đặt vấn đề, …, xây dựng tình huống dạy học thích đáng, v. (Lê Thị Hoài Châu, 2018, tr. 141) Bước tiếp theo là triển khai trong lớp học dự án các tình huống đã thiết kế. Ở bước này, GV điều khiển hoạt động toán học của HS, đồng thời mang lại cho HS phương tiện nghiên cứu.
“Tri thức được dạy sẽ là tri thức thực sự được giáo viên đưa vào trong lớp học, không phải là bao giờ cũng trùng với tri thức đã soạn thảo.” (Lê Thị Hoài Châu, 2018, tr. Tổ chức tri thức và tổ chức tri thức tham chiếu 1. Tổ chức tri thức Luan van 14 Đây là một khái niệm quen thuộc đã được sử dụng2 trong nhiều công trình nghiên cứu và các luận văn thạc sỹ về Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn toán, nên chúng tôi chỉ giới thiệu một cách ngắn gọn. Mỗi tổ chức tri thức được hình thành từ một kiểu nhiệm vụ T.
T được giải quyết nhờ vào một kĩ thuật . Kỹ thuật phải được giải thích bởi công nghệ θ – nhờ vào , người ta giải thích được kỹ thuật, thậm chí tạo ra nó. Lí thuyết là công nghệ để giải thích cho công nghệ θ. Có thể nói mọi hoạt động của con người đều vận dụng một tổ chức tri thức mà Chevallard (1998) kí hiệu là T , , , .
Khi T là một kiểu nhiệm vụ toán học thì tổ chức tri thức hình thành từ T được gọi là một tổ chức toán học, viết tắt là OM. Ứng với mỗi kiểu nhiệm vụ T ta có một OM điểm. Các OM điểm có chung yếu tố công nghệ hợp lại tạo nên một OM địa phương. Các OM địa phương có chung lý thuyết tạo thành một OM vùng.
Nhiều OM vùng tạo thành một OM tổng thể (tham khảo Lê Thị Hoài Châu, 2018, tr. Tổ chức tri thức tham chiếu Theo Bosch et Gascon (2005), tổ chức tri thức tham chiếu gồm những “OM mà nhà nghiên cứu xem là cơ sở để thực hiện phân tích của mình. Nó không nhất thiết phải trùng với OM bác học, vốn là nguồn gốc hình thành nên nó” (trích theo Lê Thị Hoài Châu, 2017, tr. Lợi ích của lưới tổ chức tri thức tham chiếu đã được tác giả Lê Thị Hoài Châu (2017) chỉ ra “Những OM tham chiếu liên quan đến đối tượng tri thức O là lưới vấn đề mà nhà nghiên cứu có thể sử dụng để xem xét các OM cần dạy, hay phân tích thực hành dạy học của giáo viên, cũng là điểm tựa để giáo viên thiết kế dự án giảng dạy của mình” (tr.
Câu hỏi đặt ra cho chúng tôi là làm cách nào để xây dựng lưới tổ chức tri thức tham chiếu? Các tổ chức toán học tham chiếu được xây dựng dựa theo sơ đồ sau: Dưới tên gọi praxéologie, vốn là từ gốc do Chevallard đưa ra. Trong cuốn “Thuyết nhân học 2 trong Didactic Toán, tác giả Lê Thị Hoài Châu (2018) đã đề nghị dịch thuật ngữ praxéologie là tổ chức tri thức. Luan van 15 OM bác học OM cần dạy OM được dạy OM học được OM tham chiếu Mô hình tri thức luận [Bosch et Gascon (2005). Trích theo Lê Thị Hoài Châu (2017), tr.
