Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. SƠ LƯỢC NGHIÊN CỨU VỀ HỘI CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP VÀ SINH SẢN (PRRS) Ở LỢN 1. Vài nét cơ bản về Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn 1. Nguyên nhân gây bệnh Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn do virus thuộc họ Arteriviridae, giống Nidovirales có cấu trúc dạng chuỗi đơn ARN.
Dựa vào phân tích cấu trúc gen người ta đã xác định được hai nhóm virus. Nhóm I gồm các virus thuộc chủng Châu Âu (gọi là virus Lelystad) gồm nhiều phân nhóm đã được xác định. Nhóm virus này được Wensvoort và cs (1991) [70] thuộc Viện Thú y Trung ương - Lelystad - Hà Lan phân lập được trên tế bào đại thực bào phế nang của lợn và đặt tên là virus Lelystad-LV. Nhóm II gồm các virus thuộc dòng Bắc Mỹ với tên gọi là VR-2332; nhóm này được Collins và cs (1992) [32] phân lập được ở lợn tại Mỹ vào năm 1992.
Về mặt di truyền và tính kháng nguyên, hai nhóm virus này hoàn toàn khác nhau. Sự khác nhau về cấu trúc chuỗi nucleotide của virus thuộc hai chủng Châu Âu và Bắc Mỹ là khoảng 40% (Han và cs, 2006) [40], do đó có ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch bảo hộ chéo giữa 2 chủng này. Qua nghiên cứu giải mã gen của virus tại Mỹ và Trung Quốc cho thấy các chủng PRRS tại Việt Nam có mức tương đồng về amino acid từ 99 đến 99,7% so với chủng virus gây bệnh thể độc lực cao ở Trung Quốc và đều bị mất 30 axít amin. Điều này cho thấy các chủng PRRSV ở nước ta hiện nay thuộc dòng Bắc Mỹ, có độc lực cao giống Trung Quốc (Cục Thú y, 2008) [6].
Nhiều nghiên cứu của các tác giả trong nước từ năm 2009 đến nay đã nhận định PRRSV tại Việt Nam hiện nay được xác định thuộc chủng Bắc Mỹ dòng Trung Quốc (Lê Thanh Hoà và cs 2009 [9]; Lý Thị Liên Khai và Võ Thị Cẩm Giàng, 2012 [10]). Triệu chứng Theo nghiên cứu của Nguyễn Như Thanh (2007) [18] lợn đực giống: sốt cao, bỏ ăn, đờ đẫn hoặc hôn mê, một số con có hiện tượng tai xanh. Đặc biệt xuất hiện hiện tượng viêm dịch hoàn, bìu dái nóng đỏ (chiếm 95%), dịch hoàn sưng đau, lệch vị trí (chiếm 85%), giảm hưng phấn. Lượng tinh ít, chất lượng kém, biểu hiện qua các chỉ số như nồng độ tinh trùng C< 80.106, hoạt lực của tinh trùng A< 0,6, sức kháng của tinh trùng R< 3000, tỷ lệ kỳ hình K >10%, tỷ lệ sống của tinh trùng < 70%, độ nhiễm khuẩn cao 20.
Lợn đực giống rất lâu mới hồi phục được khả năng sinh sản của mình Lợn nái: triệu chứng chủ yếu là tím âm hộ, sảy thai, thai chết lưu, thai gỗ hàng loạt, đẻ non, lợn con đẻ ra yếu ớt, tỷ lệ tử vong cao. Tỷ lệ thai chết tăng lên theo độ tuổi của thai như thai dưới 2,5 tháng tuổi tỷ lệ chết 20%, thai trên 2,5 tháng tỷ lệ chết là 93,75%. (Phạm Ngọc Thạch, 2007) [17] Theo Bùi Quang Anh và cs (2008) [2] khi nghiên cứu về các triệu chứng lâm sàng ở lợn mắc PRRS cho thấy lợn bệnh thường có các triệu chứng đầu tiên là sốt cao, bỏ ăn, mẩn đỏ da, khó thở, táo bón hoặc ỉa chảy, tốc độ lây lan nhanh, đặc biệt ở một số con lợn bệnh chóp tai bị ứ huyết có màu xanh tím và một số triệu chứng khác tuỳ thuộc vào bệnh kế phát và từng loại lợn Lợn choai, lợn thịt: lợn mắc bệnh sốt cao 40oC đến 42oC, bỏ ăn, ủ rũ, khó thở, ho; những phần da mỏng gần tai, phần da bụng lúc đầu có màu hồng nhạt, dần dần chuyển sang màu hồng thẫm và xanh nhạt. Lợn nái trong giai đoạn nuôi con thường lười uống nước, viêm vú, mất sữa, viêm tử cung âm đạo, mí mắt sưng, có thể táo bón hoặc ỉa chảy, viêm phổi.
