảo huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn” đã đƣợc thực hiện. 2 PHẦN I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát tình hình nghiên cứu côn trùng trên thế giới Ngay khi loài ngƣời xuất hiện, đặc biệt là từ lúc con ngƣời bắt đầu biết trồng trọt và chăn nuôi, họ đã thấy đƣợc sự phá hoại nhiều mặt của côn trùng.
Do đó con ngƣời phải bắt tay vào tìm hiểu nghiên cứu về côn trùng. Ba ngàn năm trƣớc công nguyên, ở Trung Quốc đã bắt đầu nghề nuôi tằm. Trong các tác phẩm nghiên cứu của nhà triết học cổ Hy Lạp Aristoteles (384 – 322 TCN) đã hệ thống hóa đƣợc hơn 60 loài côn trùng. Ông đã gọi tất cả các loài côn trùng ấy là những loài chân có đốt.
Vào thế kỉ 18 đã có nhiều học giả và công trình nghiên cứu về côn trùng học. Năm 1735, Carl Linne (1707-1778) xuất bản cuốn sách nổi tiếng „„Systema naturae‟‟ đề cập đến 3 lĩnh vực quan trọng của tự nhiên là khoáng vật, động vật và thực vật. Ông là ngƣời đầu tiên phân loại động vật, trong đó có côn trùng một cách hiện đại. Lần xuất bản thứ 10 của sách „„Hệ thống tự nhiên‟‟ ông đã đƣa ra cách gọi tên khoa học các loài sinh vật.
Lamarck (1744-1829) đã có đóng góp đáng kể cho khoa học về côn trùng, đặc biệt trên lĩnh vực phân loại. Cuối thế kỉ 18. Pallas (Viện sĩ ngƣời Nga) đã nghiên cứu về thành phần loài côn trùng. Cuối thế kỉ 19, cùng với sự phát triển ngành khoa học khác, côn trùng đã trở thành một môn khoa học.
Có rất nhiều ngƣời chuyên sâu về côn trùng học và hàng loạt các „„Hội côn trùng‟‟ đƣợc thành lập ở các nƣớc, nhƣ ở Pháp (năm 1832), Anh (1833), Nga (1859)…các hội côn trùng giữ vai trò chỉ đạo phát triển côn trùng học mỗi nƣớc. Về phân loại năm 1910 – 1940 Volka và Sonkling đã xuất bản một tài liệu về côn trùng thuộc Bộ Cánh Cứng (Coleoptera) gồm 240.000 loài in trong 31 tập. Trong đó đã đề cập đến hành nghìn loài thuộc bọ lá Chrysomelidae. 3 Năm 1950, Viện Hàn Lâm Khoa học Liên Xô đã xuất bản tập “ Phân loại côn trùng ở các dải rừng phòng hộ’’ của các tác giả L.Ap non di và G.
Năm 1959 Trƣơng Chấp Trung đã cho ra đời cuốn “Sâm lâm côn trùng học’’ liên tiếp từ năm 1965 giáo trình “Sâm lâm côn trùng học” đƣợc viết lại nhiều lần. Trong các tác phẩm đó đã giới thiệu hình thái, tập tính sinh hoạt và các biện pháp phòng trừ nhiều loài bọ lá phá hoại nhiều loại cây rừng trong đó có các loài: Ambrostoma quadriimpressum Motsh ; Gazercella aenescens Fairemaire ; Gazercella maculli colis Motsh ; Chrysomela populi Linnaeus ; Chrysomela zutea Oliver; Chrysomera adamsi ornaticollis Chen; Plagiodera vesicolora Laichart; Gaszrolina thoracica Boly; Chitea mellica Chen. Năm 1958, các nhà côn trùng Trung Quốc đã nghiên cứu về đặc tính sinh vật học, sinh thái học của các loài sâu hại rừng. Năm 1959 đã cho ra đời cuốn “Sâm lâm côn trùng và biện pháp phòng trừ các loài sâu hại rừng’’ Năm 1965, Viện Hàn Lâm Khoa học Liên Xô cho ra đời cuốn “Phân loại côn trùng thuộc bộ cách cứng phần Châu Âu thuộc Liên Xô’’ Năm 1970 Donald.Boro và Riciard.White đã xuất bản “Sổ tay về lĩnh vực côn trùng”ở Bắc Mỹ, trong đó đề cập đến phân loại sâu hại và sâu có ích.
Năm 1978, sở nghiên cứu động vật và trƣờng đại học Nông Nghiệp Triết Giang đã xuất bản cuốn “Hình vẽ côn trùng thiên địch” trong đó có đề cập đến đặc điểm sinh học của côn trùng ăn thịt. Năm 1987 Thái Bang Hoa và Cao Thu Lâm đã xuất bản cuốn “Côn trùng rừng Vân Nam’’ đã xây dựng một bảng tra của ba họ phụ của Họ Bọ lá (Chrysomelidae) cụ thể họ phụ Chrysomelinea đã giới thiệu 35 loài, họ phụ Alticinae đã giới thiệu 39 loài và họ phụ Galirucinae đã giới thiệu 93 loài. Những tài liệu nghiên cứu côn trùng trên thế giới ngày càng phong phú, các công trình nghiên cứu không chỉ giới hạn về hệ sinh thái mà còn tập trung nhiều các vấn đề sinh học và bảo tồn. Khái quát tình hình nghiên cứu về côn trùng ở Việt Nam Trƣớc năm 1954 nói chung các công trình nghiên cứu về côn trùng còn rất ít.
