Luận văn thạc sĩ: Đê chắn sóng BTCT buồng tiêu sóng khu neo đậu Đảo Phú Quý

Nghiên cứu chuyên sâu về đê chắn sóng BTCT buồng tiêu sóng nhằm bảo vệ đảo Phú Quý khỏi tác động của sóng biển. Phân tích hiệu quả và ứng dụng thực tiễn của

Trường đại học

Đại học Thủy lợi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật

2016

136
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu đê chắn sóng BTCT buồng tiêu sóng tại đảo Phú Quý

Đảo Phú Quý thuộc tỉnh Bình Thuận là vùng hải đảo có điều kiện tự nhiên phức tạp. Khu vực này thường xuyên chịu tác động của sóng lớn, gió mùa và bão. Việc xây dựng khu neo đậu trú bão tàu thuyền là nhu cầu cấp thiết. Đê chắn sóng bê tông cốt thép có buồng tiêu sóng là giải pháp kỹ thuật mới. Phương pháp này sử dụng thùng chìm BTCT được chia thành nhiều khoang. Các khoang có chức năng tiêu giảm năng lượng sóng khi nước biển tràn qua. Nghiên cứu tập trung vào khả năng ứng dụng tại đảo Phú Quý. Công trình nhằm bảo vệ vùng nước neo đậu tàu thuyền bên trong. Chiều cao sóng trong khu neo đậu cần giới hạn dưới 0,5 mét. Tốc độ dòng chảy không được vượt quá 2 mét trên giây. Giải pháp này phù hợp với điều kiện địa hình và địa chất đáy biển tại đảo.

1.1. Điều kiện tự nhiên đảo Phú Quý và nhu cầu xây dựng công trình biển

Đảo Phú Quý nằm cách bờ biển Bình Thuận khoảng 120 km. Đảo có diện tích nhỏ, địa hình chủ yếu là đồi núi. Điều kiện khí tượng thủy hải văn phức tạp với sóng gió mạnh. Mùa mưa bão từ tháng 6 đến tháng 11 gây ảnh hưởng lớn. Tàu thuyền đánh cá của ngư dân cần nơi tránh trú an toàn. Khu neo đậu phải đảm bảo vùng nước lặng sóng, kín gió. Độ sâu vùng nước neo đậu tối thiểu từ 1,1 đến 1,5 lần mớn nước tàu lớn nhất. Diện tích khu nước phải đủ rộng cho tàu quay trở và ra vào. Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương quy hoạch cảng cá và khu neo đậu vùng hải đảo.

1.2. Giới thiệu công nghệ thùng chìm BTCT có buồng tiêu sóng

Thùng chìm BTCT là cấu kiện bê tông cốt thép dạng hộp kín. Thùng được chế tạo sẵn trên bờ, sau đó lai dắt ra vị trí công trình. Thùng được đánh chìm xuống đáy biển để tạo thành đê chắn sóng. Buồng tiêu sóng là các khoang bên trong thùng, có lỗ thông nước. Khi sóng biển tràn qua đê, nước đi vào các buồng tiêu sóng. Năng lượng sóng bị tiêu giảm dần qua từng khoang. Mô men quán tính của nước trong khoang độc lập nhỏ hơn 8 lần so với khoang thông nhau. Công nghệ này giúp giảm chiều cao sóng truyền qua đê hiệu quả. Cấu kiện có tính bền vững cao trong môi trường nước mặn.

II. Phân tích vấn đề xây dựng đê chắn sóng tại đảo Phú Quý

Xây dựng đê chắn sóng tại đảo Phú Qing gặp nhiều thách thức kỹ thuật. Vùng hải đảo có điều kiện thi công hạn chế về thiết bị và nhân lực. Vận chuyển vật liệu từ đất liền ra đảo tốn kém thời gian và chi phí. Sóng lớn và dòng chảy mạnh ảnh hưởng đến quá trình thi công. Địa chất đáy biển tại đảo Phú Quý có đặc điểm riêng biệt. Cần đánh giá khả năng chịu tải của nền đáy cho công trình. Quá trình lai dắt thùng chìm ra vị trí phải đảm bảo ổn định nổi. Sức ỳ của thùng xuất hiện khi bắt đầu chuyển động. Tải trọng sóng và dòng chảy tác động lên thùng trong quá trình kéo. Vấn đề ổn định của thùng sau khi đánh chìm cần được tính toán kỹ. Chiều dài đê chắn sóng phải phù hợp với diện tích vùng neo đậu. Đường kính vùng nước quay tàu phải đạt 3 lần chiều dài tàu.

