Luận án tiến sĩ nghiên cứu kết quả đặt stent đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng trong điều trị bệnh nhân hẹp tắc đường mật do ung thư

Tài liệu đặt stent đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng điều trị hẹp tắc đư tổng hợp lý thuyết và thực hành, phục vụ học tập ngành

Trường đại học

Viện Nghiên Cứu Khoa Học Y Dược Lâm Sàng 108

Chuyên ngành

Nội Tiêu Hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sỹ y học

2023

187
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Giải phẫu gan và đường mật, sinh lý bài tiết dịch mật

1.2. Các phân thùy gan

1.3. Giải phẫu đường mật

1.4. Sinh lý bài tiết dịch mật

1.5. Các nguyên nhân ung thư gây tắc mật thường gặp và hậu quả của tắc mật do ung thư

1.5.1. Các nguyên nhân ung gây tắc mật thường gặp

1.5.2. Hậu quả của tắc mật do ung thư

1.6. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và chẩn đoán tắc mật do ung thư

1.6.1. Đặc điểm lâm sàng

1.6.2. Đặc điểm cận lâm sàng

1.6.3. Phân loại tắc mật do ung thư theo vị trí tắc mật

1.6.4. Chẩn đoán xác định tắc mật do ung thư và phân chia giai đoạn ung thư

1.7. Các phương pháp điều trị tắc mật do ung thư

1.7.1. Điều trị triệt căn

1.7.2. Dẫn lưu đường mật điều trị tắc mật do ung thư

1.7.3. Các phương pháp khác kết hợp điều trị tắc mật do ung thư

1.8. Đặt stent đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng điều trị tắc mật do ung thư

1.8.1. Lịch sử của stent đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng

1.8.2. Các loại stent đường mật

1.8.3. Chỉ định, chống chỉ định của đặt stent đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng điều trị tắc mật do ung thư

1.8.4. Kỹ thuật đặt stent đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng điều trị tắc mật do ung thư

1.8.5. Hiệu quả của đặt stent đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng điều trị tắc mật do ung thư

1.8.6. Các tai biến, biến chứng của đặt stent đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng trong điều trị tắc mật do ung thư

1.8.7. Đặt stent đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng trong điều trị tắc mật do ung thư ở nước ta

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

2.2. Tiêu chuẩn loại trừ

2.3. Phương pháp nghiên cứu. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.4. Phương tiện nghiên cứu

2.5. Các bước tiến hành nghiên cứu

2.6. Các chỉ tiêu nghiên cứu

2.7. Xử lý số liệu

2.8. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm lâm sàng, một số xét nghiệm cận lâm sàng của bệnh nhân tắc mật do ung thư trước khi đặt stent

3.1.1. Đặc điểm lâm sàng

3.1.2. Một số xét nghiệm cận lâm sàng

3.2. Nguyên nhân ung thư gây tắc mật, giai đoạn ung thư và chỉ định đặt stent đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng

3.3. Kết quả đặt stent đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng

3.3.1. Kết quả về kỹ thuật

3.3.2. Kết quả điều trị của đặt stent đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng

3.3.3. Tai biến, biến chứng của đặt stent đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm lâm sàng, một số xét nghiệm cận lâm sàng của bệnh nhân tắc mật do ung thư trước khi đặt stent

4.1.1. Đặc điểm lâm sàng

4.1.2. Mốt số xét nghiệm cận lâm sàng

4.2. Nguyên nhân ung thư và vị trí gây tắc mật

4.3. Giai đoạn ung thư và chỉ định đặt stent đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng

4.4. Kết quả đặt stent đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng trong điều trị tắc mật do ung thư

4.4.1. Kết quả về kỹ thuật đặt stent đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng

4.4.2. Kết quả điều trị của đặt stent đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng

4.4.3. Tai biến, biến chứng của đặt stent đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng

DANH MỤC NHỮNG CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Đặt stent đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng

