Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ (mã số 5.08) của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Hoa, hoàn thành năm 2004 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của người hướng dẫn là Nguyễn Văn Hiệp, mang tiêu đề: "Khảo sát cấu trúc - ngữ nghĩa của hiện tượng đảo ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt".
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xuất phát từ hiện thực ngữ pháp của tiếng Anh và tiếng Việt: cả hai đều là những ngôn ngữ SVO, trong đó vị trí thuận của chủ ngữ đứng trước vị ngữ, vị trí điển hình của bổ ngữ đứng sau vị ngữ. Tuy nhiên, hiện tượng di chuyển thành tố khiến trật tự từ bị thay đổi mà không làm thay đổi các quan hệ ngữ pháp nội tại. Theo lý luận ngôn ngữ học từ Ferdinand de Saussure (1955) về tính hình tuyến của tín hiệu ngôn ngữ, cái biểu đạt diễn ra theo trục thời gian tuyến tính, buộc người nói hoặc viết phải lựa chọn trật tự xuất phát điểm của câu; sự biến đổi trật tự từ biểu thị sự khác biệt về mặt nội dung. Tiếng Anh là ngôn ngữ thiên chủ ngữ (subject-prominent language), có dạng thức chuẩn với chủ ngữ ngữ pháp đứng đầu. Trong các sách ngữ pháp và giáo trình đại học tại Việt Nam thời điểm đó, hiện tượng đảo ngữ tiếng Anh (inversion) hầu như chỉ được liệt kê hình thức đơn thuần mà thiếu vắng sự phân tích ngữ nghĩa thấu đáo. Do đó, luận án xác định khoảng trống cần nghiên cứu là khảo sát đảo ngữ trên cả hai bình diện cấu trúc và ngữ nghĩa, đặt trong mối quan hệ với việc tổ chức diễn ngôn và đối chiếu với các phương tiện biểu đạt tương ứng trong tiếng Việt nhằm phục vụ công tác dạy học ngoại ngữ.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được văn bản xác định cụ thể qua sáu điểm:
- Xác lập khái niệm "đảo ngữ trong tiếng Anh" làm cơ sở nghiên cứu.
- Xác lập một cách hiểu chung về cấu trúc và ngữ nghĩa của hiện tượng đảo ngữ ứng với thực tế của tiếng Anh và sự biểu đạt của nó trong tiếng Việt, làm nền tảng xây dựng nội dung nghiên cứu.
- Hệ thống hóa tất cả các trường hợp đảo ngữ tiếng Anh trong câu trần thuật; miêu tả cấu tạo hình thức của chúng căn cứ vào các mô hình cú pháp.
- Chọn ra các cấu trúc đảo ngữ giống nhau về mặt chức năng trong diễn ngôn; chức năng đó là sự cụ thể hóa của nghĩa phi miêu tả (non-descriptive meaning) hay nghĩa phi nội dung mệnh đề (non-propositional meaning).
- Phân tích cả hai mặt cấu trúc và ngữ nghĩa của từng kiểu câu đảo ngữ tiếng Anh, đồng thời đối chiếu với tiếng Việt nhằm tìm ra các cách thức thể hiện trong tiếng Việt, xác định các kiểu tương đương dịch thuật cùng những tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ.
- Trình bày những nhận xét tổng quát mang tính lí luận về vấn đề nghiên cứu và những kết luận rút ra từ kết quả nghiên cứu của luận án.
Về đối tượng nghiên cứu, luận án khảo sát loại câu trần thuật tiếng Anh có trật tự đảo theo định nghĩa của Georgia M. Green (1982): các cấu trúc câu trần thuật mà trong đó chủ ngữ theo sau một phần hoặc toàn bộ các yếu tố của động ngữ. Đối tượng được cụ thể hóa qua sáu mô hình cú pháp khái quát thuộc hai nhóm:
- Đảo ngữ toàn phần (full inversion - ĐNTP): mô hình AVS, mô hình CVS, mô hình PREDICATION + BE + SUBJECT.
- Đảo trợ động từ (auxiliary/operator inversion - ĐTĐT): mô hình OPERATOR + SUBJECT + PREDICATION, mô hình PRO-FORM + OPERATOR + SUBJECT, mô hình X + OPERATOR + SUBJECT + Y.
Về phạm vi nghiên cứu, luận án giới hạn trên cứ liệu văn bản tiếng Anh hiện đại đối chiếu với tiếng Việt hiện đại. Luận án chủ động loại trừ các trường hợp sau khỏi phạm vi khảo sát:
- Phép đảo trợ động từ làm phương tiện ngữ pháp hóa để tạo câu hỏi nghi vấn (Givón 1993, Lyons 1977).
