Luận án về dầm liên hợp thép bê tông và tiết diện dầm thép trong bản sàn bê tông

Khám phá luận án về dầm liên hợp thép bê tông, phân tích tiết diện dầm thép chìm trong bản sàn bê tông, ứng dụng và lợi ích trong xây dựng.

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Kỹ Thuật Xây Dựng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án
150
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KẾT CẤU DẦM LIÊN HỢP THÉP BÊ TÔNG CÓ CHIỀU CAO NHỎ

1.1. Dầm liên hợp thép bê tông có chiều cao tiết diện nhỏ

1.2. Đặc điểm của các loại dầm thép SF, ASBs, USFB, DELTABEAM

1.3. Một số tiết diện dầm thép áp dụng cho dầm liên hợp có chiều cao nhỏ

2. CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU SỰ LÀM VIỆC CỦA DẦM LIÊN HỢP THÉP BÊ TÔNG NDBEAM

3. CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ ỨNG XỬ CỦA CHỐT BÊ TÔNG CD-IZ CHỊU TRƯỢT DỌC

4. CHƯƠNG 4: XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH THIẾT KẾ DẦM LIÊN HỢP NDBEAM

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về dầm liên hợp thép bê tông

Nghiên cứu về dầm liên hợp thép bê tông (LHT-BT) đã chỉ ra rằng nguyên tắc của sự liên hợp là sự kết hợp của hai hoặc nhiều loại vật liệu để tối ưu hóa khả năng làm việc. Bê tông, mặc dù có giá thành thấp, nhưng lại có cường độ chịu lực không cao và tính giòn. Ngược lại, thép có cường độ lớn và dẻo, nhưng giá thành cao. Việc kết hợp hai loại vật liệu này trong kết cấu sàn giúp tận dụng ưu điểm của cả hai. Kết cấu dầm LHT-BT truyền thống thường sử dụng dầm thép tiết diện chữ I kết hợp với bản sàn bê tông, mang lại khả năng chịu lực cao và giảm thời gian thi công. Tuy nhiên, chiều cao kết cấu dầm sàn lớn có thể làm tăng tải trọng ngang tác động lên công trình. Do đó, nghiên cứu phát triển dầm LHT-BT có chiều cao nhỏ đã được thực hiện nhằm giảm chiều cao tổng thể của hệ kết cấu.

1.1. Đặc điểm và ứng dụng của dầm LHT BT

Dầm LHT-BT có chiều cao nhỏ được phát triển từ cuối thế kỷ XX, đặc biệt tại các quốc gia Bắc Âu. Ưu điểm của loại dầm này bao gồm giảm chiều cao hệ kết cấu, tăng không gian sử dụng, và giảm chi phí điều hòa không khí. Các tiêu chuẩn thiết kế cho loại dầm này đã được công bố tại nhiều quốc gia, nhưng Việt Nam vẫn chưa có tiêu chuẩn riêng. Việc áp dụng tiêu chuẩn thiết kế từ nước ngoài cho các công trình trong nước là một thách thức lớn. Do đó, nghiên cứu này nhằm đề xuất một loại dầm mới, gọi là dầm liên hợp NDBeam, với tiết diện dầm thép dạng hộp rỗng, giúp giảm chiều cao và cải thiện khả năng chịu lực.

II. Mục đích và phạm vi nghiên cứu

Mục đích của nghiên cứu này là đề xuất một loại dầm liên hợp thép bê tông mới, gọi là dầm NDBeam, với tiết diện dầm thép dạng hộp rỗng. Dầm này được thiết kế để một phần tiết diện dầm thép chìm trong bản sàn bê tông, nhằm giảm chiều cao của hệ kết cấu. Nghiên cứu sẽ tập trung vào việc đánh giá sự làm việc của dầm NDBeam khi không sử dụng chốt có mũ chịu cắt. Đối tượng nghiên cứu bao gồm dầm liên hợp NDBeam và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng chịu lực của nó. Phạm vi nghiên cứu sẽ giới hạn trong các dầm liên hợp đơn giản, dầm thép có tiết diện hình hộp rỗng, và chỉ chịu tải trọng tĩnh.

