Luận án tiến sĩ nghiên cứu rối loạn chức phận bệnh lý u tuyến yên và đánh giá kết quả điều trị vi phẫu thuật u tuyến yên qua đƣờng mũi xoang bướm

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu rối loạn chức phận bệnh lý u tuyến yên và đánh giá kết quả điều trị vi phẫu thuật u, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Trường đại học

Học Viện Quân Y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2017

146
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Một số đặc điểm giải phẫu ứng dụng

1.2. Vùng hạ đồi

1.3. Khoang mũi

1.4. Xương bướm

1.5. Hoành yên

1.6. Xoang hang

2. ĐẶT VẤN ĐỀ

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG CHÍNH, HÌNH ẢNH CỘNG HƯỞNG TỪ VÀ MỘT SỐ RỐI LOẠN NỘI TIẾT BỆNH LÝ U TUYẾN YÊN

4.1. Triệu chứng lâm sàng

4.2. Đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ u tuyến yên

4.3. Xét nghiệm nội tiết

5. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT U TUYẾN YÊN QUA ĐƯỜNG MŨI - XOANG BƯỚM

5.1. Kết quả phẫu thuật

5.2. Đánh giá các triệu chứng lâm sàng sau mổ lúc tái khám

5.3. Đánh giá kết quả lấy u trên cộng hưởng từ sau mổ 3 tháng

5.4. Đánh giá sự thay đổi xét nghiệm nội tiết sau mổ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu và tổng quan

U tuyến yên là một loại u lành tính, chiếm khoảng 10-15% các loại u trong sọ. Bệnh lý này gây ra các rối loạn nội tiết do sự tăng sinh quá mức của tế bào thùy trước tuyến yên, dẫn đến sản xuất dư thừa hormone. Vi phẫu thuật qua đường mũixoang bướm đã trở thành phương pháp điều trị phổ biến và hiệu quả. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá kết quả điều trị và các biến chứng phẫu thuật liên quan đến phương pháp này.

1.1. Đặc điểm giải phẫu và bệnh lý

Tuyến yên nằm trong hố yên, kết nối với vùng hạ đồi qua cuống tuyến yên. Các rối loạn chức năng tuyến yên gây ra các triệu chứng lâm sàng đa dạng, bao gồm tăng tiết prolactin, hormone tăng trưởng, và hormone hướng vỏ thượng thận. Chẩn đoán u tuyến yên dựa trên các triệu chứng lâm sàng, xét nghiệm nội tiết, và hình ảnh cộng hưởng từ.

1.2. Lịch sử phẫu thuật u tuyến yên

Từ thập niên 60, phẫu thuật nội soi qua đường mũixoang bướm đã được phát triển và hoàn thiện. Phương pháp này giúp giảm thiểu xâm lấn và cải thiện tỷ lệ hồi phục thị lực. Tại Việt Nam, phương pháp này được áp dụng từ năm 2000 và đã mang lại nhiều kết quả tích cực.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên các bệnh nhân được chẩn đoán u tuyến yên và điều trị bằng vi phẫu thuật qua đường mũixoang bướm. Các tiêu chuẩn chọn bệnh và loại trừ được áp dụng để đảm bảo tính chính xác của kết quả. Phương pháp thu thập số liệu và phân tích dữ liệu được thực hiện theo quy trình chuẩn.

2.1. Đối tượng và tiêu chuẩn nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu bao gồm các bệnh nhân có u tuyến yên được chẩn đoán qua cộng hưởng từ và xét nghiệm nội tiết. Các tiêu chuẩn loại trừ bao gồm bệnh nhân có bệnh lý nặng kèm theo hoặc không đủ điều kiện phẫu thuật.

2.2. Phương pháp đánh giá kết quả

Kết quả điều trị được đánh giá dựa trên sự cải thiện các triệu chứng lâm sàng, hình ảnh cộng hưởng từ sau phẫu thuật, và sự thay đổi các chỉ số nội tiết. Các biến chứng phẫu thuật như rò dịch não tủy cũng được ghi nhận và phân tích.

III. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy vi phẫu thuật qua đường mũixoang bướm mang lại hiệu quả cao trong điều trị u tuyến yên. Tỷ lệ hồi phục thị lực và cải thiện các triệu chứng lâm sàng đạt mức khả quan. Tuy nhiên, các biến chứng phẫu thuật như rò dịch não tủy vẫn cần được quan tâm và xử lý kịp thời.

3.1. Kết quả điều trị

Kết quả phẫu thuật nội soi cho thấy tỷ lệ lấy u hoàn toàn đạt trên 90%. Các triệu chứng lâm sàng như đau đầu, rối loạn thị giác được cải thiện đáng kể. Hình ảnh cộng hưởng từ sau phẫu thuật cho thấy sự biến mất hoặc giảm kích thước khối u.

3.2. Biến chứng và hồi phục

Các biến chứng phẫu thuật như rò dịch não tủy xảy ra ở một số bệnh nhân, nhưng được xử lý hiệu quả bằng các biện pháp y tế. Thời gian hồi phục sau phẫu thuật trung bình từ 3 đến 6 tháng, với sự cải thiện rõ rệt về chất lượng cuộc sống.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu khẳng định hiệu quả của vi phẫu thuật qua đường mũixoang bướm trong điều trị u tuyến yên. Phương pháp này không chỉ giúp cải thiện các triệu chứng lâm sàng mà còn giảm thiểu các biến chứng phẫu thuật. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng vào thực tiễn lâm sàng, đặc biệt tại các bệnh viện chuyên khoa thần kinh.

4.1. Ý nghĩa lâm sàng

Nghiên cứu cung cấp bằng chứng khoa học về hiệu quả của phẫu thuật nội soi trong điều trị u tuyến yên, giúp các bác sĩ đưa ra quyết định điều trị phù hợp. Đồng thời, nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi và quản lý các biến chứng phẫu thuật.

4.2. Hướng nghiên cứu tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu để cải thiện kỹ thuật phẫu thuật và giảm thiểu các biến chứng phẫu thuật. Các nghiên cứu dài hạn về hồi phục sau phẫu thuật cũng cần được thực hiện để đánh giá toàn diện hiệu quả của phương pháp này.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu rối loạn chức phận bệnh lý u tuyến yên và đánh giá kết quả điều trị vi phẫu thuật u tuyến yên qua đƣờng mũi xoang bướm

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ U tuyến yên là u lành tính, gặp khoảng 10-15% các loại u trong sọ. Bệnh lý này gây ra các rối loạn nội tiết do sự tăng sinh quá mức bình thường của tế bào thùy trước tuyến yên nên một lượng hocmon dư thừa được sản xuất ra [30]. Từ đây, chúng gây ra các rối loạn chức năng ở cơ quan đích như: vú, cơ quan sinh dục, xương, khớp…Việc chẩn đoán bệnh lý này, bên cạnh các triệu chứng lâm sàng gợi ý thầy thuốc nghĩ đến bệnh lý u tuyến yên thì các xét nghiệm nội tiết và cộng hưởng từ sọ não cũng góp phần lớn đến việc chẩn đoán. Ngày nay, nhờ có những tiến bộ của các phương tiện xét nghiệm, chúng ta có thể định lượng được hầu hết các hocmon với độ đặc hiệu và độ chính xác ngày càng cao vì thế cho phép phát hiện các rối loạn nội tiết rất nhỏ.

Bên cạnh đó, sự phát triển về kỹ thuật hình ảnh cộng hưởng từ giúp chúng ta phát hiện được khối u khi chúng có kích thước chỉ vài mm nên bệnh được chẩn đoán sớm hơn. Điều trị u tuyến yên chủ yếu là phẫu thuật. Từ thập niên 60 của thế kỷ trước, vi phẫu thuật lấy u tuyến yên qua đường dưới môi trên - xoang bướm đã trở nên phổ biến và trở thành kỹ thuật an toàn và hiệu quả. Trước xu thế phẫu thuật ngày càng ít xâm lấn, năm 1987 Griffith và Veerapen đã hoàn thiện kỹ thuật lấy u tuyến yên qua đường mũi - xoang bướm [50].