- Đảo ngữ trong câu cầu khiến và câu cảm thán mang phong cách tu từ.
- Các câu khuôn thức hóa thạch (fossilized) thuộc thức giả định nguyện ước (optative subjunctive) như "May your dreams come true" hay "Long live the Queen" (Quirk et al. 1972).
- Đảo ngữ trong câu có lời trích dẫn (quotation inversion) như "said John", do phụ thuộc phong cách người viết và động từ chỉ giới hạn ở nhóm động từ nói năng (verbs of saying).
- Hiện tượng tiền đặt (preposing/fronting) và câu tồn tại với "there" (existential sentence) vì chủ ngữ không đổi vị trí ra sau động từ.
- Mô hình VS (chỉ tìm thấy 2 ví dụ trong ngữ liệu và thực chất có trạng ngữ ngầm ẩn chỉ thời gian nên quy về AVS), mô hình OVS (chỉ có 2 ví dụ, mang tính chất tiếng Anh cổ theo Quirk et al. 1985), và mô hình AVSA (do trạng ngữ cuối không mang tính bắt buộc).
- Ngữ điệu và các yếu tố ngôn điệu cũng nằm ngoài phạm vi khảo sát của công trình.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lịch sử nghiên cứu đảo ngữ tiếng Anh từ góc nhìn lịch đại trong văn bản cho thấy trật tự XVS đã tồn tại qua nhiều giai đoạn:
- Tiếng Anh Cổ (Old English): Chi phối bởi quy tắc đặt động từ ở vị trí thứ hai (Verb-Second Rule). Theo Schmidt (1980) và Hopper (1979), trật tự SV gắn với thông tin nền (backgrounded material), trong khi trật tự VS gắn với thông tin tiền cảnh (foregrounded material) dùng mở đầu sự kiện hoặc giới thiệu thực thể.
- Tiếng Anh Trung đại (Middle English): Bắt đầu quá trình ngữ pháp hóa trật tự SVO. Trật tự SV dùng khi chủ ngữ mang thông tin cũ (given), trật tự VS (đảo ngữ toàn phần) dùng để giới thiệu chủ đề (topic introduction), và trật tự đảo trợ động từ được dùng làm nổi bật thành tố đứng đầu. Trợ động từ "do" xuất hiện trong mô hình SdoV.
- Tiếng Anh Cận hiện đại (Early Modern English): Trật tự SdoV trở thành phương tiện nhấn mạnh động ngữ, trong khi XdoVS xuất hiện trong các ngữ cảnh tăng cấp, cường điệu (Stein 1990).
- Tiếng Anh Hiện đại (Present-Day English): Chuyển sang quy tắc Verb-Third Rule với trật tự cơ bản SVX hay SVO (Denison 1993). Các cấu trúc đảo ngữ hiện nay là dấu vết còn lại (remnants) của quy tắc Verb-Second Rule; bên cạnh đó, Stockwell chỉ ra các cấu trúc đảo vị ngữ hoặc tính ngữ lên đầu câu là hiện tượng cách tân (innovations) nhằm tạo sự cân bằng cấu trúc.
Về tình hình nghiên cứu lý thuyết chuyên sâu, luận án điểm lại các công trình tiêu biểu:
- Hans Hartvigson và Leif Kvistgaard Jakcobsen (1974): Chuyên khảo "Inversion in Present-Day English" giải thích cơ chế đảo ngữ toàn phần qua sự kết hợp giữa độ phức tạp cú pháp (formal weight) và nội dung thông báo/tỉ lực thông báo (notional weight/communicative dynamism theo Jan Firbas). Tuy nhiên, cách giải thích này bị hạn chế vì chỉ dừng ở miêu tả hình thức và bị phản biện bởi những trường hợp chủ ngữ phức tạp vẫn đứng đầu câu hoặc yếu tố đầu câu không phải thông tin đã biết. Đối với đảo trợ động từ, hai tác giả xếp vào nhóm "attraction inversion" nhưng thừa nhận không tìm được nguyên nhân cốt lõi.
- Ekkehard Konig (1988): Phê phán quan điểm của Hartvigson và Jakcobsen là thiếu cơ sở lí luận và sơ sài trước khối dữ liệu phức tạp.
- John Penhallurick (1984, 1987): Cho rằng đảo ngữ toàn phần là hiện tượng dựa trên diễn ngôn (discourse-based) nhằm đưa thông tin mới vào sau động từ; còn đảo trợ động từ thể hiện đặc trưng ngữ nghĩa là "sự không chắc chắn" (uncertainty) gắn với sự kiện ở vị ngữ. Luận án bác bỏ luận điểm về sự không chắc chắn này bằng dẫn chứng ngữ liệu thực tế (đoạn văn trích về nhân vật Labong'o).