Đặt stent đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng (NSMTND) là phương pháp điều trị hiệu quả cho bệnh nhân hẹp tắc đường mật do ung thư đường mật. Phương pháp này được áp dụng từ năm 1979 và không ngừng được cải tiến. NSMTND cho phép đặt stent để dẫn lưu mật, giảm triệu chứng và cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân. Kỹ thuật nội soi này còn kết hợp với các phương pháp chẩn đoán như lấy mẫu tế bào học và mô bệnh học. Stent mật có thể là stent nhựa hoặc stent kim loại, tùy thuộc vào tình trạng bệnh nhân và vị trí tắc nghẽn.

1.1. Chỉ định và chống chỉ định

Chỉ định đặt stent đường mật qua NSMTND bao gồm các trường hợp tắc mật do ung thư không thể phẫu thuật triệt căn. Chống chỉ định bao gồm các bệnh nhân có rối loạn đông máu nặng hoặc không thể thực hiện nội soi. Can thiệp nội soi này cũng được cân nhắc trong các trường hợp tắc mật tái phát sau phẫu thuật. Điều trị nội soi mang lại hiệu quả cao với tỷ lệ thành công kỹ thuật trên 90%.

1.2. Kỹ thuật đặt stent

Kỹ thuật đặt stent qua NSMTND bao gồm các bước: thông nhú tá lớn, đưa ống thông vào đường mật, và đặt stent tại vị trí tắc nghẽn. Stent mật được lựa chọn dựa trên kích thước và vị trí tắc. Biến chứng đường mật như viêm đường mật hoặc tắc stent có thể xảy ra nhưng tỷ lệ thấp. Điều trị ung thư kết hợp với đặt stent giúp kéo dài thời gian sống thêm cho bệnh nhân.

II. Điều trị hẹp tắc đường mật do ung thư

Điều trị hẹp tắc đường mật do ung thư đường mật là một thách thức lớn trong y học. Tắc mật gây ra các triệu chứng như vàng da, ngứa, và suy gan. Phương pháp điều trị bao gồm phẫu thuật, can thiệp qua da, và đặt stent qua NSMTND. Điều trị nội soi được ưu tiên do tính chất ít xâm lấn và hiệu quả cao. Các phương pháp điều trị ung thư kết hợp như hóa trị và xạ trị cũng được áp dụng để kiểm soát bệnh.

2.1. Chẩn đoán ung thư đường mật

Chẩn đoán ung thư đường mật dựa trên các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng như siêu âm, CT, và MRI. Chẩn đoán xác định thường cần lấy mẫu tế bào học hoặc mô bệnh học qua NSMTND. Ung thư đường mật được phân loại theo vị trí và giai đoạn bệnh. Điều trị ung thư cần được cá nhân hóa dựa trên tình trạng bệnh nhân.

2.2. Biến chứng và tiên lượng

Biến chứng đường mật như viêm đường mật, tắc stent, và nhiễm trùng có thể xảy ra sau đặt stent. Tiên lượng của bệnh nhân ung thư đường mật phụ thuộc vào giai đoạn bệnh và hiệu quả điều trị. Điều trị giảm nhẹ giúp cải thiện chất lượng sống và kéo dài thời gian sống thêm. Các phương pháp điều trị ung thư kết hợp như hóa trị và xạ trị cũng được áp dụng để kiểm soát bệnh.

III. Ứng dụng thực tiễn và giá trị nghiên cứu

Nghiên cứu về đặt stent đường mật qua NSMTND trong điều trị hẹp tắc đường mật do ung thư mang lại nhiều giá trị thực tiễn. Kỹ thuật nội soi này giúp giảm tỷ lệ biến chứng và tử vong so với các phương pháp truyền thống. Điều trị nội soi cũng giúp cải thiện chất lượng sống và kéo dài thời gian sống thêm cho bệnh nhân. Các phương pháp điều trị ung thư kết hợp như hóa trị và xạ trị cũng được áp dụng để kiểm soát bệnh.