Đây là phẫu thuật ít xâm lấn, giúp giải áp hố yên, giao thoa thị giác và dây II hiệu quả, tỉ lệ hồi phục thị lực đạt được từ 73-87% [14]. Cho đến bây giờ, phẫu thuật u tuyến yên qua đường mũi - xoang bướm đã được hoàn thiện hơn trước do sự phát triển của kính vi phẫu tốt hơn về hình ảnh và nguồn sáng, các trang thiết bị phẫu thuật được đầy đủ hơn nên 90-95% u tuyến yên được mổ qua con đường này [70]. Tại Việt Nam, trước năm 2000 u tuyến yên hầu như được phẫu thuật qua đường mở nắp sọ [8], [14]. Từ năm 2000, phẫu thuật u tuyến yên qua đường dưới môi trên qua xoang bướm đã được thực hiện tại Bệnh viện Việt 2 Đức và Chợ Rẫy, đã có một số công trình nghiên cứu được công bố.

Trước sự phát triển về kỹ thuật xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh và xu thế phẫu thuật ngày càng ít xâm lấn, Bệnh viện Đà Nẵng đã chẩn đoán được bệnh lý này và triển khai thực hiện phẫu thuật u tuyến yên qua đường mũi xoang bướm, nhưng đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu về vấn đề này. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu rối loạn chức phận bệnh lý u tuyến yên và đánh giá kết quả điều trị vi phẫu thuật u tuyến yên qua đƣờng mũi - xoang bƣớm, với mục tiêu: 1. Mô tả triệu chứng lâm sàng chính, hình ảnh cộng hƣởng từ và các rối loạn nội tiết bệnh lý u tuyến yên 2. Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật u tuyến yên qua đƣờng mũi - xoang bƣớm 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1.

Một số đặc điểm giải phẫu ứng dụng 1. Giải phẫu tuyến yên Tuyến yên nằm trong hố yên. Tuyến yên nối với vùng hạ đồi bằng cuống tuyến yên. Về mặt sinh lý, các nhà giải phẫu chia tuyến yên làm hai phần riêng biệt: tuyến yên trước, được biết là tuyến yên tuyến (còn được gọi thùy trước tuyến yên, yên hạch) và tuyến yên sau hay tuyến yên thần kinh (còn gọi là thùy sau tuyến yên, yên thần kinh).

Giữa hai thùy này là một vùng nhỏ gần như không có mạch máu, gọi là phần trung gian (còn gọi là thùy giữa), chúng gần như biến mất ở loài người trong khi ở một số loài vật cấp thấp nó lớn hơn và giữ một số chức năng [1], [10]. Tuyến yên nối với vùng hạ đồi bằng cuống tuyến yên. Cuống tuyến yên có các thành phần: tuyến, mạch máu và các thành phần thần kinh. Phần tuyến của cuống là phần củ của thùy trước.

Thành phần mạch máu gồm các động mạch nuôi, hệ thống tĩnh mạch cửa và mạng lưới mao mạch. Động mạch yên trên bắt nguồn từ động mạch cảnh đoạn xoang hang, cung cấp máu cho lồi giữa, tuyến yên và cuống. Hệ thống cửa vùng dưới đồi - tuyến yên được cấu tạo bởi mạng mao mạch thứ nhất xuất phát từ động mạch yên trên. Mạng mao mạch này tỏa ra ở vùng lồi giữa rồi tập trung thành những tĩnh mạch cửa dài đi qua cuống tuyến yên rồi xuống thùy trước tỏa thành mạng mao mạch thứ hai cung cấp 90% lượng máu cho thùy trước.

Lượng máu còn lại do động mạch yên dưới cung cấp. Các động mạch phân chia thành những búi mao mạch, chúng tiếp xúc với các tận cùng thần kinh của các nơron tiết peptit vùng hạ đồi. Thành phần thần kinh của cuống tuyến yên là các bó thần kinh không có bao myelin xuất phát từ nhân trên thị và 4 nhân cạnh não thất của vùng hạ đồi kết thúc tại thùy sau. Thành phần thần kinh này của cuống tuyến yên cần thiết cho sự vận chuyển vasopressin và oxytocin được tổng hợp từ vùng hạ đồi tới thùy sau [16].