21] Theo sơ đồ này, xây dựng một mô hình tổ chức tri thức tham chiếu là tiến trình gồm 2 bước: - Nghiên cứu tri thức bác học; - Sử dụng một số kết quả phân tích thể chế đã có, trong đó các OM cần dạy đã được xác định. (Lê Thị Hoài Châu, 2017, tr. 21) Ngoài ra, để thiết lập một lưới OM tham chiếu cần dùng đến khái niệm “hệ sinh kiểu nhiệm vụ” được Chaachoua H và Bessot A. Theo các tác giả, một hệ sinh được xác định bởi một kiểu nhiệm vụ T và một hệ thống các biến, điều chỉnh giá trị các biến sẽ sinh ra các kiểu nhiệm vụ con tương ứng.
Hơn nữa, biến còn có chức năng chỉ rõ tầm ảnh hưởng của kĩ thuật (tham khảo Lê Thị Hoài Châu, 2018, tr. Thế nên, mục tiêu dạy học cần huy động kĩ thuật nào thì người ta chỉ cần lựa chọn trên giá trị tương ứng của biến. Khi đó, các KNV Ti và tập hợp các KNV con tương ứng của nó (khi thay đổi giá trị của biến) hình thành nên một lưới OM tham chiếu. Tổ chức dạy học Khi tổ chức tri thức T , , , hình thành từ KNV T thuộc loại dạy học thì ta gọi tổ chức này là một tổ chức dạy học, viết tắt là OD.
Theo Chevallard, để phân tích thực hành của giáo viên, nhà nghiên cứu cần phải trả lời hai câu hỏi: - Làm thế nào để mô tả và phân tích một OM được xây dựng trong một lớp học nào đó ? Luan van 16 - Làm thế nào để mô tả và phân tích một OD mà một giáo viên đã triển khai để truyền bá một OM trong một lớp học cụ thể? (trích theo Đào Hồng Nam, 2011, tr. 71) Đối với câu hỏi thứ nhất, người ta bắt đầu từ kiểu nhiệm vụ được đưa ra nghiên cứu trong lớp học, từ đó xác định ba thành phần còn lại của OM. Về câu hỏi thứ hai, công cụ lý thuyết mà Chevallard đưa ra để giúp nhà nghiên cứu trả lời chính là khái niệm các thời điểm nghiên cứu. Theo ông, dù con đường nghiên cứu có khác nhau thì một số kiểu tình huống nhất thiết phải có mặt.
Cụ thể, ông cho rằng một tình huống học tập nói chung bao gồm 6 thời điểm: lần gặp đầu tiên tổ chức OM liên quan đến đối tượng O cần dạy. Việc gặp này thường được diễn ra thông qua việc nghiên cứu một nhiệm vụ t thuộc kiểu Ti cấu thành nên OM cần triển khai; nghiên cứu kiểu nhiệm vụ Ti và soạn thảo một kỹ thuật τi; xây dựng môi trường công nghệ - lý thuyết [θ/Θ] liên quan đến τi; làm việc với kỹ thuật; thể chế hoá; đánh giá. Ông gọi chúng là các thời điểm nghiên cứu (moment d’étude) hay thời điểm didactic (moment didactique), đồng thời không áp đặt phải thực hiện các thời điểm theo đúng trình tự đã nêu. Tổ chức dạy học là lý thuyết thỏa đáng giúp chúng tôi trả lời câu hỏi thực hành dạy học của giáo viên thay đổi ra sao.
Câu hỏi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 1. Câu hỏi nghiên cứu. Trong khung lý thuyết đã lựa chọn, câu hỏi nghiên cứu ban đầu của chúng tôi được cụ thể hoá thành ba câu hỏi sau: Câu hỏi 1: Hệ thống tổ chức tri thức tham chiếu nào cho phép liên kết các phạm vi và ngôn ngữ biểu đạt khái niệm số phức mà việc dạy học cần tính đến (để có thể giúp HS hiểu khái niệm này, đồng thời góp phần bồi dưỡng cho các em một số năng lực, đặc biệt là năng lực giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp toán học). Câu hỏi 2: Gọi hệ thống tổ chức tri thức tham chiếu đã xác định được là lưới OM tham chiếu.