3.1. Giá trị thực tiễn

Đặt stent đường mật qua NSMTND là phương pháp điều trị hiệu quả và ít xâm lấn cho bệnh nhân tắc mật do ung thư. Kỹ thuật nội soi này giúp giảm tỷ lệ biến chứng và tử vong so với các phương pháp truyền thống. Điều trị nội soi cũng giúp cải thiện chất lượng sống và kéo dài thời gian sống thêm cho bệnh nhân.

3.2. Hướng nghiên cứu tương lai

Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào cải tiến kỹ thuật nội soi và phát triển các loại stent mật mới. Điều trị ung thư kết hợp với đặt stent cũng cần được nghiên cứu sâu hơn để nâng cao hiệu quả điều trị. Các phương pháp điều trị ung thư kết hợp như hóa trị và xạ trị cũng được áp dụng để kiểm soát bệnh.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu kết quả đặt stent đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng trong điều trị bệnh nhân hẹp tắc đường mật do ung thư

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Giải phẫu gan và đường mật, sinh lý bài tiết dịch mật 1. Các phân thùy gan Couinaud và Tôn Thất Tùng phân chia gan dựa trên cơ sở các phần gan có cuống mạch chi phối (động mạch gan, tĩnh mạch cửa) và hệ thống dẫn lưu (tĩnh mạch gan, đường mật) riêng biệt. Các phân thùy gan theo Couinaud.

Các phân thùy gan được phân chia bởi hệ mạch của của gan. R - nhánh phải tĩnh mạch cửa; L - nhánh trái tĩnh mạch cửa; các nhánh không được đánh dấu minh họa giải phẫu tĩnh mạch gan. Nguồn: Juza RM. [13] Couinaud chia gan thành thùy gan phải và gan trái tách biệt nhau bởi rãnh chính, rãnh trục tĩnh mạch gan giữa.

Gan phải bao gồm các hạ phân thùy 5,6,7,8. Hạ phân thùy 5,8 hợp thành khu cạnh giữa phải. Hạ phân thùy 6,7 hợp thành khu bên phải. Gan trái gồm các hạ phân thùy 2,3,4.

Hạ phân thùy 2 là khu bên trái. Hạ phân thùy 3,4 hợp thành khu cạnh giữa trái. Năm 1998, Couinaud chia nhỏ thùy đuôi dựa vào phân bố tĩnh mạch cửa, đường mật và tĩnh mạch gan thành 2 phần: phần bên trái là phân thùy 1 (thùy Spiegel), phần bên phải là phân thùy 9, lấy đường đi của tĩnh mạch gan giữa làm đường phân chia. Bình thường thể tích gan phải chiếm 55-60% trong đó phân thùy trước (V, VIII) và phân thùy sau (VI.

VII) tương ứng chiếm 35% và 30%; gan trái (II, III, IV) chiếm 30 – 35%, thùy đuôi chiếm khoảng 10% [14]. Dựa vào phân bố đường mật và thể tích của các phân thùy tương ứng có thể tính thể tích gan được dẫn lưu khi tiến hành can thiệp dẫn lưu đường mật. Giải phẫu đường mật 1. Đường mật trong gan Dịch mật từ các tế bào gan đổ vào các mao quản mật ở giữa các tế bào gan, đến các ống Hering rồi tiếp đến các vi quản mật tận trong tiểu thùy và giữa các tiểu thùy.

Từ đây mật tiếp tục chảy về qua các ống mật lớn dần, cuối cùng đổ vào hai ống gan phải và gan trái [15]. Nghiên cứu của Ludwig J. [16] cho biết ĐM từ rốn gan đến các nhánh ĐM giữa các tiểu thùy đã phân chia khoảng 7-10 lần với tổng thể tích và tổng diện tích trong lòng của các nhánh ĐM trong gan tương ứng là 16,6cm3 và 398cm2 Hình 1. Phân cấp đường mật trong gan.