Thùy trước được cấu tạo bởi các tế bào chế tiết. Những tế bào này có nhiều loại, mỗi loại tổng hợp và bài tiết một loại hocmon. Thùy sau tuyến yên được cấu tạo chủ yếu bởi các tế bào giống tế bào thần kinh đệm. Những tế bào này không có khả năng chế tiết hocmon mà chỉ làm chức năng hỗ trợ cho một lượng lớn các sợi trục và cúc tận cùng sợi trục khu trú tại thùy sau mà thân nằm ở nhân trên thị và nhân cạnh não thất của vùng hạ đồi.

Trong cúc tận cùng của những sợi trục này có các túi chứa vasopressin và oxytocin [17], [73]. Khái quát chức năng tuyến yên Tuyến yên có kích thước rất nhỏ nhưng lại có nhiều chức năng quan trọng. Tuyến yên điều chỉnh chức năng tuyến giáp, tuyến thượng thận, buồng trứng, tinh hoàn, kiểm soát sự sinh sữa, co thắt tử cung khi sinh đẻ, sự tăng trưởng hình dáng, và điều chỉnh sự thẩm thấu và thể tích dịch nội mạch bởi cung cấp sự hấp thụ nước trong thận (bảng 1. Từ vị trí giải phẫu và chức năng của tuyến yên, khi nó bị rối loạn có các triệu chứng và các dấu hiệu khá đặc trưng của nó [1], [10], [17].

Tóm tắt chức năng tuyến yên Vùng đƣới đồi Tuyến yên Cơ quan cuối Hoc Tế bào tuyến mon Chức năng Thùy trƣớc Cơ quan Hocmon yên tuyến nguyên phát yên Yếu tố phóng thích - Corticotropin- Corticotroph ACTH Thượng Cortisol Chuyển hoá, releasing H. (CRH) thận stress - Thyrotropin- Thyrotroph TSH Tuyến T3, T4 Chuyển hóa releasing H. (TRH) giáp chung - Gonadotropin- Gonadotroph FSH Buồng Estradiol, Phát triển releasing H. (Gn- trứng progesterone sinh dục nữ RH) và sinh sản LH Tinh Testosteron Phát triển hoàn sinh dục nam và sinh sản - Growth hormone- Somatotroph GH Gan và Somatomedin Điều chỉnh releasing hormone nhiều cơ glucose và (GHRH) quan thể hình khác Lactotroph PRL Vú, sinh Tiết sữa dục Yếu tố ức chế - Dopamin Somatotroph GH Gan và Somatomedin Điều chỉnh - Somatostatin nhiều cơ glucose và quan thể hình Thùy sau - Antidiuretic Sản xuất ở vùng dưới Thận Hấp thụ nước hormone (ADH, đồi, chứa và giải phóng ở thận vasopressin) ở thùy sau - Oxytocin Sản xuất ở vùng hạ đồi, Tử cung Co thắt tử chứa và giải phóng ở cung khi sinh thùy sau 6 1.

Vùng hạ đồi Vùng hạ đồi là vùng trước nhất của gian não, nằm ở tầng bụng của hai thành bên não thất III. Trọng lượng tổng cộng chỉ khoảng 4g, chiếm 0,3% trọng lượng của toàn thể não bộ. Vùng hạ đồi là một trung khu thần kinh cao cấp chi phối mọi hoạt động của hệ thần kinh tự chủ của cơ thể. Và có chức năng điều hòa thân nhiệt, điều hòa lượng ăn vào, thăng bằng lượng nước của cơ thể, điều hòa nội tiết của tuyến yên [16].

Khoang mũi Khoang mũi cung cấp con đường đi tới xoang bướm trong các phương pháp phẫu thuật xuyên xoang bướm. Đối với phẫu thuật viên, thành trong của khoang mũi hay vách mũi là thành quan trọng nhất của khoang. Mũi chia làm 3 phần: mũi ngoài, mũi trong hay ổ mũi và các xoang cạnh mũi.  Mũi ngoài: nằm giữa mặt, bên trong là một khung xương sụn được lót bởi niêm mạc, bên ngoài lót bởi cơ và da.