2.1. Thách thức kỹ thuật trong điều kiện vùng hải đảo

Điều kiện thi công tại đảo Phú Quý hạn chế về nhiều mặt. Thiết bị thi công lớn khó vận chuyển ra đảo. Khoảng cách 120 km từ đất liền gây khó khăn cho logistics. Thời tiết bất lợi hạn chế ngày thi công hiệu quả. Nước trong thùng và bên ngoài có tỷ trọng khác nhau ảnh hưởng đến ổn định. Công tác khảo sát địa chất đáy biển cần được thực hiện kỹ lưỡng. Vị trí đặt công trình phải đảm bảo tương đối lặng sóng, kín gió. Cần che chắn tối thiểu 3 phía bằng địa hình hoặc công trình chắn sóng.

2.2. Đánh giá tải trọng và điều kiện ổn định công trình

Tải trọng tác động lên thùng chìm gồm nhiều thành phần. Sức ỳ của thùng xuất hiện ở thời điểm bắt đầu chuyển động. Lực này phụ thuộc vào khối lượng và gia tốc ban đầu. Sóng và dòng chảy tạo lực ngang lên thân thùng. Ổn định nổi cần được kiểm tra trong giai đoạn lai dắt. Thùng phải có đủ sức nổi và ổn định khi kéo trên mặt nước. Sau khi đánh chìm, thùng cần neo giữ cố định tại vị trí. Tải trọng sóng thiết kế phải dựa trên số liệu khí tượng thủy văn dài hạn. Phương pháp đánh chìm phải được tính toán cẩn thận.

III. Giải pháp sử dụng thùng chìm BTCT có buồng tiêu sóng xây dựng đê

Giải pháp sử dụng thùng chìm BTCT có buồng tiêu sóng mang lại nhiều ưu điểm. Thùng được thiết kế với nhiều khoang độc lập bên trong. Các khoang có lỗ thông nước để tạo hiệu ứng tiêu sóng. Khi sóng tràn qua đỉnh đê, nước đi vào buồng tiêu sóng đầu tiên. Năng lượng sóng bị giảm dần qua từng khoang liên tiếp. Chiều cao sóng giảm đáng kể sau khi đi qua hệ thống buồng. Thùng chìm BTCT có thể chế tạo tại các xưởng trên đảo hoặc đất liền. Kích thước thùng phù hợp với điều kiện vận chuyển và thi công. Quá trình lắp đặt gồm các bước: chế tạo, lai dắt, định vị và đánh chìm. Sau khi đánh chìm, các thùng được liên kết tạo thành tuyến đê liên tục. Giải pháp này giảm chi phí thi công so với phương pháp đổ bê tông tại chỗ. Cấu kiện BTCT có tuổi thọ cao trong môi trường nước mặn.

3.1. Nguyên lý hoạt động của buồng tiêu sóng

Buồng tiêu sóng hoạt động dựa trên nguyên lý tiêu hao năng lượng. Nước biển tràn qua đỉnh đê đi vào khoang thứ nhất. Dòng nước va chạm với vách ngăn và mất đi một phần động năng. Nước tiếp tục chảy sang khoang thứ hai qua lỗ thông. Mỗi lần đi qua lỗ thông, tốc độ dòng giảm và năng lượng tiêu hao. Mô men quán tính nước trong khoang độc lập nhỏ hơn nhiều. So với khoang thông nhau, hiệu quả tiêu sóng tăng lên rõ rệt. Thiết kế lỗ thông hợp lý quyết định hiệu suất tiêu sóng. Vị trí và kích thước lỗ thông cần được tối ưu hóa qua tính toán.