2.1. Cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn

Cơ sở khoa học của nghiên cứu này dựa trên lý thuyết kết cấu liên hợp thép bê tông theo tiêu chuẩn Châu Âu. Nghiên cứu sẽ phân tích khả năng chịu trượt dọc của chốt bê tông qua lỗ mở trên bản bụng dầm thép. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu là dầm NDBeam có thể được ứng dụng trong hệ dầm sàn cho các công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp. Quy trình thiết kế dầm NDBeam được đề xuất có thể áp dụng trong thực tế thiết kế dầm liên hợp có chiều cao nhỏ, từ đó nâng cao hiệu quả và tính bền vững của các công trình xây dựng.

III. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá sự làm việc của dầm NDBeam. Phương pháp lý thuyết sẽ nghiên cứu sự làm việc theo trạng thái giới hạn của dầm liên hợp thép bê tông, trong khi phương pháp thực nghiệm sẽ đánh giá ứng xử của chốt bê tông chịu trượt dọc thông qua thí nghiệm đẩy (push-out). Các tham số thành phần tham gia sức kháng trượt dọc của chốt bê tông cũng sẽ được khảo sát và đánh giá. Phương pháp số sẽ được áp dụng để xây dựng chương trình thiết kế dầm NDBeam, sử dụng ngôn ngữ lập trình VB+ và C# để phục vụ cho việc tính toán thiết kế.

3.1. Đánh giá ứng xử của chốt bê tông

Đánh giá ứng xử của chốt bê tông chịu trượt dọc là một phần quan trọng trong nghiên cứu này. Thí nghiệm đẩy sẽ được thực hiện để xác định các tham số ảnh hưởng đến sức kháng trượt dọc của chốt bê tông. Kết quả thí nghiệm sẽ được so sánh với các số liệu đã công bố trên các tạp chí quốc tế để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của nghiên cứu. Việc xây dựng công thức xác định sức kháng trượt dọc của chốt bê tông trong dầm NDBeam sẽ giúp cải thiện quy trình thiết kế và ứng dụng thực tế của loại dầm này.

IV. Những đóng góp mới của luận án

Luận án này đề xuất một loại dầm liên hợp mới, NDBeam, với các tính chất hình học đảm bảo yêu cầu tiết kiệm chiều cao kết cấu và tiết kiệm chốt thép chịu cắt. Nghiên cứu cung cấp bộ số liệu thực nghiệm xác định ảnh hưởng của kích thước lỗ mở, chiều dày bụng dầm và sự làm việc đồng thời của các chốt chịu cắt bằng bê tông tới khả năng chịu trượt của loại chốt này. Công thức xác định khả năng chịu trượt của chốt bê tông CD-iZ trong dầm NDBeam cũng được đề xuất. Quy trình thiết kế và phần mềm NDP thiết kế cho dầm NDBeam được xây dựng, với độ tin cậy được đánh giá bằng mô hình số PTTH sử dụng phần mềm ABAQUS.

4.1. Cấu trúc và nội dung luận án

Luận án được cấu trúc thành 4 chương và phần kết luận. Chương 1 trình bày tổng quan về các giải pháp dầm liên hợp thép bê tông có chiều cao nhỏ. Chương 2 nghiên cứu lý thuyết sự làm việc của dầm NDBeam. Chương 3 đánh giá ứng xử của chốt bê tông chịu trượt. Chương 4 giới thiệu quy trình thiết kế dầm NDBeam và xây dựng phần mềm tính toán. Kết luận sẽ tổng hợp các kết quả nghiên cứu chính và hướng phát triển tiếp theo của luận án.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 là trình bày tổng quan về các giải pháp dầm liên hợp thép bê tông có chiều cao nhỏ cũng như giải pháp liên kết chịu trượt dọc trong dầm liên hợp. Các kết quả nghiên cứu nổi bật trên thế giới và ở Việt Nam về vấn đề này sẽ được trình bày. Nghiên cứu sự làm việc của dầm liên hợp thép bê tông NDBeam Nội dung chính của chương 2 là nghiên cứu lý thuyết sự làm việc của dầm liên hợp thép bê tông nói chung, đặc biệt là dầm liên hợp có chiều cao nhỏ NDBeam. Thiết lập các công thức xác định các đặc trưng hình học của tiết diện dầm liên hợp có chiều cao nhỏ, xác định sức kháng mômen bền dẻo dương, sức kháng cắt đứng, sức kháng trượt dọc, độ cứng.

