Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu về dạy học trên cơ sở vấn đề 1. Các nghiên cứu trên thế giới Một trong những mục tiêu quan trọng của quá trình DH là bồi dưỡng NL cho người học, vì NL đóng vai trò quan trọng trong đời sống sinh hoạt và làm việc của mỗi người, nên cần phải hình thành cho HS trong quá trình học. Đáp ứng mục tiêu này, các nền GD tiên tiến hiện nay đã và đang tích cực chuyển từ GD và DH định hướng nội dung kiến thức sang DH bồi dưỡng NL cho người học.
DH nhằm bồi dưỡng NL đã trở thành một chủ đề nóng trong GD ngày nay và nó đã và đang trở thành xu hướng GD quốc tế. Những lợi ích của DH nhằm bồi dưỡng NL đã được các nhà hoạch định chính sách và những người có ảnh hưởng trong GD trên thế giới công nhận. Ở các nước có nền GD tiên tiến bậc nhất trên thế giới, bồi dưỡng NL cho người học được đặc biệt chú trọng. GD lấy người học làm trung tâm, giúp người liệu rẻ học phát triển được sự hiểu biết linh hoạt và có kĩ năng học tập suốt đời.
Các nhà GD đề cao các PPDH tích cực, trong đó có dạy học trên cơ sở vấn đề (Problem Based Learning - Viết tắt là PBL). PBL được tiên phong tại trường y của Đại học McMaster ở Hamilton vào những năm 1960 [50]. Sau đó, PBL được phát triển và sau đó mở rộng sang các lĩnh vực đào tạo khác như khoa học sức khỏe, toán, luật, giáo dục, kinh tế, kinh doanh, nghiên cứu xã hội và kỹ thuật [128]. Như vậy, PBL không hẳn là mới đối với nền GD của các nước phát triển.
Ở Việt Nam, PBL xuất hiện với các thuật ngữ khác nhau như Dạy học trên cơ sở vấn đề; Dạy học dựa trên vấn đề; Dạy học theo vấn đề,. PBL với ưu điểm nổi bật là gắn kết các kiến thức lí thuyết với thực tiễn, giữa bài học và đời sống xã hội, PBL tạo cơ hội hình thành và rèn luyện kĩ năng phân tích, giải quyết những vấn đề thực tiễn, kể cả kĩ năng sống ở người học, đáp ứng nhiệm vụ của GD vì sự phát triển bền vững. PBL góp phần tạo nên các thế hệ trẻ có đầy đủ kiến thức, kĩ năng và hành vi phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước và của địa phương. Do vậy, nghiên cứu tìm tòi cách thức đưa PBL vào DH trong nhà trường phổ thông là cách tiếp cận hiệu quả để đạt mục tiêu thực hiện nhiệm vụ đào tạo các công dân thế kỉ 21 [49].
Một trong những mục tiêu quan trọng nữa của PBL là phát triển các kĩ năng tự định hướng. Theo Loyens, Magda & Rikers [91] kĩ năng tự định hướng được định nghĩa là một quá trình mà trong đó các cá nhân chủ động xác định các nhu cầu học tập, xây 8 dựng mục tiêu, xác định nguồn nhân lực và vật chất, lựa chọn và thực hiện các chiến lược học tập thích hợp, và đánh giá kết quả học tập của chính mình. Bằng việc được mời tham gia vào quá trình học tập của PBL, người học được tự chịu trách nhiệm về việc học của mình, dẫn đến và gia tăng kĩ năng tự định hướng trong học tập. Trong nghiên cứu của Severiens và Schmidt với 305 sinh viên đại học năm đầu tiên, họ thấy rằng PBL đã tạo động lực cho người học để duy trì tốc độ nghiên cứu, dẫn đến hội nhập xã hội và học tập, khuyến khích phát triển các kĩ năng nhận thức, và nuôi dưỡng sự tiến bộ nhiều hơn so với các sinh viên được học trong một khung cảnh học tập thông thường [122].
PBL thúc đẩy người học tìm hiểu và khám phá. Đó là trung tâm của PBL. Như vậy, việc nghiên cứu để vận dụng hiệu quả PBL ở trường phổ thông là thách thức đối với các GV, vì vậy cần có những nghiên cứu về PBL, trong đó đề cập đến qui trình tổ chức DH, cách thức thiết kế tình huống vấn đề,. đáp ứng yêu cầu của các hoạt động sư phạm và quyết định sự thành công của các hoạt động đó.
Theo một số tác giả, PBL được hiểu như sau: Theo Donald R. Woods, PBL là môi trường học tập mà một vấn đề nào đó đặt liệu rẻ ra sẽ được giao cho người học trước khi họ được học các kiến thức. Vấn đề đặt ra sẽ điều khiển quá trình học tập, làm cho người học khám phá rằng họ cần phải học một số kiến thức nào đó thì họ có thể GQVĐ [137]., PBL là một ví dụ về mô hình người học là trung tâm của việc học và dạy. Đó là phương pháp học tập dựa trên nguyên tắc sử dụng các vấn đề như là khởi điểm cho việc tiếp thu và tích hợp kiến thức mới [50].
Barrows và Kelson trong bài báo của mình đã nhấn mạnh, PBL bao gồm những vấn đề được lựa chọn kĩ càng, đòi hỏi người học trong quá trình học phải tích lũy kiến thức then chốt. Quá trình giải quyết các vấn đề đó là sự rèn luyện các kĩ năng GQVĐ thành thạo, phương pháp tự học, kĩ năng làm việc nhóm, rèn luyện trong những qua trình, những phương pháp được sử dụng phổ biến trong cuộc sống, trong GQVĐ [51]. Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến việc vận dụng PBL để bồi dưỡng năng lực cho người học. Nghiên cứu của Norman G.
