Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 12 1. Các nghiên cứu về đánh giá năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Chương 2: Kết quả nghiên cứu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc Hiệp hội doanh nghiệp thành phố Hà Nội.
Nội dung nghiên cứu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa 2. Phương pháp nghiên cứu 2. Tình hình hoạt động chung các doanh nghiệp 2. Phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp theo cách tiếp cận Nguồn năng lực động — Tinh thần doanh nhân 2.
Phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp theo tiêu chí vị thế của các doanh nghiệp 2. Phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp theo tiêu chí kết quả hoạt động kinh doanh 2. Phân tích sự khác nhau về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thuộc loại hình sở hữu khác nhau Chương 3: Đánh giá về năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp Việt Nam — Nghiên cứu trường hợp các doanh nghiệp thuộc Hiệp hội doanh nghiệp Thành phố Hà Nội 3. Những điểm mạnh 3.
Những điểm hạn chế còn tồn tại 13 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE NANG LỰC CẠNH TRANH CUA DOANH NGHIỆP. Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Trước áp lực cạnh tranh gay gắt trong thị trường toàn cầu hóa, các doanh nghiệp để đạt được mục tiêu sống còn và phát triển đều hiểu được tầm quan trọng của khả năng cạnh tranh hay năng lực cạnh tranh của bản thân doanh nghiệp. Tuy nhiên, khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đến nay vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất. Dưới đây là một số định nghĩa về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được liệt kê dựa trên việc tham khảo các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước (Bảng 1.1: Một số khái niệm về năng lực cạnh tranh cúa doanh nghiệp Tác giả Định nghĩa Buckley (1988) Khả năng của một doanh nghiệp đối mặt và đánh bại đối thủ trong việc cung cấp một sản phẩm (dịch vụ) một cách bền vững (dài hạn) và có lợi nhuận.
Khả năng sản xuất hàng hóa, dịch vụ đáp ứng hoặc vượt quá (1997) mong đợi về chất lượng của khách hàng, giao hàng hoặc cung cấp dịch vụ vào thời gian, địa điểm, với giá cả, hình thức, và số lượng theo yêu cầu của khách hàng. Ramasamy (1995) Khả năng gia tăng thị phần, lợi nhuận và tăng trưởng và khả năng duy trì khả năng cạnh tranh trong một thời gian dài. Garelli (2005) Năng lực hiện tại và tương lai của doanh nghiệp trong việc thiết kế, sản xuất và tiếp thị hàng hóa toàn cầu với một mức giá và chất lượng vượt trội hơn các đối thủ bên trong và ngoài nước. 'Vũ Trọng Lâm (2006) Khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Trần Sửu (2005) Khả năng tạo ra lợi thé cạnh tranh, có khả năng tao ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phan lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững Nguyễn Hữu Thắng Khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc 14 Tác giả Định nghĩa (2008) tiêu thụ sản phâm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bên vững Nguôn: Túc giả tổng hợp Như vậy, quan điểm trước đây về khả năng cạnh tranh hay năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu đơn giản là khả năng đánh bại được các đối thủ.
Các nghiên cứu sau đó đã bổ sung thêm nhiều yếu tố dé giải thích rõ hơn “sự đánh bại” này như: khả năng cung cấp hàng hóa (dịch vụ) có chất lượng vượt trội, tạo ra lợi thế cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu khách hàng, tạo ra lợi nhuận, phát triển bền vững. Nói một cách khác, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể được hiểu là ưu thế của sản phẩm/dịch vụ mà doanh nghiệp đưa ra thị trường phụ thuộc vào công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị. nhằm giúp doanh nghiệp đạt được tăng trưởng về lợi nhuận, thị phần và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Mặt khác, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố nội tại bên trong doanh nghiệp mà còn phụ thuộc rất lớn vào môi trường cạnh tranh như chủ trương của Chính phủ, luật pháp, chính sách khuyến khích hay hạn ché, cơ chế quản lý điều hành của Nhà nước, thị trường và cơ sở hạ tầng.
Do đó, để đánh giá được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, cần nghiên cứu vấn đề này trong mối tương quan chung với môi trường kinh doanh trong và ngoài nước, đặc biệt trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay. Mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Lý thuyết lợi thế cạnh tranh Michael Porter (1980) cho rằng “một doanh nghiệp được gọi là có năng lực cạnh tranh phải là doanh nghiệp có khả năng duy trì và tăng cường liên tục khả năng cạnh tranh của mình”. Theo quan điểm này, để có thể cạnh tranh thành công, các doanh nghiệp phải có được lợi thế cạnh tranh dưới hình thức hoặc là có chỉ phí sản xuất thấp hơn hoặc là có khả năng khác biệt hóa sản phẩm dé đạt được những mức giá cao hơn trung bình.
