Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số hiểu biết cơ bản về P. suis gây bệnh viêm phổi lợn 1. multocida và bệnh viêm phổi do vi khuẩn P.
multocida gây ra ở lợn 1. Phân loại Vi khuẩn P. multocida gây bệnh cho nhiều loài động vật, mỗi một serotype lại gây ra một thể bệnh khác nhau, trong đó có bệnh tụ huyết trùng (bại huyết xuất huyết) ở lợn do P. multocida serotype A và B gây ra.
multocida thường gặp 5 serotype A, B, C, D, E trong đó thường gặp ở lợn là serotype A, B, D. multocida nằm trong bộ Eubacteriales, thuộc họ Pasteurellaceae, giống Pasteurella và thuộc loài P. Tất cả các loài Pasteurella gây bệnh cho gia súc, gia cầm đều thuộc một giống duy nhất, có các đặc tính cơ bản giống nhau về mặt hình thái, nuôi cấy,. chỉ khác nhau ở tính thích nghi gây bệnh ở các loài vật chủ (Nguyễn Như Thanh, 2001) [21].
Hình thái vi khuẩn và tính chất bắt màu Theo Smith và cs (1992) [48], kích thước của vi khuẩn P. multocida có sự thay đổi phụ thuộc vào nguồn gốc của chúng, vi khuẩn phân lập từ bò có kích thước đồng nhất từ 0,5 - 1,2 µ m, trong khi đó vi khuẩn phân lập từ lợn có dạng tròn hơn, kích thước từ 0,8 - 1,0 µm. multocida có dạng cầu trực khuẩn nhỏ, ngắn, hình trứng, hình bầu dục hay hình cầu, có kích thước 0,6 - 2,5 x 0,2 - 0,4 µm. Phạm Sỹ Lăng và cs (2012) [9] cho biết, vi khuẩn P.
multocida gây bệnh ở lợn là loại cầu trực khuẩn, bắt màu G(-), có kích thước 0,2 - 0,41 x 0,04 - 1,5 µm, hai đầu tròn, không di động, không sinh nha bào, thường bắt màu sẫm ở hai đầu trong các tiêu bản máu, phủ tạng còn tươi. Đặc tính nuôi cấy của vi khuẩn P. multocida là loại vi khuẩn hiếu khí hoặc yếm khí tùy tiện, nhiệt độ thích hợp 370C (có thể nuôi ở 130C - 380C), pH thích hợp từ 7,2 - 7,4. Trên các môi trường nuôi cấy thông thường vi khuẩn phát triển kém, khi môi trường được bổ sung huyết thanh hay máu vi khuẩn phát triển tốt.
multocida mọc thành 3 dạng khuẩn lạc: Khuẩn lạc dạng S, khuẩn lạc dạng M và khuẩn lạc dạng R. Dạng S thường có độc lực cao, dạng M có độc lực yếu hơn, dạng R có độc lực rất yếu, thậm chí không có độc lực. Tính biến dạng của vi khuẩn này rất lớn khi nuôi cấy chuyển sang môi trường dinh dưỡng nhiều lần hoặc tiêm qua động vật từ dạng S chúng có thể chuyển sang dạng M hoặc dạng R và ngược lại. Tính biến dạng này càng thấy rõ khi vi khuẩn này được nuôi cấy trên môi trường dinh dưỡng có các loại đường mà chúng lên men (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2005) [8].
Môi trường thạch máu: Vi khuẩn rất thích hợp trên môi trường thạch máu hoặc có huyết thanh, khuẩn lạc nhỏ, dạng S, máu trắng đục hoặc hơi xám. Trên môi trường này vi khuẩn P. multocida không gây dung huyết, nhưng vi khuẩn Pasteurella hemolytica lại gây dung huyết. Đây là đặc điểm cơ bản phân biệt hai loài Pasteurella gây bệnh tụ huyết trùng thể viêm phổi ở lợn.
Trên môi trường thạch máu vi khuẩn Pasteurella phát triển tạo ra mùi rất đặc trưng, nên đã được rất nhiều nhà nghiên cứu công nhận như một đặc điểm chẩn đoán. Trên môi trường Mac Conkey agar: Loài P. multocida không phát triển được (chỉ có loài Pasteurella hemolytica phát triển được). Môi trường nước thịt: Canh khuẩn 370C 24 giờ đục, lắc thấy hiện tượng vẩn mây, lắng cặn nhày ở đáy ống nghiệm.