Đánh giá ứng xử của chốt bê tông CD-iZ chịu trượt dọc Nội dung chương 3 là đánh giá sự làm việc của chốt bê tông chịu trượt; xác định các tham số ảnh hưởng đến sự làm việc của chốt như: kích thước lỗ mở, chiều dày bụng dầm và sự làm việc đồng thời của các chốt thông qua việc thực hiện các thí nghiệm đẩy (push-out). Tiến hành các thí nghiệm khảo sát nhằm đánh giá các tham số thành phần tham gia vào sức kháng trượt dọc của chốt bê tông. Phân tích, tổng hợp và đánh giá các kết quả thí nghiệm đẩy của chốt bê tông. Qua đó xây dựng được công thức xác định sức kháng trượt dọc của chốt bê tông trong dầm liên NDBeam.

Xây dựng chương trình thiết kế dầm liên hợp NDBeam. Nội dung chính của chương 4 giới thiệu quy trình thiết kế dầm liên hợp NDBeam trên cơ sở nghiên cứu lí thuyết sự làm việc của dầm ở chương 2 và đánh giá ứng xử của chốt bê tông ở chương 3. Quy trình thiết kế dầm được kiểm chứng bằng việc so sánh kết quả tính toán từ quy trình đề xuất với kết quả tính toán từ phần mềm mô phỏng Abaqus. Bên cạnh đó xây dựng một phần mềm dùng để tính toán dầm liên hợp NDBeam.

Kết luận: Các kết quả nghiên cứu chính đã đạt được và hướng phát triển tiếp theo của luận án. TỔNG QUAN VỀ KẾT CẤU DẦM LIÊN HỢP THÉP BÊ TÔNG CÓ CHIỀU CAO NHỎ 1. Dầm liên hợp thép bê tông có chiều cao tiết diện nhỏ Lịch sử hình thành dầm thép nằm trong bê tông xuất phát từ việc chống cháy cho sàn trong các tòa nhà thương mại và công nghiệp từ những thập niên cuối thế kỷ thứ XIX. Các thanh giằng hoặc dầm bằng thép được nằm chìm trong bê tông tạo nên kết cấu bê tông cốt thép dạng sơ khai (Hình 1.

Dạng kết cấu này được dùng trong các nhà máy kéo sợi bông ở vùng Lancashire (Vương quốc Anh) thay thế cho dạng kết cấu gạch cuốn vòm do đáp ứng được yêu cầu về không gian sử dụng cũng như chịu tải trọng rất lớn của kiện bông, thiết bị [29]. Ý tưởng của dầm thép nằm chìm trong bản sàn bê tông [29] Ban đầu, các loại dầm thép kể trên được thiết kế riêng rẽ và không có sự làm việc tương tác với bản sàn bê tông đúc sẵn. Qua các nghiên cứu lý thuyết cũng như thí nghiệm, người ta nhận thấy dầm “liên hợp” có sức kháng mô men gấp đôi và độ cứng chống uốn gấp ba lần so với dầm thép thường [9]. Như vậy, bê tông đổ tại chỗ ở vị trí nối các tấm sàn đúc sẵn và tại chỗ có bố trí chốt có mũ chịu cắt đã tăng được sức kháng trượt dọc trong dầm.

Khi sử dụng bê tông toàn khối đổ tại chỗ thay thế cho tấm sàn đúc sẵn, sức kháng trượt dọc trong dầm liên hợp được thể hiện bằng lực ma sát tại bề mặt tiếp xúc giữa dầm thép và sàn bê tông. Mức độ liên kết trong loại dầm liên hợp này được tăng đáng kể khi kể đến sức kháng cắt của phần bê tông đi qua các lỗ mở trên bản bụng của dầm thép, đặc biệt khi có bố trí cốt thép nằm ngang qua lỗ mở tại phần bê tông này. 8 Cấu tạo ban đầu của dầm liên hợp có chiều cao tiết diện nhỏ (còn gọi là dầm SlimFlor – SF) bao gồm một dầm thép có tiết diện chữ I không đối xứng  liên kết với sàn bê tông rỗng đúc sẵn , hoặc tấm tôn định hình có sóng cao , hoặc tấm bê tông phẳng đúc sẵn  và lớp bê tông bù đổ tại chỗ  (Hình 1. Một số giải pháp dầm sàn có chiều cao nhỏ [43] Kể từ năm 1990, nhiều sáng tạo về cấu tạo của dầm liên hợp thép bê tông có chiều cao tiết diện nhỏ đã được đề xuất, theo đó dầm thép có tiết diện chữ I truyền thống đã được thay thế bởi một số dạng dầm thép khác nhau.