Cụ thể, điều này được thể hiện theo chiến lược cạnh tranh (Bảng 1.2) và các hoạt động tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp (Hình 1.2: Chiến lược cạnh tranh LỢI THE PHẠM VỊ CẠNH TRANH : : Chỉ phí thâp Sản phâm/dịch vụ khác biệt Mục tiêu rộng Chi phí thấp Khác biệt hóa Mục tiêu hẹp Tập trung vào chi phí _ | Tập trung vào khác biệt hóa Nguôn: Porter (1980) Chiến lược chỉ phí thấp Chiến lược này được hiểu là khi doanh nghiệp đạt được mức chỉ phí thấp so với các đối thủ khác trong ngành với tiêu chuẩn chất lượng nhất định. Khi đó, doanh nghiệp hoặc sẽ bán sản phẩm với mức giá ngang giá cả thị trường đề thu được lợi nhuận cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh, hoặc sẽ bán với giá thấp hơn giá cả thị trường dé giành thêm thị phần. Trong trường hợp cuộc chiến giá cả diễn ra, doanh nghiệp vẫn có thé duy trì một mức lãi nhất định trong khi các đối thủ cạnh tranh buộc phải chịu lỗ. Ngay cả khi không có sự xung đột hay mâu thuẫn về giá cả, ngành này phát triển, mở rộng và giá cả giảm xuống, thì những doanh nghiệp có khả năng giữ mức chỉ phí sản xuất thấp hơn van có thé thu lợi nhuận trong thời gian dài hơn.
Chiến lược khác biệt hóa sản phẩm/dịch vụ Đây là chiến lược phát triển sản phâm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp có được những đặc tính độc đáo và duy nhất, được khách hàng coi trọng và đánh giá cao hơn so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh. Giá trị gia tăng nhờ tính độc đáo của sản phẩm cho phép doanh nghiệp có thể đặt ra mức giá cao hơn mà vẫn hấp dẫn được khách hàng. Chiến lược tập trung Doanh nghiệp lựa chọn phạm vi cạnh tranh hẹp trong ngành cụ thể là một hoặc một số các phân khúc và điều chỉnh chiến lược của mình đẻ phù hợp với các phân khúc đã chọn. Bằng cách tối ưu hóa chiến lược nhằm vào các phân khúc mục tiêu, các doanh nghiệp có thé tập trung vào chi phí nhằm tìm kiếm lợi thế về chi phí trong phân khúc mục tiêu hoặc tập trung vào khác biệt hóa hướng đến sự khác biệt trong phân khúc mục tiêu.
Các chiến lược này không phải lúc nao cũng tương thích với nhau. Nếu một doanh nghiệp cố gắng hành động để đạt được ưu thế trên mọi lĩnh vực thì kết quả là sẽ 16 không đạt được ưu thế nào. Vì vay, Porter (1980) lập luận rằng dé thành công dài hạn, mỗi doanh nghiệp cần phải chọn duy nhất một trong số ba chiến lược nêu trên. Nếu theo đuổi cả 3 mục tiêu, thì doanh nghiệp sẽ bị lâm vào tình trạng lúng túng và không giành được bat ky loi thé canh tranh nao.
Cũng theo Porter (1980), những doanh nghiệp có thé thành công trong việc áp dụng nhiều chiến lược thường phải thành lập các đơn vị kinh doanh riêng biệt, trong đó mỗi đơn vị theo đuổi một chiến lược. Bằng cách tách riêng chiến lược cho các đơn vị khác nhau về chính sách hay thậm chí cả văn hóa, doanh nghiệp có thể giảm bớt rủi ro bị rơi vào trì trệ, không thể phát triển. Bên cạnh đó, Porter (1980) cũng đồng thời phát triển mô hình các hoạt động cơ bản tạo ra lợi thế cạnh tranh (Hình 1.1) Chất lượng vượt trội Lợi thế cạnh tranh Hiệu quả vượt trội » Chỉ phí thâp Đáp ứng khách Khác biệt hóa hàng vượt trội Hình 0.1: Các hoạt động cơ bản tạo ra lợi thế cạnh tranh Nguén: Porter (1980) Hiệu quả vượt trội Một doanh nghiệp có thể được xem như là một hệ thống chuyển hoá các đầu vào thành các đầu ra. Đầu vào là các yếu tố cơ bản của sản xuất như lao động, đất đai, vốn, quản trị, và bí quyết công nghệ.
Đầu ra là các hàng hoá và dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất. Cách đo lường đơn giản nhất của hiệu quả hoạt động là đem chia số lượng các đầu ra cho các đầu vào. Một doanh nghiệp càng hoạt động hiệu quả khi nó cần càng ít đầu vào dé sản xuất một đầu ra nhất định. Hiệu quả hoạt động cao giúp cho doanh nghiệp có được chỉ phí thấp và vì thế có được lợi thế chỉ phí thấp.
17 Bộ phận cấu thành quan trọng nhất của hiệu quả đối với nhiều doanh nghiệp, đó là năng suất lao động. Chỉ tiêu này thường được đo lường bằng kết quả đầu ra tính trên một công nhân. Nếu tat cả các yếu tô khác không đổi, nói chung doanh nghiệp có mức năng suất cao nhất trong ngành, sẽ có chỉ phí sản xuất thấp nhất. Nói cách khác, doanh nghiệp sẽ có lợi thế cạnh tranh chỉ phí thấp.
Chất lượng vượt trội Các sản phâm và dịch vụ có chất lượng đáng tin cậy được hiểu theo nghĩa sản pham/dich vụ đó được thực hiện đúng với thiết kế và làm tốt theo thiết kế. Chất lượng sản phẩm/dịch vụ cao sẽ làm giảm thời gian lao động bị lãng phí để làm ra các chỉ tiết sản phẩm lỗi hay cung cấp dịch vụ không đáp ứng tiêu chuẩn và sẽ làm giảm thời gian bỏ ra để sửa chữa sản phẩm lỗi, nhờ đó sẽ làm cho năng suất lao động cao hơn và chỉ phí đơn vị thấp hơn.