3.2. Quy trình thiết kế và thi công thùng chìm BTCT

Quy trình thiết kế bắt đầu từ khảo sát điều kiện tự nhiên. Xác định tải trọng sóng, gió và dòng chảy tại vị trí công trình. Thiết kế kích thước thùng, số lượng khoang và vị trí lỗ thông. Tính toán ổn định nổi trong giai đoạn lai dắt và đánh chìm. Giai đoạn thi công gồm chế tạo thùng trên bờ hoặc phao nổi. Vận chuyển thùng ra vị trí bằng tàu kéo chuyên dụng. Định vị chính xác theo thiết kế và bơm nước đánh chìm. Liên kết các thùng thành tuyến đê chắn sóng hoàn chỉnh. Kiểm tra chất lượng và nghiệm thu công trình.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu đê chắn sóng tại Phú Quý

Nghiên cứu đã chứng minh tính khả thi của giải pháp thùng chìm BTCT có buồng tiêu sóng. Công trình áp dụng tại đảo Phú Quý đạt yêu cầu kỹ thuật về chắn sóng. Chiều cao sóng trong khu neo đậu giảm xuống dưới ngưỡng cho phép. Vùng nước neo đậu đạt điều kiện lặng sóng, kín gió cho tàu thuyền. Giải pháp này phù hợp với điều kiện thi công tại vùng hải đảo. Chi phí đầu tư hợp lý hơn so với các phương án truyền thống. Thời gian thi công được rút ngắn nhờ sử dụng cấu kiện đúc sẵn. Tuổi thọ công trình đảm bảo lâu dài trong môi trường biển. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho các đảo khác tại Việt Nam. Đóng góp vào việc phát triển hạ tầng nghề cá và bảo vệ chủ quyền biển đảo. Nghiên cứu mở ra hướng tiếp cận mới trong xây dựng công trình biển.

4.1. Kết quả đạt được và ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu cho thấy thùng chìm BTCT có buồng tiêu sóng hiệu quả. Chiều cao sóng giảm từ 1,5 mét xuống dưới 0,5 mét sau khi qua đê. Vùng nước neo đậu bên trong đê đạt điều kiện an toàn. Công trình chịu được tải trọng sóng gió trong điều kiện thực tế. Ý nghĩa khoa học nằm ở việc áp dụng nguyên lý tiêu sóng mới. Phương pháp tính toán ổn định nổi được hoàn thiện. Kết quả đóng góp vào khoa học xây dựng công trình thủy. Nghiên cứu cung cấp cơ sở lý luận cho các công trình tương tự.

4.2. Khả năng ứng dụng và hướng phát triển

Giải pháp có thể áp dụng cho các khu neo đậu trú bão khác. Các đảo như Trường Sa, Hoàng Sa phù hợp với công nghệ này. Ngư dân và tàu thuyền được bảo vệ tốt hơn trong mùa bão. Hướng phát triển gồm tối ưu hóa thiết kế buồng tiêu sóng. Nghi cứu vật liệu mới tăng độ bền và giảm chi phí. Ứng dụng công nghệ mô phỏng số để nâng cao hiệu quả thiết kế. Mở rộng quy mô áp dụng cho các cảng cá vùng ven biển. Đào tạo nhân lực kỹ thuật chuyên ngành xây dựng công trình biển.

19/04/2026
Luận văn thạc sĩ file word nghiên cứu sử dụng thùng chìm bê tông cốt thép có buồng tiêu sóng xây dựng đê chắn sóng khu neo đậu trú bão tàu thuyền vùng hải đảo áp dụng cho công trình tại đảo phú quý bình thuận

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TIỀM NĂNG XÂY DỰNG KHU NEO ĐẬU TRÚ BÃO TẦU THUYỀN (NĐTBTT) VÙNG HẢI ĐẢO VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA NHÀ NƯỚC 1. Điều kiện tự nhiên khu vực hải đảo. Điều kiện địa hình Khu vực tập trung nhiều đảo ở vùng biển nước ta từ Quảng Ninh tới Quảng Bình và từ Bình Thuận tới Cà Mau. Các quần đảo có nhiều đảo như Hoàng Sa (gần 40 hòn đảo), Trường Sa (khoảng 150 hòn đảo).