Tiêu biểu có thể kể đến như: Slimflor (SF), Beams Slimflor không đối xứng (ASB), Composite Slim Floor Beams (CoSFB) được đề xuất bởi ArcelorMittal, DELTABEAM được phát triển bởi Peikko Group, Ultra Shallow Dầm sàn (USFB) được trình bày bởi Westok và một số dầm liên hợp với phần tiết diện dầm thép khác nhau ví dụ: iTECH, TEC, TT, NW và RH. Nhìn chung, các dạng dầm đề xuất đều có một phần tiết diện dầm thép được đặt chìm trong tấm sàn bê tông qua đó giảm chiều cao tổng thể của hệ dầm sàn, tăng khả năng chống cháy cho tiết diện và sử dụng các chốt bê tông đi qua các lỗ mở trên bản bụng thay các chốt hàn có mũ để tăng mức độ liên kết chịu trượt dọc. Cấu tạo tiết diện, phạm vi áp dụng của dầm liên hợp SF, ASB, CoSFB, DELTABEAM, USFB được trình bày trong Bảng 1. Đặc điểm của các loại dầm thép SF, ASBs, USFB, DELTABEAM Loại dầm thép Đặc điểm Dầm có chiều cao nhỏ Được phát triển bởi Tập đoàn ArcelorMittal (mua lại (Slimflor-SF) [9], [28], Công ty Corus) từ cuối năm 1991 với mục đích giảm [52] xem Hình 1.3- chiều cao hệ dầm sàn.

Một bản thép rộng hơn cánh dầm 200 mm được hàn với cánh dùng làm gối đỡ sàn rỗng đúc sẵn hoặc tấm tôn định hình sóng cao. Nhịp dầm từ 5 đến 10m, có chiều cao từ 280 đến 320 mm. Dầm có chiều cao nhỏ Được phát triển bởi Tập đoàn ArcelorMittal. Dầm là một trục đối xứng loại dầm cán nóng đối xứng một trục, bề rộng cánh trên (Asymmetric Slimflor nhỏ hơn bề rộng cánh dưới và có chiều dày bản cánh beams - ASBs) [9], [28], [52] xem Hình 1.3- lớn để tăng được độ cứng chống xoắn.

Bề mặt cánh trên của dầm được tạo các đường gân nổi để tăng sức mức độ liên kết trong dầm liên hợp. Nhịp dầm từ 6 đến 7.5 m, có chiều cao từ 310 đến 340 mm. Dầm có chiều cao rất nhỏ Được phát triển bởi Công ty Westok. Dầm được phát (Ultra-shallow Floor triển trên ý tưởng dầm ASBs kết hợp với các lỗ mở tròn Beam - USFB) [9], [28] dọc theo bụng.

Dầm có tiết diện chữ I đối xứng một xem Hình 1.3- trục, được chế tạo bằng cách hàn 2 phần thép hình chữ T được cắt từ hai loại tiết diện chữ I khác nhau. Do cách tổ hợp nên dầm có trọng lượng giảm nhưng sức kháng mô men và cắt tăng. Sức kháng trượt dọc phụ thuộc vào số lượng chốt bê tông đi qua lỗ mở. Dầm Delta Dầm có dạng tiết diện hình thang rỗng với các lỗ mở (DELTABEAM) [9], [50] tròn ở hai bên bụng dọc theo chiều dài dầm được phát xem Hình 1.3- triển bởi Tập đoàn Peikko từ năm 1989.

Sức kháng trượt dọc trong dầm liên hợp được tạo ra bởi sự chịu lực của bê tông đi qua các lỗ mở. Dầm có chiều cao từ 200 đến 500 mm và có thể vượt nhịp đến 13. Một số tiết diện dầm thép áp dụng cho dầm liên hợp có chiều cao nhỏ Một dạng dầm liên hợp Slimflor-SF có sử dụng loại dầm thép có đặc điểm tương tự như các loại dầm ở Hình 1.1 đã được phát triển tại Hàn Quốc vào năm 2002 và được gọi tên là dầm iTECH (Hình 1. Mức độ liên kết của dầm liên hợp phụ thuộc vào ma sát tại bề mặt tiếp xúc mà không cần bố trí chốt có mũ chịu cắt, thêm vào đó phần bê tông đi qua các lỗ mở ở bản bụng có đóng vai trò làm tăng mức độ liên kết.