Khung xương mũi có hai xương mũi là chủ yếu, ngoài ra còn có mõm trán và gai mũi trước của xương hàm trên. Có năm sụn mũi chính: phía trên là hai sụn mũi bên, phía dưới là hai sụn cánh mũi lớn và các sụn cánh mũi nhỏ, ở giữa có một sụn đơn là sụn vách mũi. Và các sụn phụ, sụn lá mía mũi.  Ổ mũi: nằm giữa nền sọ phía trên và trần ổ miệng phía dưới, phía sau là tị hầu.

Ổ mũi được chia làm hai bởi vách mũi, hai hố này thường không đều nhau do vách mũi thường bị lệch sang một bên. Hố mũi có bốn thành: - Thành trong: phía sau là phần xương có mảnh thẳng xương sàng và xương lá mía, phía trước là phần sụn gồm sụn vách mũi và trụ trong cánh mũi lớn. Phía trước dưới là phần da và phần màng. Thành trong khoang mũi *Nguồn: Theo Netter F., Atlas giải phẫu người, (2002) [11] - Thành ngoài: có ba hay bốn xương cuốn lại và nhô ra gọi là xoăn mũi chia thành ngoài thành ba hoặc bốn đường dẫn khí gọi là ngách mũi.

Xoăn mũi dưới và ngách mũi dưới, xoăn mũi giữa là một mảnh xương của xương sàng được niêm mạc bao phủ, ngách mũi giữa chia làm hai phần lên và xuống, cắt bỏ xương xoăn mũi giữa ta sẽ thấy thành ngoài của ngành xuống có một cấu trúc giống như bọt nước gọi là bọt sàng, phía dưới là mỏm móc, giữa bọt sàng và mỏm móc là lỗ bán nguyệt, thông vào xoang sàng trước và xoang hàm trên, xoăn mũi trên và ngách mũi trên. Thành ngoài khoang mũi *Nguồn: Theo Lê Gi Vinh, Giải phẫu u-m t-c , (20 2) [19] - Trần ổ mũi: phần giữa là mảnh sàng, phần sau là thân xương bướm, cánh xương lá mía, mỏm bướm xương khẩu cái, phần trước là xương trán và xương mũi. - Nền ổ mũi: tạo bởi xương hàm trên và mảnh ngang xương khẩu cái. + Các xoang cạnh mũi: Xoang hàm trên, xoang trán và xoang sàng.

Niêm mạc mũi có hai vùng: vùng nhỏ ở phía trên có các sợi thần kinh khứu giác, ta ngửi được là vì không khí thở vào lỗ mũi chia làm hai luồng: luồng chạy theo ngách mũi trên vào khu khứu giác, luồng chạy theo ngách mũi giữa và dưới là luồng thở.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu và đánh giá kết quả điều trị vi phẫu thuật u tuyến yên qua đường mũi xoang bướm" cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương pháp điều trị u tuyến yên bằng kỹ thuật vi phẫu thuật, một phương pháp ít xâm lấn và hiệu quả. Nghiên cứu này không chỉ đánh giá kết quả điều trị mà còn phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của phương pháp này, từ đó giúp các bác sĩ và chuyên gia y tế có thêm thông tin quý giá trong việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp cho bệnh nhân.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các phương pháp điều trị liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu kết quả cầm máu bằng kẹp clip đơn thuần và kẹp clip kết hợp tiêm adrenalin 1 10 000 qua nội soi điều trị chảy máu do loét dạ dày tá tràng, nơi nghiên cứu về các kỹ thuật cầm máu trong phẫu thuật. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải phẫu mạch máu và thần kinh tuyến giáp trên người việt nam trưởng thành sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về giải phẫu liên quan đến các phẫu thuật nội soi. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận án đánh giá kết quả phẫu thuật cắt đoạn và nối máy trong điều trị ung thư trực tràng giữa và thấp, một nghiên cứu về hiệu quả của các phương pháp phẫu thuật trong điều trị ung thư. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn toàn diện hơn về các kỹ thuật phẫu thuật hiện đại.