[16] Theo cách phân chia gan của Tôn Thất Tùng, ống mật phân thùy 4 cùng với ống mật hạ phân thùy III và II đổ về ống gan trái. Ống mật hạ phân thùy V và VIII đổ về ống mật phân thùy trước, ống mật HPT VI và VII đổ về ống mật phân thùy sau; ống mật phân thùy trước và ống mật phân thùy sau đổ về ống gan phải. Riêng thùy đuôi, đường mật dẫn về cả hai bên gan phải và gan trái trong 80% các trường hợp, 15% các trường hợp chỉ dẫn lưu về gan trái và 5% chỉ dẫn lưu về gan phải [17]. Đường mật ngoài gan Mật được dẫn ra khỏi gan bằng các ống gan phải và ống gan trái.

Ống gan phải dài khoảng 0,5cm; ống gan trái dài 1 - 1,5cm. Sau khi ra khỏi gan, hai ống này hợp lại thành ống gan chung dài 2-4cm, đường kính 4-5mm, đi xuống dưới và sang phải giữa hai lá của bờ tự do mạc nối nhỏ, khi đến gần bờ trên tá tràng cùng với ống túi mật hợp thành ống mật chủ. Ống mật chủ dài 5-6cm, i 5 đường kính 0,5-0,6cm, đi từ bờ trên tá tràng rồi tiếp tục chạy sau tụy trong mạc nối nhỏ và cùng với ống tụy đổ vào đoạn 2 tá tràng ở nhú tá lớn. Trước khi đổ vào nhú tá lớn, ống mật chủ cùng với ống tụy chính đổ vào bóng gan tụy (bóng Vater) [15].

Một số biến đổi giải phẫu thường gặp của đường mật Các biến thể chính của ĐM vùng rốn gan theo Couinaud [18] bao gồm kiểu A: là thể điển hình chiếm 57%. Kiểu B: chiếm 12%, ống gan phải gần như không hiện diện, hai nhánh đường mật phân thùy trước và sau của gan phải cùng hợp lưu với đường mật gan trái ở một vị trí. Kiểu C: chiếm 20%, dẫn lưu lạc chỗ của một nhánh ĐM phân thùy trước (16%) hoặc phân thùy sau (4%) của gan phải vào ống gan chung. Kiểu D: chiếm 6%, dẫn lưu lạc chỗ của một nhánh ĐM phân thùy trước (1%) hoặc sau (5%) của gan phải vào ống gan trái.

Kiểu E: chiếm 3%, không rõ ống gan phải và ống gan trái; các nhánh đường mật phân thùy III, IV của gan trái hợp lưu với nhánh đường mật phân thùy trước hoặc sau của gan phải rồi tiếp tục hợp lưu với nhánh còn lại và với nhánh hạ phân thùy I, II của gan trái. Kiểu F: 2%, nhánh đường mật phân thùy sau của gan phải đổ vào túi mật hoặc ống túi mật. Những biến đổi hợp lưu của các ống gan theo Couinaud (ra). Nhánh ĐM phân thùy trước gan phải; (rp).

Nhánh ĐM phân thùy sau gan phải; (lh). Ống gan trái; I, II, II, IV nhánh ĐM tương ứng với các hạ phân thùy I, II, III, IV. Nguồn: Blumgart LH.[18] i 6 Các biến thể giải phẫu của ĐM khiến cho việc ước đoán thể tích gan được dẫn lưu khi đặt stent khó khăn hơn. Giải phẫu vùng nhú tá lớn Vị trí nhú tá lớn ở tá tràng: 90% ở DII, 5% ở DI và 5% ở DIII [19].