Dầm iTECH có thể vượt nhịp từ 7.5 đến 15 m với chiều cao từ 300 mm [9]. Ju và cộng sự [40] đã thực hiện thí nghiệm 3 mẫu dầm nhịp 5 m với sơ đồ uốn 4 điểm gồm: 01 dầm liên hợp iTECH, 01 dầm thép iTECH và 01 dầm liên hợp SF để đánh giá sự làm việc, sức kháng cắt đứng, sức kháng mô men, mức độ liên kết cũng như sự phá hoại của mẫu. Qua kết quả thí nghiệm, nhóm tác giả đã kết luận sức kháng mô men của dầm liên hợp iTECH phù hợp với tính toán lý thuyết, mẫu bị phá hoại do bê tông bị vỡ, liên kết giữa bản sàn bê tông và dầm thép được giữ nguyên, không có phá hoại cục bộ do vậy phù hợp với sự làm việc của dầm liên hợp truyền thống. Kim cho rằng trong dầm liên hợp truyền thống, cánh trên của dầm thép có ảnh hưởng không nhiều khi chịu mô men dương và khi sử dụng dầm thép có tiết diện chữ T ngược thì có thể giảm được tối thiểu một nửa chiều dày sàn (Hình 1.

Trong nghiên cứu [39], để kiểm tra sự làm việc của loại dầm liên hợp này, năm mẫu dầm đã được thí nghiệm trong đó ba mẫu dầm kiểm tra chịu mô men uốn, hai mẫu dầm chịu cắt. Kết quả thí nghiệm trong [38] cho thấy dạng phá hoại của dầm liên hợp TEC có mức độ liên kết tốt, sức kháng trượt dọc, kháng cắt và mô men phù hợp với giá trị tính toán theo tiêu chuẩn thiết kế. Tác giả và nhóm cộng sự đã thực hiện thí nghiệm uốn dầm liên hợp TEC và dầm thép với nhịp 5m và sơ đồ uốn 4 điểm để đánh giá khả năng chịu uốn của dầm trong giai đoạn thi công và giai đoạn liên hợp. Đối chiếu kết quả tính toán lý thuyết của dầm liên hợp TEC với các kết quả được trình bày trong [37], các giá trị thí nghiệm đều lớn hơn giá trị thiết kế, dầm có mức độ liên kết hoàn toàn, chuyển vị của dầm đảm bảo.

Dầm TEC 12 Năm 2012, để đánh giá sự làm việc của dầm liên hợp USFB, B. Huo đã thực hiện thí nghiệm 3 mẫu dầm với tỷ lệ 1:1 trong đó 2 mẫu thí nghiệm theo sơ đồ uốn 4 điểm để đánh giá sức kháng mô men, 1 mẫu theo sơ đồ uốn 3 điểm để đánh giá sức kháng cắt đứng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án về dầm liên hợp thép bê tông và tiết diện dầm thép trong bản sàn bê tông" tập trung vào nghiên cứu các đặc điểm và ứng dụng của dầm liên hợp thép bê tông trong kết cấu sàn bê tông. Luận án này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về thiết kế và tính toán dầm mà còn phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất và độ bền của kết cấu. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu hiện đại trong thiết kế kết cấu, giúp nâng cao chất lượng công trình xây dựng.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Hướng dẫn tính toán móng cọc nhồi, cọc ép theo TCVN 10304:2014, nơi cung cấp thông tin chi tiết về tính toán móng, một phần quan trọng trong thiết kế kết cấu. Ngoài ra, Đồ Án Môn Học Về Thiết Kế Móng Nông và Móng Cọc Khoan Nhồi cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các loại móng và ứng dụng của chúng trong xây dựng. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu chế tạo bê tông nhẹ cường độ cao sử dụng hạt vi cầu rỗng từ tro bay sẽ mang đến cái nhìn mới về vật liệu xây dựng, một yếu tố không thể thiếu trong thiết kế kết cấu. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu sâu hơn về các khía cạnh liên quan đến kỹ thuật xây dựng.