- Betty Birner (1994, 1995): Tiếp cận đảo ngữ toàn phần như một cấu trúc sắp xếp thông tin (information-packaging). Birner chứng minh vị thế thông tin mang tính tương đối và xác lập nguyên tắc: yếu tố được đảo lên đầu câu không được mang thông tin mới hơn trong diễn ngôn so với yếu tố được đảo về cuối câu. Ba mô hình thông tin hợp thức gồm: thông tin cũ - thông tin mới; thông tin mới - thông tin mới; thông tin cũ - thông tin cũ.
- Heidrun Dorgeloh (1997): Chuyên khảo "Inversion in Modern English: Form and Function" phân tích nghĩa bổ sung của đảo ngữ toàn phần và đảo trợ động từ dựa trên khung nghĩa liên nhân (interpersonal meaning) và nghĩa văn bản (textual meaning) của Michael Halliday (1985). Đảo ngữ phản ánh sự định hướng chú ý của người nói và tính liên kết quan yếu trong diễn ngôn.
- Angela Downing và Philip Locke (1995), Randolph Quirk cùng các đồng sự (1972, 1985): Tiếp cận đảo ngữ dựa trên lý thuyết đề ngữ (Theme) và thuyết ngữ (Rheme), xác định các thành tố đảo là những "đề ngữ có đánh dấu" (marked theme) ở mức độ cao nhất (yếu tố chỉ phương hướng, yếu tố phủ định hoặc bán phủ định).
- Về phía tiếng Việt: Luận án điểm lại các quan điểm của Hoàng Trọng Phiến (1980), Phan Thiều (1988), Lưu Vân Lăng (1998), Nguyễn Minh Thuyết (1998). Hiện tượng đảo thành tố trong tiếng Việt mới được thừa nhận rõ trong phong cách học, còn trong ngữ pháp học vẫn đang là vấn đề thảo luận, chưa có sự định hình hệ thống mô hình cú pháp chặt chẽ như tiếng Anh.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: Không dừng lại ở việc miêu tả hình thức hay phân loại cú pháp thuần túy, luận án đặt trọng tâm làm rõ bản chất ngữ nghĩa phi miêu tả (nghĩa liên nhân, nghĩa văn bản) của đảo ngữ tiếng Anh thông qua ba chức năng diễn ngôn cụ thể, đồng thời thực hiện phân tích tương phản ứng dụng một chiều sang tiếng Việt qua các bản dịch song ngữ để chỉ ra các mô hình cấu trúc và kiểu tương đương dịch thuật tương ứng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên các trụ cột ngôn ngữ học:
- Quan niệm ngữ nghĩa học hiểu theo nghĩa rộng: Tiếp thu quan điểm của John Lyons (1977, 1995) và Đỗ Hữu Châu (2003), ngữ nghĩa của câu bao gồm cả nghĩa miêu tả/nghĩa mệnh đề (descriptive/propositional meaning) bị quy định bởi tính chân ngụy logic, và nghĩa phi miêu tả/phi mệnh đề (non-descriptive/non-propositional meaning) không bị quy định bởi tính chân ngụy, bao hàm các nhân tố ngữ dụng và hoàn cảnh giao tiếp.
- Mô hình ngữ nghĩa chức năng của M.A.K. Halliday (1985): Ngôn ngữ thể hiện đồng thời ba bình diện nghĩa: nghĩa tư tưởng (ideational meaning), nghĩa liên nhân (interpersonal meaning) và nghĩa văn bản (textual meaning). Luận án xác định nghĩa bổ sung của đảo ngữ thuộc về bình diện nghĩa liên nhân và nghĩa văn bản.
- Lý thuyết phối cảnh chức năng câu (Functional Sentence Perspective) của Trường phái Ngôn ngữ học Praha (Jan Firbas) về tỉ lực thông báo, và lý thuyết vị thế thông tin trong cấu trúc sắp xếp thông tin của Betty Birner.