Nhú ở cao - DI hoặc thấp - DIII đều gây những khó khăn nhất định khi thông nhú. Hình thể ngoài của nhú tá lớn có thể chia thành 4 kiểu như sau. Kiểu 0(A): không thấy phễu nhú. Kiểu 1(B): phễu nhú nhìn thấy rất ít.

Kiểu 2(C): phễu nhú nổi trồi lên. Kiểu 3(D): Phễu nhú lớn bao phủ cả lỗ papilla. Đường kính nhú tá lớn: thay đổi từ 1-7mm, trung bình là 3mm. Chiều dài của nhú thay đổi 3-8mm, trung bình là 4mm nhưng đôi khi rất dài.

Hình thái nhú tá lớn giúp xác định đường đi của đoạn cuối của ĐM trong tá tràng để thông nhú và độ rộng của diện cắt cơ Oddi. Phân loại các kiểu phễu nhú và giới hạn của diện cắt Oddi. Nguồn: Mel Wilcox C. [20] và Jean MC.

Jean MC [21] chia liên quan của ống mật chủ và ống tụy chính ở vị trí đổ vào tá tràng làm 3 kiểu. Kiểu I (có bóng Vater): chia thành kiểu Ia có kênh chung dài > 10mm, kiểu Ib kênh chung ngắn hơn. Kiểu II: lỗ mật và tụy cùng đổ vào một chỗ nhưng có vách ngăn, không có kênh chung (không có bóng Vater thực sự). Kiểu III: lỗ mật tụy đổ vào ở hai vị trí tách biệt trong tá tràng.

Kênh chung của ĐM tụy chiếm 75-80% các trường hợp, chiền dài kênh chung từ 1-20mm [19]. Các kiểu liên quan này cùng với những đặc điểm hình thể ngoài của nhú có ý nghĩa quan trọng trong kỹ thuật thông nhú. i 7 Các nhánh tận của động mạch nuôi ống mật chủ phân chia ngay từ trên cao ở phần lớn các trường hợp (85%). Khoảng cách trung bình từ nhánh động mạch nuôi chưa phân chia đến lỗ papilla trung bình là 36,5mm; tuy nhiên có 5% trường hợp cuống mạch nuối này đến tận cơ vòng Oddi mới phân chia [22], kiểu phân chia muộn dễ gây biến chứng chảy máu nặng khi cắt mở cơ Oddi.

nghiên cứu các động mạch cấp máu trong bán kính 5mm cho nhú tá lớn ở mẫu bệnh phẩm tá tụy. Các động mạch xuất phát từ 3 nguồn là các nhánh động mạch nối, các nhánh trước và nhánh sau của các động mạch tá tụy. Ở vị trí 10h và 11h của nhú tá lớn chỉ có 10% và 11 % của tất cả các động mạch trên vi phẫu tích và mô bệnh học tương ứng, với 7/19 mẫu không có động mạch ở vùng này. Kết quả cho thấy biến chứng chảy máu khi cắt mở Oddi sẽ thấp nhất nếu diện cắt trong khoảng 10-11h so với khuyến cáo hiện tại là 11h-1h.

Phân bố các nhánh động mạch đi vào nhú tá lớn trong vòng 5mm. Vị trí 12 giờ là vùng cao nhất được nhìn thấy bởi nhà nội soi từ bên trong lòng tá tràng. Các nhánh động mạch < 0,5mm (các chấm nhỏ); 0,51-0,75mm (chấm to); 0,76-1,00mm (vòng rỗng); > 1,01mm (vòng tròn đỏ). Nguồn: Mirjalili SA.

Sinh lý bài tiết dịch mật 1. Thành phần của dịch mật Mật do các tế bào gan tiết ra, khoảng 500-1000ml/ngày. Thành phần chính của dịch mật là nước, các axit mật, sắc tố mật (bilirubin), cholesterol, axit béo, các chất điện giải và một số thành phần khác (Bảng 1. Bilirubin tự do không tan trong nước, được kết hợp với albumin trong huyết tương, phức hợp này kích thước lớn nên không qua được cầu thận, bilirubin tự do tiếp tục được vận i 8 chuyển đến gan và được chuyển hóa tiếp.