Vi khuẩn mọc tốt hơn khi cho vào môi trường vài giọt huyết thanh. Trong môi trường Gelatin: Cấy dọc theo đường trích sâu vi khuẩn mọc thành khuẩn lạc mịn hình hạt, không làm tan chảy Gelatin. Đặc tính sinh vật học của vi khuẩn P. multocida có khả năng lên men đường glucose, saccharose, mannit, sozbit, xylose.
Không lên men đường lactose, maltose, arabinose, rammo, salixin, dunxid, adonit. Các phản ứng indol, catalase, oxidase, H2S dương tính; VP, MR , urearse âm tính, không làm tan chảy gellatin. Các phản ứng sinh hóa khác: Indol : Dương tính (loài Pasteurella hemolytica âm tính). VP : Âm tính.
MR : Âm tính. H2S : Sản sinh bất thường. Catalaz : Dương tính. Oxydaza : Dương tính.
Sức đề kháng của vi khuẩn P. multocida dễ bị tiêu diệt bởi nhiệt độ, ánh sáng mặt trời và các chất sát trùng thông thường: Vi khuẩn bị diệt sau khi đun ở 580C trong 20 phút, 800C trong 10 phút, 1000C trong vài giây. Ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp diệt vi khuẩn trong canh trùng sau 1 ngày. Các chất sát trùng thông thường diệt vi khuẩn nhanh chóng: Axit phenic 5% diệt vi khuẩn trong 1 phút, nước vôi 1% trong 3 - 5 phút.
Vi khuẩn sống khá lâu và sinh sản trong đất ẩm có nhiều nitrat và thiếu ánh sáng. Trong tổ chức của cơ thể động vật bị thối nát vi khuẩn sống được 1 - 3 tháng. Trong chuồng nuôi súc vật, trên đồng cỏ, trong đất vi khuẩn có thể sống hàng tháng, có khi hàng năm. Tính kháng nguyên của vi khuẩn P.
multocida Kháng nguyên của P. multocida rất phức tạp, cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã xác định được vi khuẩn P. multocida có 2 loại kháng nguyên: kháng nguyên vỏ nhày (K) và kháng nguyên thân (O). Kháng nguyên K bao xung quanh thân vi khuẩn che chở kháng nguyên thân O khỏi bị các tác nhân tác dụng nhưng đồng thời cũng ngăn cản sự tiếp xúc giữa kháng nguyên O và kháng thể O (Nguyễn Như Thanh, 2001) [24].
multocida được chia thành các type giáp mô A, B, D, E, F tuỳ thuộc vào cấu trúc polysaccharide bề mặt, trong đó các serotype A, B, D đã được thông báo là gây bệnh cho lợn (Đỗ Ngọc Thuý và cs, 2009) [25]. Kháng nguyên K được cấu tạo từ protein và polysaccarit, ngoài ra còn một số ít các Lipopolysaccarit (LPS). Kháng nguyên K của vi khuẩn P. multocida còn có khả năng gắn với thụ thể của tế bào hồng cầu.
Một số chủng P. multocida serotype D có sinh ra một yếu tố được gọi là độc tố gây hoại tử da (Dermonecrotic Toxin - DNT). multocida serotype D có liên quan đến bệnh viêm teo mũi ở lợn. Kháng nguyên thân O chỉ được bộc lộ khi kháng nguyên K được tách ra.
Kháng nguyên O là một phức hợp protein - lipid - polysaccarit, nó có 16 yếu tố ký hiệu từ 1- 16. Cơ chế gây bệnh Vi khuẩn P. multocida có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, tiêu hoá hoặc qua da có vết thương. Tuy nhiên, trong điều kiện bình thường một tỷ lệ nhất định lợn khoẻ mạnh có vi khuẩn P.
multocida ký sinh ở niêm n 6 mạc phần phía trên của bộ máy hô hấp. Giữa cơ thể và mầm bệnh ở trạng thái cân bằng động. Khi điều kiện ngoại cảnh bất lợi hay sự xuất hiện đồng thời của các bệnh truyền nhiễm gây ra bởi vius, vi khuẩn khác,. làm trạng thái cân bằng trên bị phá vỡ, nhân cơ hội này, do sức đề kháng của cơ thể giảm sút làm mầm bệnh trỗi dậy, tăng lên về số lượng, độc lực và gây bệnh.