- Lý thuyết phân tích tương phản (Contrastive Analysis): Luận án vận dụng quan điểm của Carl James (1980) và J. Fisiak cùng đồng sự (1978) để phân định hai hướng phân tích tương phản.
| Tiêu chí phân tích |
Phân tích tương phản lí thuyết (Theoretical Contrastive Analysis) |
Phân tích tương phản ứng dụng (Applied Contrastive Analysis) |
| Bản chất hướng tiếp cận |
Hai chiều, đối xứng (ngôn ngữ A và B bình đẳng). |
Một chiều (unidirectional), xuất phát từ ngôn ngữ đối tượng sang ngôn ngữ phương tiện. |
| Mục đích nghiên cứu |
Tìm kiếm sự hiện thực hóa của một phạm trù phổ quát X trong cả hai ngôn ngữ A và B. |
Khảo sát một phạm trù X được hiện thực hóa là y trong ngôn ngữ A được biểu đạt như thế nào trong ngôn ngữ B. |
| Định hướng ứng dụng |
Không phản ánh tính định hướng đối với việc dạy học ngôn ngữ. |
Phục vụ trực tiếp cho mục đích thực tiễn dạy và học ngoại ngữ. |
| Lựa chọn của luận án |
Không sử dụng do đảo ngữ tiếng Việt chưa định hình rõ về mặt ngữ pháp. |
Luận án lựa chọn: lấy tiếng Anh làm ngôn ngữ đối tượng (cơ sở) và tiếng Việt làm ngôn ngữ phương tiện. |
- Lý thuyết tương đương dịch thuật (TĐDT): Tiếp thu khung phân loại của Nguyễn Hồng Cổn (2001) dựa trên sự kết hợp bốn bình diện (ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng), chia thành hai nhóm với sáu kiểu:
| Nhóm tương đương |
Kiểu tương đương dịch thuật |
Đặc điểm nhận diện theo văn bản |
| Tương đương hoàn toàn |
Tương đương hoàn toàn tuyệt đối |
Trùng hợp trên cả 4 bình diện: ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng (hiếm gặp giữa hai ngôn ngữ khác hệ thống âm vị). |
|
Tương đương hoàn toàn tương đối |
Giống nhau trên 3 bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng (xuất hiện phổ biến hơn). |
| Tương đương bộ phận |
Tương đương ngữ pháp - ngữ nghĩa |
Đơn vị dịch tương đương về ngữ pháp và ngữ nghĩa miêu tả nhưng không truyền tải hết thông tin ngữ dụng (thường dùng dịch chú giải). |
|
Tương đương ngữ pháp - ngữ dụng |
Tương đương về cấu trúc ngữ pháp và giá trị ngữ dụng nhưng khác biệt về nghĩa mệnh đề. |
|
Tương đương ngữ nghĩa - ngữ dụng |
Phổ biến nhất: trùng hợp về nghĩa biểu hiện và nghĩa ngữ dụng nhưng có sự khác biệt về cấu trúc ngữ pháp. |
|
Tương đương thuần ngữ dụng |
Tự do nhất: độc lập với ngữ pháp và từ vựng, chỉ tương đương về đích ngôn trung và thông tin ngữ dụng (câu nghi thức, thành ngữ). |
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp ba phương pháp:
- Phương pháp miêu tả: Nhận diện, phân tích cấu trúc cú pháp của các mô hình câu theo ngữ pháp truyền thống và phân tích chức năng diễn ngôn của chúng.
- Phương pháp phân tích đối chiếu: Thực hiện đối chiếu một chiều ứng dụng từ tiếng Anh sang tiếng Việt dựa trên cứ liệu câu đối dịch để xác định các kiểu tương đương dịch thuật.
- Phương pháp quy nạp: Xử lí ngữ liệu, tổng hợp các hiện tượng cụ thể để khái quát hóa thành các quy tắc và kết luận lí luận.
Nguồn tư liệu nghiên cứu gồm các tác phẩm văn học Anh - Mỹ (truyện ngắn, tiểu thuyết) và các bản dịch tiếng Việt tương ứng, các công trình ngữ pháp và từ điển chuyên ngành. Từ 927 đoạn văn tiếng Anh có sử dụng đảo ngữ được tập hợp, tác giả chọn lọc ra 500 ví dụ tiêu biểu nhất để phân tích chi tiết trong luận án.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về đảo ngữ tiếng Anh, tiếng Việt và các cơ sở lí thuyết có liên quan
Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ các tiền đề nghiên cứu. Tác giả phân tích lịch sử biến đổi trật tự từ tiếng Anh từ góc nhìn lịch đại qua bốn thời kỳ (tiếng Anh Cổ, Trung đại, Cận hiện đại và Hiện đại), chỉ rõ quá trình ngữ pháp hóa quy tắc Verb-Second sang Verb-Third và sự hình thành của đảo ngữ toàn phần (ĐNTP) cùng đảo trợ động từ (ĐTĐT). Tiếp đó, tác giả điểm luận các công trình lý thuyết của Hartvigson & Jakcobsen, Penhallurick, Birner, Dorgeloh, Quirk, Downing & Locke. Về tiếng Việt, chương 1 điểm lại các tranh luận xung quanh việc nhìn nhận đảo ngữ trong ngữ pháp và phong cách học. Phần cuối chương dành để xác lập các khái niệm công cụ: tính hình tuyến của Saussure, các quan niệm về trật tự từ, khái niệm đảo ngữ như một quá trình cú pháp không làm biến đổi quan hệ ngữ pháp nội tại, và xác định tiếp cận ngữ nghĩa theo hướng mở rộng bao hàm dụng học.