[104] đã đưa ra cơ sở tâm lí của PBL. Qua nghiên cứu tác giả đã đưa ra các lợi thế tiềm năng của PBL theo góc nhìn của tâm lí học và tiến hành kiểm chứng các lợi thế đó thông qua thực nghiệm. Thực nghiệm đã chỉ ra một số ưu điểm của PBL như: có thể tích hợp các khái niệm KH cơ bản vào vấn đề; tăng cường sự quan tâm nội tại của chủ đề; tăng cường kĩ năng học tập tự định hướng và sự nâng cao này có thể được duy trì. Theo tác giả Barrows S.
đã viết trong cuốn sách dành cho các GV y khoa và những người quan tâm đến PBL, thì PBL như một phương pháp GD được sử dụng 9 trong giảng dạy ở các trường y [49]. Cuốn sách đã xây dựng được nền tảng cho một chương trình học tập dựa trên cơ sở vấn đề được thiết kế thông qua các mục tiêu của GD y khoa tại các trường đại học. Tác giả đã đề cập đến việc thiết kế một chương trình học tập dựa trên vấn đề có hiệu quả, các yếu tố có thể làm thay đổi hiệu quả của việc học tập dựa trên thực hành, lựa chọn các vấn đề, đánh giá hiệu quả của việc học dựa trên cơ sở vấn đề như một PPDH và đưa ra các tiêu chí để phân tích chương trình GD dựa trên vấn đề. đã xem xét sự thay đổi động cơ học trong PBL, định nghĩa về PBL và đưa ra các mục tiêu GD mà PBL có thể đáp ứng được [50].
Qua nghiên cứu này, tác giả đã thảo luận về việc thay đổi chương trình DH được thiết kế dựa trên PBL, từ đó khẳng định được sự cần thiết của việc thay đổi đó. cũng đã khẳng định tính cần thiết của PBL trong dạy học [103]. Năm 2002 trong một bài báo của tác giả Major C. cũng đã đề cập đến PBL trong GD phổ thông.
Bài báo đưa ra tính cấp thiết của việc thay đổi văn hóa học qua liệu rẻ những nỗ lực cải thiện mục tiêu [94]. Trong tạp chí Y học của Anh năm 2003, Wood D. đã khẳng định việc học tập trên cơ sở vấn đề đã được sử dụng trong nhiều trường y tế ở vương quốc Anh và trên toàn thế giới. Bài viết này đã mô tả phương pháp học tập và dạy học trên các nhóm nhỏ và giải thích tại sao PBL đã có một tác động quan trọng trong GD Y tế [135].
A đã phác họa bối cảnh lịch sử của PBL, giải thích về cơ chế hoạt động của nó và xem xét những bất lợi có thể có trong việc sử dụng PBL như một công cụ học tập lâm sàng trong trong khoa cấp cứu [87]. Cũng trong năm 2004, một báo cáo của Hmelo-Silver C. về đánh giá tâm lí giáo dục đã khẳng định cách tiếp cận PBL trong dạy học có một lịch sử lâu dài và nó là một phương pháp hữu ích cho nền GD dựa trên trải nghiệm [80]. Nghiên cứu tâm lí và lí thuyết chỉ ra rằng: bằng cách HS học thông qua GQVĐ họ có thể học cả nội dung lẫn tư duy chiến lược của việc GQVĐ.
đã nghiên cứu về lịch sử phát triển của PBL và thấy rằng PBL đã thu được nhiều thành công trong lĩnh vực GD Y tế [83]. Đối với GD đại học thì việc áp dụng PBL đã dần được thiết lập từ những năm 1990 đến nay. PBL đã được áp dụng rộng rãi trong các trường chuyên nghiệp ở các nước phát triển [56], [78], [52], trong các ngành nghề khác nhau như: kiến trúc [70], [93], quản trị kinh doanh [96], kĩ thuật hóa học [138], kĩ thuật [64], ngành luật 10 [99], [88], [112], GD lãnh đạo [58], [59], [67], điều dưỡng [47], [79], công tác xã hội [57], và bồi dưỡng GV [107]. Trong một công bố của Moust và cộng sự [101] cũng cho rằng PBL giúp thường xuyên tích hợp kiến thức của nhiều ngành khoa học khác nhau như: sinh học [127], hóa sinh [110], tính toán [134], hóa học [46], kinh tế học [74], địa chất [119], tâm lí học [115], các khóa học khoa học [44], vật lí, lịch sử nghệ thuật, tâm lí GD, GD lãnh đạo, tư pháp hình sự, dinh dưỡng và kiêng cữ, và các lĩnh vực khác của giáo dục sau trung học [72], [117], [118].
Các nghiên cứu đã cho rằng PBL là một PPDH sáng tạo được hình thành trong lịch sử GD. PBL ra đời để đáp trả cho lời chỉ trích rằng: việc dạy truyền thống không chuẩn bị cho người học phương pháp GQVĐ trong học tập. Thay vì yêu cầu người học học nội dung kiến thức trước sau đó mới thực hành các vấn đề trong bối cảnh cụ thể, PBL đưa người học tham gia vào quá trình học tập qua các vấn đề của thực tiễn cuộc sống. Các tác giả cũng nhận định sau những thành công của PBL trong lĩnh vực y tế, GD hiện nay đang vận dụng rộng rãi PBL trong chương trình GD đại học và GD phổ thông tại nhiều quốc gia trên thế giới.
liệu rẻ Denis Bédard, Christelle Lison, Daniel Dalle, Daniel Côté, Noël Boutin năm 2012 đã trình bày kết quả của một nghiên cứu được tiến hành với các sinh viên đại học tham gia trong cả PBL và DH dự án tại Đại học Sherbrooke, Canada.