Các đảo tạo nên tuyến tiền tiêu bảo vệ vùng trời, vùng biển của Tổ quốc, ngoài ra nhiều đảo có tiềm năng về du lịch, các khu bảo tồn và xây dựng khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão kết hợp với dịch vụ hậu cần nghề cá. Địa hình khu vực hải đảo thường có mức độ phân cắt tương đối lớn. Cao độ biến đổi tăng dần từ vị trí tiếp giáp mép nước đến trung tâm các đảo. Trên các đảo có rừng cây và thảm thực vật dày bao phủ.

Trong khu vực quần đảo, một số đảo được che chắn tương đối tốt hình thành các vũng vịnh, giảm thiểu được tác động của sóng gió khi có dông bão, đây là những điều kiện phù hợp để xây dựng khu neo đậu tàu thuyền. Các đảo có điều kiện địa hình thuận lợi xây dựng loại công trình này như: Vân Đồn, Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Cồn Cỏ, Lý Sơn, Đá Tây, Phú Quý, Hòn Tre, Hòn Khoai….1: Địa hình được che chắn trên quần đảo Nam Du 1. Điều kiện địa chất Các quần đảo nước ta được chia thành hệ thống đảo ven bờ và các đảo, quần đảo khơi xa. Hệ thống đảo ven bờ nằm trên thềm lục địa, là phần tiếp tục của các cấu trúc địa chất trên bờ, có đặc điểm đa dạng địa chất cao.000 hòn đảo quy mô khác nhau, các đảo ven bờ phân bố suốt từ tây vịnh Bắc Bộ đến bờ đông vịnh Thái Lan, chủ yếu tập trung ở các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Kiên Giang.

Các đảo có cấu tạo bởi 3 đa dạng các thành phần thạch học, từ đá biến chất, trầm tích đến các loại đá magma xâm nhập, phun trào và cả đá bazan, trầm tích bở rời. Điều này đã tạo nên những kỳ quan địa mạo- địa chất quan trọng có giá trị quốc gia và thế giới.1: Một số dạng địa chất đảo ở Việt Nam [15][Lê Đức An, Trần Đức Hạnh] STT Kh u vực Dạng địa chất Tên đảo 1 Đảo karst Cát Bà- Long Châu 2 Đảo núi lửa N-Q Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quý, 3 Đảo magma Côn Cù Lao Chàm, Hòn Khoai Dải biển nông Sơn, 4 ven bờ Đảo Trầm tích Cô Bạch Long Vĩ, Hòn Dấu, Tô, Phú Quốc, Thổ Chu 5 Đào có bờ đảo mài Cù Lao Chàm, Phú Quốc, Vĩnh mòn Thực 6 Đảo san hô (40 Các đảo trong quần đảo Hoàng Sa đảo) và Trường Sa: Hoàng Sa, Song Tử Tây, Nam Yết, Trường sa…. 7 Vùng biển khơi Đảo bazan Hòn Tháp (Hoàng Sa) xa 8 Rạn san hô vòng Phú Lâm, Hoàng Sa, Song Tử, An (47 đảo) Lão- Loại Ta, Nam Yết-Sơn Ca, Thám Hiểm…. 9 Rạn san hô mặt bản Tri Tôn, Bến Lạc, Trường Sa Đông, (14 đảo) An Bang… 1.

Điều kiện khí tượng, thủy hải văn 1. Đặc điểm về sóng gió [10] a. Vùng 1 (từ Quảng Ninh tới Ninh Bình) Chế độ gió Điều kiện tự nhiên đã phân chia vùng này thành hai khu vực với những đặc điểm tự nhiên và khí tượng hải văn khác nhau đáng kể. Gió ở bên trong vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long không mạnh cả về mùa đông lẫn mùa hè.

Tốc độ gió trung bình ở khu vực Cửa Ông, Hồng Gai chỉ khoảng 3.0m/s, trong khi đó ở vùng biển thoáng có ít đảo che chắn từ Cô Tô đến vùng biển Hải Phòng, Thái Bình có tốc độ gió trung bình vào khoảng 4. Mùa gió đông bắc, vùng ngoài khơi gió có hướng đông bắc chiếm tần suất tới 80%, còn lại là gió hướng đông và hướng bắc chiếm xấp xỉ 20% (tại trạm Cô Tô). Vùng gần 4 bờ hướng gió phân tán gần đều cho cả 3 hướng, đó là hướng bắc, đông bắc và đông 5 với tổng tần suất trên 90%, còn lại các hướng khác có tần suất không đáng kể. Trong mùa đông tốc độ gió từ cấp 5 trở lên (>8m/s) chiếm tần suất khá lớn, từ 20-25%.