Chương 2: Quan niệm của luận án về đảo ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt
Chương 2 tập trung xác định tiêu chí nhận diện và xây dựng các mô hình đảo ngữ của luận án.
Đối với tiếng Anh, tác giả xác lập các tiêu chí phân biệt giữa ĐNTP và ĐTĐT dựa trên vị trí của chủ ngữ, bản chất của động từ và tính chất bắt buộc hay tùy chọn của cấu trúc. ĐNTP bao gồm ba mô hình:
- Mô hình AVS (Trạng ngữ + Động từ + Chủ ngữ).
- Mô hình CVS (Bổ túc ngữ + Động từ + Chủ ngữ).
- Mô hình PREDICATION + BE + SUBJECT (Vị ngữ không ngôi + Động từ Be + Chủ ngữ).
ĐTĐT gồm ba mô hình:
- Mô hình OPERATOR + SUBJECT + PREDICATION.
- Mô hình PRO-FORM + OPERATOR + SUBJECT.
- Mô hình X + OPERATOR + SUBJECT + Y (trong đó X là yếu tố đứng đầu, Y là phần còn lại của câu).
Chương này cũng phân tích bản chất của chủ ngữ ngữ pháp (Grammatical Subject) và trợ động từ thứ nhất (Operator). Đối với tiếng Việt, tác giả khảo sát vấn đề đảo bổ ngữ, đảo trạng ngữ, mối quan hệ giữa đảo ngữ và câu tồn tại, từ đó đúc kết một số đặc điểm hình thức của các cấu trúc tương ứng trong tiếng Việt khi biểu đạt ý nghĩa tương đương.
Chương 3: Đảo ngữ với chức năng giới thiệu thực thể trong diễn ngôn
Chương 3 khảo sát chuyên sâu chức năng giới thiệu một thực thể mới vào dòng diễn ngôn, tập trung chủ yếu ở các cấu trúc ĐNTP. Tác giả khảo sát chi tiết mô hình AVS với các dạng cấu tạo của thành tố A:
- A là trạng từ chỉ xuất (Deictic Adverb): các cấu trúc "Here + Be + Noun Phrase Subject" và "Now + Be + Noun Phrase Subject".
- A là trạng ngữ chỉ vị trí (Position Adjunct): phân hóa thành hai tiểu loại cấu trúc gồm "Position Adjunct + Be + Noun Phrase Subject" và "Position Adjunct + Existence Verb + Noun Phrase Subject".
- A là trạng ngữ chỉ hướng (Direction Adjunct).
- A là trạng ngữ chỉ nguồn (Source Adjunct).
- A là trạng ngữ chỉ thời gian (Time Adjunct).
- A là trạng ngữ định vị trừu tượng (Abstract Location Adjunct).
Chương 3 cũng phân tích cấu trúc CVS và cấu trúc PREDICATION + BE + NOUN PHRASE SUBJECT trong vai trò giới thiệu thực thể. Khi đối chiếu với tiếng Việt, tác giả chỉ ra các phương tiện dịch thuật tương đương: sử dụng cấu trúc tồn tại (Trạng ngữ + Động từ tồn tại như "có", "xuất hiện", "sừng sững" + Danh ngữ), hoặc chuyển đổi trật tự câu thuận với các trợ từ chỉ xuất. Bảng số liệu trong văn bản tại chương này gồm Bảng 3.1 (Đảo ngữ tiếng Anh và đảo ngữ tiếng Việt với trạng ngữ chỉ vị trí đứng ở đầu câu, tr. 124) và Bảng 3.2 (Đảo ngữ tiếng Anh luôn luôn tương ứng với đảo ngữ tiếng Việt, tr. 125).