Bệnh có thể truyền trực tiếp từ lợn bệnh sang lợn khỏe qua đường hô hấp khi lợn thở hoặc truyền gián tiếp qua dụng cụ chăn nuôi, thức ăn, nước uống. Từ một cơ sở bị bệnh có thể lây lan sang các vùng lân cận do vận chuyển lợn hoặc các chất thải chăn nuôi và di chuyển của con người. Hiện tượng truyền bệnh từ lợn mẹ sang lợn con qua nhau thai và tiếp xúc trực tiếp đều phát hiện được nhưng chưa tìm ra cơ chế lây truyền, theo Lê Văn Tạo (2005) [18]. multocida có thể là nguyên nhân nguyên phát hoặc thứ phát gây ra thể bệnh viêm phổi ở lợn, bệnh có thể gây chết lợn hoặc làm giảm khả năng tăng trọng của lợn do vậy gây thiệt hại rất lớn cho người chăn nuôi.
multocida gây ra nguyên phát được gọi là bệnh tụ huyết trùng, nhưng trong đa số các trường hợp vi khuẩn thường kết hợp với các vi khuẩn đường hô hấp khác như: A. bronchiseptica, Haemophilus parasuis,… gây nên hội chứng bệnh đường hô hấp. Bệnh viêm phổi do vi khuẩn P. multocida gây ra P.
multocida được biết đến là nguyên nhân gây bệnh tụ huyết trùng cho các loài gia súc trong đó có lợn. Tuy nhiên nó cũng là một trong các tác nhân gây viêm phổi ở lợn. - Đặc điểm dịch tễ: Bệnh viêm phổi ở lợn do P. multocida gây ra là kết quả của sự lây nhiểm vi khuẩn vào phổi.
Bệnh thường thấy ở giai đoạn cuối của bệnh viêm phổi cục bộ hay ở những bệnh ghép ở đường hô hấp của lợn. Hội chứng viêm phổi rất thường thấy ở lợn. Những số liệu gần đây của Mỹ cho thấy trong 6.634 mẫu lấy từ lợn để kiểm tra thì 74% lợn bị viêm phổi và 13% bị viêm màng phổi. Hiện nay, vi khuẩn vẫn thấy trong tất cả các đàn lợn và có thể phân lập từ mũi hay hạch hầu của cả những lợn khỏe mạnh bình thường.
Vi khuẩn lây lan chủ yếu qua đường không khí. Tuy nhiên, vi khuẩn có thể xâm nhập vào cơ thể lợn qua đường tiêu hóa hay các vết thương. Theo Nguyễn n 7 Vĩnh Phước (1979) [17] lợn khỏe mạnh có thể bị nhiễm vi khuẩn P. multocida do tiếp xúc với gia súc bệnh, gia súc mang trùng hay tiếp xúc trực tiếp với các chất thải của động vật bị bệnh.
Nguồn lây lan chủ yếu là lợn bị bệnh và lợn mang trùng, Các động vật khác như gà, chuột và các loài gặm nhấm cũng được coi là nguồn lây nhiễm vi khuẩn. Bệnh viêm phổi do vi khuẩn P. multocida xuất hiện rộng khắp trên thế giới nhưng bệnh hay xảy ra và gây thiệt hại nặng ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới như: Ấn Độ, Thái Lan, Philippine, Lào, Campuchia, Việt Nam… vì vi khuẩn thường cư trú ở đường hô hấp trên của lợn do vậy thường rất khó tiêu diệt. multocida thường kết hợp với các tác nhân gây bệnh khác như M.
hyopneumoniae làm cho quá trình viêm phổi càng thêm phức tạp - Triệu chứng lâm sàng: Triệu chứng lâm sàng của bệnh viêm phổi do P. multocida gây ra rất khác nhau tùy thuộc vào từng chủng vi khuẩn gây bệnh, thường xuất hiện 3 thể: + Thể quá cấp tính: Ở thể này hiện tượng ho và thở thể bụng thường thấy ở những lợn lớn. Ho ở lứa tuổi này thường được coi là biểu hiện để xác định mức độ nghiêm trọng của bệnh. Triệu chứng lâm sàng của bệnh ở thể này giống như viêm màng phổi do A.
pleuropneumoniae gây ra nhưng những đặc điểm phân biệt chính là bệnh viêm phổi do P.