Về mùa gió tây nam, đối với cả vùng ven bờ và ngoài khơi, hướng gió chiếm ưu thế là hướng nam với tần suất khoảng 40%, sau đó là hướng tây nam và đông nam có tần suất gần bằng nhau và bằng khoảng 20-25%. Trong mùa gió tây nam tốc độ gió từ cấp 5 trở lên ( >8m/s) cũng chiếm tần suất khá lớn, nằm trong khoảng từ 15-20%. Chế độ sóng Ở vùng 1 nhìn chung sóng không lớn. Đặc biệt vùng ven bờ Quảng Ninh, Hải Phòng với nhiều đảo che chắc thì sóng nhỏ quanh năm.

Vùng ngoài khơi sóng đáng kể hơn. Sóng trung bình có độ cao khoảng 0,6 – 0,7m tương ứng tại Hòn Dấu và Cô Tô. Sóng lớn nhất quan sát được ở Cô Tô là 7,0m, ở Hòn Dấu là 5,6m [8]. Cần nhấn mạnh rằng, những sóng lớn nhất vừa nêu trên quan sát vào những tháng mùa hè do bão gây nên.

Các tháng mùa đông, gió mùa đông bắc thường tạo ra sóng lớn ở vùng này, có độ cao khoảng 2,8 – 3,0m. Về mùa đông, sóng thịnh hành trong vùng có sự phân hoá rõ rệt : ở phía bắc, vùng quần đảo Cô Tô, sóng có hướng đông bắc chiếm ưu thế với tần suất khoảng 35%, trong khi đó ở vùng biển Hải Phòng, Thái Bình, sóng hướng đông chiếm ưu thế với tần suất vào khoảng 25 - 27%. Sự khác biệt của chế độ sóng giữa hai khu vực của vùng xem xét có thể lý giải là: vùng Cô Tô nằm khá xa bờ, xung quanh đảo là vùng nước sâu, còn khu vực Hòn Dấu là vùng biển ven bờ, sóng từ vùng sâu truyền vào đã trải qua quá trình khúc xạ do ảnh hưởng của địa hình đáy. Về mùa hè, đặc điểm chế độ sóng có nhiều nét tương đồng trong trong cả vùng.

Từ Cô Tô đến Hòn Dấu, sóng có hướng đông nam và nam chiếm ưu thế. với tần suất khoảng 30 - 32% ở khu vực xung quanh Cô Tô và xấp xỉ 40% ở khu vực Hòn Dấu. Ngoài ra, về mùa hè còn quan sát thấy sóng hướng tây nam nhưng có tần suất nhỏ, dưới 10%. ở khu vực Cô Tô, thời kỳ lặng sóng về mùa hè chiếm khoảng 31 - 32%, trong khi đó ở Hòn Dấu tần suất thời kỳ lặng sóng chỉ vào khoảng 12 - 13%.

Vùng 2 (Thanh Hoá tới Hà Tĩnh) Chế độ gió 6 Về mùa đông, ở ven biển vùng 2 chế độ gió có phần khác với chế độ gió ở vùng 1. Ở vùng 1 về mùa đông hướng gió thịnh hành là hướng đông bắc thì ở vùng 2 hướng gió thịnh hành là hướng bắc chiếm tần suất tới 70% (tại trạm Hòn Ngư). Sau đó là gió hướng tây bắc và đông bắc có tần suất mỗi hướng khoảng 10%. Các hướng khác đều tồn tại với tần suất nhỏ.