Chương 4: Đảo ngữ với chức năng nhấn mạnh
Chương 4 khảo sát đảo ngữ khi thực hiện chức năng tác động ngữ dụng, gồm ba tiểu chức năng:
- Chức năng đánh dấu tiêu điểm thông báo: Khảo sát các trường hợp tiêu điểm thông báo rơi vào chủ ngữ đảo, bổ ngữ đảo, trạng ngữ đảo, hoặc vị ngữ đảo. Các mô hình tiêu biểu được phân tích gồm: "Here/There + Be + Noun Phrase Subject", "Here/There + Come + Noun Phrase Subject", "There + Go + Noun Phrase Subject", "Direction Adjunct + Verb + Noun Phrase Subject", và "Time Adjunct + Verb + Noun Phrase Subject". Dữ liệu đối chiếu được tổng hợp qua Bảng 4.1 (Tiêu điểm thông báo - Chủ ngữ đảo tiếng Anh đối chiếu với tiếng Việt, tr. 134).
- Chức năng nhấn mạnh biểu cảm: Tạo sắc thái tình cảm trực tiếp của người nói đối với nội dung phát ngôn.
- Chức năng nhấn mạnh cường điệu: Phân tích mô hình ĐTĐT "X + Operator + Subject + Y", trong đó thành tố X đứng đầu mang các đặc trưng ngữ pháp - ngữ nghĩa cụ thể:
- X là yếu tố phủ định: "Never/At no time + Operator + Subject + Y", "Nowhere + Operator + Subject + Y", "In no way/No way + Operator + Subject + Y", "Under (In) no circumstances/On no account + Operator + Subject + Y", "Not until + Clause + Operator + Clause".
- X là yếu tố bán phủ định (hardly, scarcely, seldom, rarely, little).
- X là trạng ngữ chỉ tần suất.
- X là trạng từ "well".
- X là liên từ kết hợp thể hiện mức độ: "Hardly/Scarcely... when/before...", "No sooner... than...".
Trong tiếng Việt, các cấu trúc này thường được chuyển dịch tương đương bằng các từ ngữ nhấn mạnh, trợ từ tình thái, quán ngữ ngữ dụng (như "chưa bao giờ", "không đời nào", "dù trong bất kì hoàn cảnh nào", "vừa mới... thì...").
Chương 5: Đảo ngữ với chức năng liên kết
Chương 5 phân tích khả năng tổ chức văn bản của các cấu trúc đảo ngữ thông qua ba phương thức liên kết diễn ngôn:
- Đảo ngữ và liên kết quy chiếu: Yếu tố đảo lên đầu câu tiếp nhận thông tin từ câu trước để làm điểm tựa liên kết, được hiện thực hóa qua mô hình "Deictic Adverb + Verb + Noun Phrase Subject" và mô hình "Complement + Verb + Noun Phrase Subject".
- Đảo ngữ và phép thế: Phân tích các mô hình ĐTĐT mang chức năng thế để tránh lặp lại vị ngữ và duy trì tính liên kết chặt chẽ: mô hình "So + Operator + Subject", mô hình "Nor/Neither + Operator + Subject", mô hình "As + Operator + Noun Phrase Subject", và mô hình "Operator + Subject + Y".
- Đảo ngữ và phép nối: Xác lập các quan hệ ngữ nghĩa liên câu gồm quan hệ bổ sung, quan hệ không gian, và quan hệ thời gian. Khi đối chiếu sang tiếng Việt, tác giả chỉ ra các cấu trúc đối dịch sử dụng các từ liên kết tương đương như "cũng vậy", "cũng không", "như", kết hợp với các phép tỉnh lược hoặc lặp cú pháp.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án đóng góp vào chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ qua việc:
- Khảo sát có hệ thống hiện tượng đảo ngữ tiếng Anh trong sự gắn kết chặt chẽ giữa bình diện cấu trúc cú pháp và bình diện ngữ nghĩa diễn ngôn. Luận án khẳng định đảo ngữ không đơn thuần là một biến thể cấu trúc hình thức nội tại của câu mà là phương tiện ngữ dụng quan trọng phục vụ tổ chức văn bản.
- Cụ thể hóa nghĩa phi miêu tả (nghĩa liên nhân và nghĩa văn bản theo khung lý thuyết của Halliday) của đảo ngữ thành ba chức năng diễn ngôn tường minh: chức năng giới thiệu thực thể, chức năng nhấn mạnh (đánh dấu tiêu điểm, biểu cảm, cường điệu) và chức năng liên kết (quy chiếu, thế, nối).
- Bước đầu hệ thống hóa các quan niệm và cách tiếp cận về hiện tượng đảo trí/đảo ngữ trong tiếng Việt dưới góc nhìn đối chiếu loại hình học giữa hai ngôn ngữ phân tích tính.