So sánh với lưới các OM tham chiếu thì những OM nào vắng bóng hay ngược lại, những OM nào được GV tính đến trong dự án dạy học của mình? Chúng được tính đến ra sao (chẳng hạn như những kiểu nhiệm vụ nào được nghiên cứu? ứng với nó Luan van 17 có kỹ thuật nào được đưa vào? những kỹ thuật có chứa đựng sự thay đổi phạm vi hay ngôn ngữ biểu đạt có được xem xét hay không?). Câu hỏi 3: Những OM nào đã được xây dựng trên lớp học? Chúng đã được triển khai nhờ tổ chức dạy học nào? Đâu là sự khác biệt giữa lưới OM tham chiếu với những OM được xây dựng? 1. Mục tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu * Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu thực hành dạy học số phức trong bối cảnh thay đổi hình thức đánh giá. * Phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp nghiên cứu lí luận: ở đây chúng tôi dùng phương pháp này để nghiên cứu các tài liệu, tổng hợp các công trình liên quan đến số phức, các khái niệm Didactic để đưa ra công cụ lí luận cho nghiên cứu thực hành dạy học của GV là lưới tổ chức tri thức tham chiếu.
Đặc biệt, phương pháp này còn thể hiện thông qua việc chúng tôi chỉ ra mối quan hệ nội tại giữa bộ ba: lưới tổ chức tri thức tham chiếu, sự chuyển hóa sư phạm nội tại và nghiên cứu thực nghiệm. Các nghiên cứu này thực hiện xoay quanh một trục, chúng có mối quan hệ khắn khít và bổ sung cho nhau. - Phương pháp nghiên cứu thực tiễn giúp chúng tôi nghiên cứu thực hành dạy học của GV. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, chúng tôi tập trung nghiên cứu thực hành dạy học GV ở chương số phức, SGK giải tích 12 cơ bản.
Đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu là nhiệm vụ nghiên cứu mà chúng tôi cần thực hiện. Để trả lời cho Câu hỏi 1, chúng tôi đi theo tiến trình xây dựng các OM tham chiếu mà Bosch et Gascon (2005) đã đề ra. Như vậy, trước hết chúng tôi sẽ tìm hiểu một số thể chế để xem những KNV nào có thể tồn tại. Thể chế đầu tiên được chúng tôi tìm hiểu là thể chế dạy học toán lớp 12 ở Việt Nam như nó đang tồn tại ở thời điểm này, ký hiệu là I.
Ở đây, bằng cách kế thừa các nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Duyên (2009), Lê Thị Huyền (2010) và Lê Thị Thanh Tuyền (2012), chúng tôi sẽ lập danh mục những KNV liên quan đến số phức và những ngôn ngữ biểu đạt được đưa vào SGK. Nếu cần, chúng tôi sẽ bổ sung thêm vào danh mục những KNV mà chúng tôi phát hiện thêm trong SGK để phản ánh đầy đủ hơn quan hệ thể chế với đối tượng số phức. Luan van 18 Sau đó, chúng tôi sẽ phân tích các đề thi mẫu, đề thi thử, đề thi chính thức môn toán của kì thi THPT Quốc gia năm 2017 và năm 2018 để tìm thêm những KNV mới. Cuối cùng, nhằm bổ sung cho lưới OM tham chiếu thu được từ hai bước trên, chúng tôi sẽ phân tích thêm vài giáo trình nước ngoài.
Lưu ý rằng với phương pháp thiết kế lưới tổ chức tri thức tham chiếu (trình bày trong phần 1.2), việc phân tích những tài liệu trên của chúng tôi luôn được kết hợp với nghiên cứu về các ngôn ngữ biểu diễn số phức đã nói ở phần 1. Kết quả nghiên cứu này sẽ được chúng tôi trình bày trong chương 2 của luận văn. Đối với các câu hỏi 2 và 3, chúng tôi sẽ nghiên cứu thực hành dạy học của một GV.