Tại gan mỗi phân tử bilirubin tự do kết hợp với 2 phân tử axit glucuronic tạo thành bilirubin liên hợp tan được trong nước, bilirubin liên hợp được gan bài tiết vào dịch mật rồi xuống ruột. Các thành phần chính của dịch mật [24] Thành phần Mật ở gan Mật trong túi mật Nước 97,5 g/dl 92 g/dl Muối mật 1,1 g/dl 6 g/dl Bilirubin 0,04 g/dl 0,3 g/dl Cholesterol 0,1 g/dl 0,3-0,9 g/dl Axit béo 0,12 g/dl 0,3-1,2 g/dl Lecithin 0,04 g/dl 0,3 g/dl Na+ 145 mEq/l 130 mEq/l K+ 5 mEq/l 12 mEq/l Ca++ 5 mEq/l 23 mEq/l Cl- 100 mEq/l 25 mEq/l HCO3- 28 mEq/l 10 mEq/l 1. Chu trình gan ruột của các axit mật và sắc tố mật [25] Sau khi tham gia quá trình tiêu hóa và hấp thu, các axit mật được tái hấp thu qua niêm mạc ruột vào máu tĩnh mạch trở về gan. Tế bào gan tái thu nhận và tổng hợp thành các axit mật cần thiết rồi bài tiết vào dịch mật.

Các axit mật được tái hấp thu trở lại khoảng 80-90% trên toàn bộ chiều dài của ruột non và trở về gan qua tĩnh mạch cửa tạo nên chu trình gan ruột của các axit mật. Hàng ngày chu trình gan ruột lặp lại từ 6 -10 lần với khoảng 4 - 6g axit mật tham gia và 0,6g axit mật được bài xuất vào đại tràng. Ở ruột bilirubin tiếp tục được chuyển hóa dưới tác dụng của các vi khuẩn đường ruột tạo thành mesobilirubin, urobilinogen, stercobilinogen. Một phần bilirubin liên hợp, mesobilirubin, i 9 urobilinogen được tái hấp thu vào máu trở lại gan và được tái sử dụng trong chu trình gan ruột.

Vai trò sinh lý của dịch mật [24] Dịch mật có vai trò quan trọng trong quá trình tiêu hóa, hấp thu lipid và các vitamin tan trong dầu (A,D,E,K) thông qua các tác dụng nhũ hóa lipid, tạo các micelle làm tăng diện tích tiếp xúc của lipid trong thức ăn tạo điều kiện cho lipase tụy phân cắt, tăng cường hoạt tính và kích thích bài tiết lipase.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu đặt stent đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng điều trị hẹp tắc đường mật do ung thư là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào phương pháp điều trị hiện đại cho bệnh nhân bị hẹp tắc đường mật do ung thư. Nghiên cứu này nhấn mạnh hiệu quả của việc sử dụng stent đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP) trong việc giảm thiểu các triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Phương pháp này không chỉ giúp thông tắc đường mật mà còn hỗ trợ quá trình điều trị ung thư, đặc biệt trong các trường hợp không thể phẫu thuật.

Để hiểu rõ hơn về các phương pháp điều trị ung thư tiên tiến, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu điều trị ung thư vú giai đoạn di căn bằng hóa trị phối hợp anthracycline và taxane watermark, Luận án kết quả điều trị ung thư trực tràng thấp trung bình giai đoạn tiến triển tại chỗ bằng xạ trị gia tốc trước phẫu thuật kết hợp với capecitabine, và Luận án đánh giá kết quả điều trị ung thư dạ dày giai đoạn muộn bằng phác đồ tcx. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn đa chiều về các phương pháp điều trị ung thư hiệu quả, giúp bạn mở rộng kiến thức trong lĩnh vực này.