Về mặt thực tiễn, luận án mang lại các giá trị ứng dụng:
- Xây dựng hệ thống cứ liệu đối dịch Anh - Việt gồm 500 ví dụ điển hình được phân tích chi tiết, chỉ ra các kiểu tương đương dịch thuật cụ thể cho từng mô hình đảo ngữ tiếng Anh sang tiếng Việt.
- Cung cấp cơ sở ngôn ngữ học giúp người Việt học tiếng Anh hiểu đúng bản chất cấu trúc và ngữ nghĩa của đảo ngữ, khắc phục lối hiểu máy móc chỉ xem đảo ngữ như một danh sách liệt kê công thức ngữ pháp.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy ngữ pháp tiếng Anh tại Việt Nam, hỗ trợ người học vận dụng đảo ngữ để đa dạng hóa cách diễn đạt trong kỹ năng viết và nói.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, luận án tự xác định các giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu:
- Luận án chỉ thực hiện phân tích tương phản ứng dụng một chiều từ tiếng Anh sang tiếng Việt, chưa thể tiến hành đối chiếu hai chiều cân đối do hiện tượng đảo ngữ trong ngữ pháp tiếng Việt thời điểm đó chưa được giới nghiên cứu định hình thành một hệ thống phạm trù thống nhất.
- Nguồn dữ liệu khảo sát chủ yếu thu thập từ các tác phẩm văn học viết (tiểu thuyết, truyện ngắn), chưa bao quát ngữ liệu khẩu ngữ tự nhiên do tần số xuất hiện của đảo ngữ trong ngôn ngữ nói rất thấp.
- Luận án không khảo sát bình diện ngữ điệu và các yếu tố ngôn điệu đi kèm cấu trúc đảo ngữ.
- Một số mô hình trật tự từ hiếm gặp (VS, OVS) hoặc cấu trúc không bắt buộc (AVSA) bị loại trừ khỏi phạm vi phân tích chi tiết.
Về hướng nghiên cứu tiếp, từ các giới hạn trên, văn bản gợi mở:
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các phong cách chức năng ngôn ngữ khác ngoài văn học, đặc biệt là văn bản báo chí hoặc khẩu ngữ tương tác.
- Triển khai phân tích đối chiếu hai chiều hoàn chỉnh khi lý thuyết về trật tự từ và các cấu trúc tương đương đảo ngữ trong ngữ pháp tiếng Việt được nghiên cứu sâu sắc và định hình rõ nét hơn.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng cụ thể:
- Giảng viên và nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Ngôn ngữ Anh và Lý luận ngôn ngữ: Công trình cung cấp khung lí thuyết vững chắc về ngữ pháp chức năng, ngữ nghĩa học diễn ngôn và phương pháp luận phân tích tương phản ứng dụng. Phần tổng quan tài liệu lịch đại và các trường phái nghiên cứu đảo ngữ tại Chương 1 có giá trị tham khảo cao về mặt học thuật.
- Người làm công tác biên dịch và sinh viên ngành Dịch thuật Anh - Việt: Các chương 3, 4, 5 cung cấp các mô hình cấu trúc đảo ngữ đi kèm các phân tích đối dịch cụ thể, giúp người dịch xác định được kiểu tương đương dịch thuật phù hợp (nhất là kiểu tương đương ngữ nghĩa - ngữ dụng) thay vì dịch đối chiếu cơ học từng từ.
- Người biên soạn giáo trình và tài liệu ngữ pháp thực hành tiếng Anh: Luận án cung cấp hệ thống phân loại khoa học gồm sáu mô hình ĐNTP và ĐTĐT gắn liền với điều kiện ngữ cảnh và vị thế thông tin, giúp việc biên soạn nội dung giảng dạy vượt ra khỏi việc liệt kê công thức hình thức thuần túy.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt hai loại đảo ngữ toàn phần (ĐNTP) và đảo trợ động từ (ĐTĐT) dựa trên những tiêu chí nào?
Luận án căn cứ vào vị trí của chủ ngữ và tính chất của động từ: ĐNTP là cấu trúc có toàn bộ chủ ngữ ngữ pháp đứng sau động từ nội động hoặc động từ "to be" (mô hình AVS, CVS, Predication + Be + Subject), mang tính tùy chọn cao nhằm giới thiệu thực thể hoặc liên kết; trong khi ĐTĐT là cấu trúc có chủ ngữ đứng sau trợ động từ thứ nhất (Operator) nhưng đứng trước động từ chính (mô hình X + Operator + Subject + Y, Operator + Subject + Predication, Pro-form + Operator + Subject), thường mang tính ngữ pháp hóa cao và bắt buộc khi đứng đầu câu là yếu tố phủ định hoặc bán phủ định.