Năm 1879 đoàn nghiên cứu tổng hợp ngƣời Pháp tên là „„Mission Parie‟‟ đã điều tra côn trùng Đông Dƣơng trong đó có Việt Nam, đến năm 1904 kết quả đã đƣợc công bố. Về côn trùng đã phát hiện 1020 loài côn trùng trong đó có 541 loài bộ cánh cứng, 168 loài bộ cánh vẩy, 139 loài chuồn chuồn, 59 loài muỗi, 55 loài cánh màng, 9 loài bộ 2 cánh và 49 loài thuộc bộ khác nhau. Từ năm 1904 đến năm 1942 có rất nhiều công trình nghiên cứu về côn trùng ra đời nhƣ Nguyễn Công Tiễu (1922-1935). Các cuốn sách giáo trình đƣợc ra đời nhƣ: - Năm 1976, xuất bản giáo trình “ Côn trùng lâm nghiệp” của Phạm Ngọc Anh.
- Năm 1993, xuất bản bài giảng “ Kỹ thuật phòng trừ các loài sâu hại rừng‟‟ - Năm 1997, xuất bản giáo trình “Ccôn trùng rừng‟‟. - Năm 1998,Trân Công Loanh đã giới thiệu trong thông tin khoa học của trƣờng Đại Học Lâm Nghiệp số 2/1998. Kết quả nghiên cứu về loài sâu gập mép này thuộc giống Coleophora, họ Ngài bao (Coleophoridae),bộ Cánh vẩy (Lepidoptera). Năm 1998, Trung tâm kỹ thuật bảo vệ rừng số 1 Quảng Ninh đã giới thiệu kết quả nghiên cứu sơ bộ về một số đặc điểm hình thái về tập tính hoạt của 3 loài sâu hại sau: Loài “sâu đo‟‟ hại Keo tai tƣợng, Bọ ăn lá Keo tai tƣợng (Ambrostoma quadrimpressum Most), Ngài túi nhỏ ăn lá Keo tai tƣợng (Acanthopsyche sp.) Năm 2001, trong cuốn “ Điều tra dự tính dự báo sâu bệnh trong lâm nghiệp” các tác giả Trân Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão đã đƣa ra các phƣơng pháp đánh giá và dự tính dự báo khả năng phát dịch của sâu, bệnh hại rừng dự vào đặc điểm sinh học của mỗi loài.
Phòng trừ sâu bệnh hại là một bộ phận quan trọng của công tác bảo vệ thực vật nhằm: Ngăn chặn thiệt hại do sâu bệnh gây ra. Cải tạo trạng thái vệ 5 sinh, góp phần củng cố thế bền vững của hệ sinh thái, góp phần tăng năng suất chất lƣợng sản phẩm, tăng hiệu quả kinh doanh, phát triển bền vững. Có rất nhiều biện pháp phòng trừ sâu hại nhƣ: phƣơng pháp kiểm dịch thực vật, phƣơng pháp canh tác, phƣơng pháp giới thiệu vật lý, phƣơng pháp sinh học, phƣơng pháp hóa học và phƣơng pháp phòng trừ tổng hợp IPM. Do đặc điểm của ngành Lâm Nghiệp là: Đối tƣợng bảo vệ nhƣ rừng, cây ăn quả, cây công nghiệp.
có kích thƣớc, đặc biệt là chiều cao lớn, diện tích cần tác động lớn, địa hình phức tạp, chu kỳ kinh doanh dài khiến trong rừng, trong vƣờn ƣơm có nhiều tàn dƣ thực vật là nơi ẩn náu của nhiều loài sâu hại nhƣ: Sâu đo, sâu róm, bọ hung. Chu kỳ canh tác dài, cơ sở hạ tầng kém phát triển nên rất khó cho công tác phòng trừ sâu hại. Vì vậy tùy vào đặc điểm sinh học và sinh thái của loài sâu hại, đặc điểm của đối tƣợng cần bảo vệ, địa hình khu vực, kinh nghiệm phòng trừ sâu hại, điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội mà phƣơng pháp phòng trừ sâu bệnh hại thích hợp. Vì vậy khi rừng trồng ngày càng đƣợc mở rộng thì việc nghiên cứu để có những dự tính, dự báo sớm về loài sâu hại này nói riêng và các loài sâu hại mới khác nói chung là vấn đề cần đƣợc các nhà nghiên cứu quan tâm hơn nữa.