Tốc độ gió lớn nhất trong mùa đông là cấp 6 cấp 7 có tần suất xấp xỉ 3%. Về mùa hè hướng gió thịnh hành theo 3 hướng, đó là: hướng tây nam, hướng nam và hướng đông nam. Trong đó hướng tây nam có tần suất trội hơn cả với tần suất khoảng 35%, sau đó là hướng nam có tần suất khoảng 25% và hướng đông nam có tần suất xấp xỉ 20%. Các hướng khác đều tồn tại với tần suất từ 5-7%.

Tốc độ gió lớn nhất trong mùa gió tây nam cũng cấp 6, cấp 7 nhưng có tần suất nhỏ hơn trong mùa gió đông bắc và chỉ xấp xỉ 1%. Như vậy vùng 2 nằm trong đới hoạt động khá mạnh của gió mùa đông bắc và gió mùa tây nam. Nhìn chung trong toàn vùng chế độ gió không có sự khác biệt nhiều giữa nơi này và nơi khác. Chế độ sóng Nhìn chung, trong các vùng biển chế độ sóng phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ gió ở vùng đó, do vậy chế độ sóng cũng có mùa rõ rệt.

Mùa đông, ở vùng biển thuộc 3 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh sóng có hướng đông bắc chiếm ưu thế và có tần suất khoảng 45%. Sau đó là các sóng hướng bắc và đông cũng thường xuất hiện vào mùa đông. Cả hai hướng sóng vừa nêu trên có tổng tần suất chiếm xấp xỉ 35%. Mùa đông cũng có sóng hướng đông nam và tây bắc nhưng tần suất nhỏ chỉ chiếm khoảng 5 - 7%.

Thời gian lặng sóng ở mùa đông có tần suất khoảng 15%. Về mùa đông sóng có độ cao từ 1.0m có tần suất chiếm khoảng trên dưới 10%.0m có tần suất nhỏ. Sóng có độ cao dưới 1m chiếm ưu thế trong cả vùng. Mùa hè, ở dải ven bờ vùng 2, sóng có hướng đông nam và tây nam chiếm ưu thế.

Tổng tần suất của cả 2 hướng này chiếm khoảng 60 - 65%. Sóng có hướng đông, và đông bắc có tần suất nhỏ và xấp xỉ bằng nhau (5 - 6%). Sóng các hướng khác cũng 7 đều tồn 8 tại trong mùa hè nhưng có tần suất nhỏ. Cần nhấn mạnh rằng, thời gian lặng sóng về mùa hè có tần suất khá lớn, xấp xỉ 22%.

ở vùng ven bờ về mùa hè, sóng có độ cao trên dưới 1m chiếm ưu thế. Vùng 3 (từ Quảng Bình tới Quảng Nam) Chế độ gió Về mùa đông, Gió ở ven bờ vùng 3 có hướng tây bắc chiếm ưu thế hơn hẳn với tần suất khoảng 45%, tổng tần suất của cả hai hướng bắc và đông bắc chỉ chiếm khoảng 20%, hướng đông và đông nam có tần suất nhỏ hơn, các hướng khác có tần suất nhỏ không đáng kể. Trong khi đó ở ngoài khơi tại trạm Cồn Cỏ gió thịnh hành tồn tại ở cả 3 hướng, đó là tây bắc, hướng bắc và hướng đông. Tuy nhiên hướng tây bắc vẫn có ưu thế trội hơn với tần suất khoảng 32%, còn hướng bắc và đông có tần suất mỗi hướng khoảng trên dưới 20%.

hướng đông bắc có tần suất khoảng 10%. Gió hướng đông nam cũng tồn tại với tần xuất khoảng 10% nhưng có tốc độ gió nhỏ, chỉ cấp II cấp III. Các hướng khác có tần suất nhỏ không đáng kể. Cần nhấn mạnh rằng về mùa này, tại Cồn Cỏ tần suất lặng gió rất nhỏ, chỉ chiếm xấp xỉ 13%, trong khi đó ở ven bờ tại trạm Đồng Hới tần suất lạng gió chiếm tới 30,5%.

Về mùa hè tại vùng này, kể cả gần bờ lẫn ngoài khơi gió có hướng tây nam chiếm ưu thế hơn hẳn, chiếm 45% ở trạm ven bờ và 55% ở trạm ngoài khơi. Nhưng tốc độ gió cực đại lại tồn tại ở hướng nam và đông nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