2. Vì sao luận án loại bỏ các mô hình câu VS và OVS ra khỏi phạm vi nghiên cứu?
Luận án loại bỏ mô hình VS vì trong nguồn ngữ liệu khảo sát chỉ tìm thấy 2 ví dụ và cả hai trường hợp này thực chất đều có trạng ngữ chỉ thời gian ngầm ẩn ở đầu câu (như "then", "next"), do đó chúng là biến thể nhỏ của mô hình AVS. Đối với mô hình OVS, ngữ liệu cũng chỉ có 2 ví dụ (trích từ Quirk et al.) và đây là hiện tượng thuộc về tiếng Anh cổ (archaic English), không phù hợp với mục tiêu nghiên cứu tiếng Anh hiện đại của đề tài.
3. Điều kiện về vị thế thông tin của Betty Birner đối với câu đảo ngữ toàn phần được luận án tiếp thu như thế nào?
Luận án tiếp thu nguyên tắc của Betty Birner: Yếu tố được đảo lên vị trí đầu trong câu đảo ngữ không được mang thông tin mới hơn trong diễn ngôn so với yếu tố được đảo xuống vị trí cuối câu. Cấu trúc đảo ngữ thích hợp chỉ có thể xuất hiện dưới ba trình tự sắp xếp thông tin: thông tin cũ - thông tin mới; thông tin mới - thông tin mới; và thông tin cũ - thông tin cũ. Trình tự thông tin mới đứng đầu và thông tin cũ đứng cuối không được chấp nhận trong đảo ngữ toàn phần.
4. Vì sao luận án lựa chọn phương pháp phân tích tương phản ứng dụng một chiều thay vì phân tích tương phản lí thuyết hai chiều?
Dựa trên lí thuyết của Carl James (1980), phân tích tương phản lí thuyết đòi hỏi miêu tả hai ngôn ngữ cân đối ở mức độ sâu sắc như nhau để tìm kiếm một phạm trù phổ quát. Tuy nhiên, trong tiếng Việt, hiện tượng đảo ngữ chưa được xác lập thành một phạm trù ngữ pháp định hình rõ nét mà vẫn đang gây tranh luận. Đồng thời, mục đích thực tiễn của đề tài là phục vụ việc học tiếng Anh của người Việt, do đó luận án chọn giải pháp phân tích tương phản ứng dụng một chiều: lấy tiếng Anh làm ngôn ngữ đối tượng cần làm sáng tỏ và tiếng Việt làm ngôn ngữ phương tiện để đối chiếu tìm kiếm các cấu trúc biểu đạt tương đương.
5. Luận án phân định khái niệm "ngữ nghĩa" trong tên đề tài và trong các kiểu tương đương dịch thuật như thế nào?
Trong tên đề tài, "ngữ nghĩa" được hiểu theo nghĩa rộng (dựa theo John Lyons và Đỗ Hữu Châu), bao hàm cả nghĩa mệnh đề bị chi phối bởi tính đúng sai logic và nghĩa phi mệnh đề/ngữ dụng gắn với hoàn cảnh giao tiếp. Tuy nhiên, trong phần đối chiếu xác định các kiểu tương đương dịch thuật (dựa theo Nguyễn Hồng Cổn), tác giả phân biệt mang tính kĩ thuật giữa "ngữ nghĩa" (giới hạn ở bình diện nghĩa miêu tả hay nghĩa mệnh đề) và "ngữ dụng" (bình diện thông tin phi miêu tả, liên quan đến đích ngôn trung và nhân tố giao tiếp) để làm rõ mức độ tương đương giữa câu nguồn và câu đích.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Hoa là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về hiện tượng đảo ngữ trong tiếng Anh hiện đại trên cả hai bình diện cấu trúc cú pháp và ngữ nghĩa diễn ngôn. Bằng việc phân lập sáu mô hình cú pháp khái quát và gắn chúng với ba chức năng diễn ngôn cơ bản (giới thiệu thực thể, nhấn mạnh và liên kết), tác giả đã làm sáng tỏ bản chất ngữ nghĩa phi miêu tả của các câu đảo ngữ. Dựa trên phương pháp phân tích tương phản ứng dụng một chiều và khung lý thuyết tương đương dịch thuật, công trình chỉ ra các phương thức chuyển dịch tương ứng trong tiếng Việt, mang lại đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu ngôn ngữ học đối chiếu và giảng dạy ngữ pháp tiếng Anh tại Việt Nam.