Lợn con theo mẹ: hầu như lợn con sinh ra chết sau vài giờ; số còn sống sót tiếp tục chết vào tuần thứ nhất sau khi sinh. Lợn con có triệu chứng gầy yếu, bỏ bú, da xuất huyết phồng rộp, khó thở và tiêu chảy (Hoàng Văn Năm và cs, 2012) [13]. Bệnh tích Bệnh tích đặc trưng nhất là viêm phổi kẽ và viêm hạch lâm ba ở cả cả 2 dạng (PRRS dạng cổ điển và PRRS dạng sốt cao). Viêm phổi hoại tử và thâm nhiễm đặc trưng bởi những đám đặc chắc (nhục hóa) trên các thùy phổi.
Thùy bị bệnh có màu đỏ xám, có mủ và đặc chắc. Trên mặt cắt ngang của thùy bệnh lồi ra, khô. Nhiều trường hợp lợn mắc bệnh bị viêm phế quản phổi hóa mủ ở mặt dưới thùy đỉnh. Một số bệnh tích khác thường thấy như thận có thể có xuất huyết lấm tấm như đầu đinh ghim; não xung huyết; hạch hầu, amidan sưng hoặc sung huyết; gan sưng, tụ huyết; lách sưng, nhồi huyết; hạch màng treo ruột xuất huyết; loét van hồi manh tràng; phổi tụ huyết, xuất huyết, cuống phổi chứa đầy dịch nhớt, sùi bọt (Bùi Quang Anh và cs, 2008) [2].
Các biện pháp phòng bệnh Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu lợn mắc PRRS, do vậy việc phòng bệnh bằng vaccine và vệ sinh phòng bệnh hiện đang là hai phương pháp hữu hiệu ở nhiều cơ sở chăn nuôi.Phòng bệnh bằng vaccine Cũng như các bệnh truyền nhiễm khác, đối với PRRS ở lợn, việc phòng bệnh bằng vaccine là một trong những biện pháp quan trọng nhằm hạn chế dịch bệnh xảy ra. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, việc lựa chọn loại vaccine phù hợp và sử dụng đúng quy trình kỹ thuật là mấu chốt hàng đầu quyết định đến hiệu quả biện pháp phòng ngừa. Hiện nay, trên thị trường đã có một số loại vaccine phòng chống PRRS của nhiều nhà sản xuất khác nhau và sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Theo nghiên cứu của Cù Hữu Phú (2011) [16] để chủ động phòng PRRS ở lợn đạt hiệu quả cần sử dụng vaccine được chế tạo từ chủng virus có nguồn gốc Bắc Mỹ, Trung Quốc để tiêm phòng cho lợn các lứa tuổi ở Việt Nam.
7 Vaccine BSL-PS 100: là vaccine PRRS nhược độc đông khô thế hệ mới có nguồn gốc từ chủng JKL-100 thuộc dòng châu Mỹ. Một liều chứa ít nhất 105. Có độ an toàn rất cao, vaccine an toàn dù chủng cao gấp 20 liều. Hiệu quả: Thực nghiệm chứng minh hiệu quả trên lợn con theo mẹ tỷ lệ tử vong 0% so với lô đối chứng không sử dụng vaccine là 7%.
Một tuần sau khi tiêm phòng hàm lượng kháng thể trong máu đạt được mức bảo hộ và thời gian miễn dịch kéo dài 16 tuần. Vaccine vô hoạt có bổ trợ nhũ dầu chủng virus NVDC-JXA1: là vaccine PRRS vô hoạt bằng Formaldehyde và sử dụng chất bổ trợ dầu khoáng do Trung Quốc sản xuất, vaccine được chế tạo từ chủng virus NVDC-JXA1, 1ml vaccine chứa không thấp hơn 106TCID50. Vaccine này được Viện Thú y Quốc gia thử nghiệm năm 2011 và được lựa chọn sử dụng tiêm phòng cho lợn ở nước ta có hiệu quả phòng bệnh, an toàn. Vaccine nhược độc PRRS (type JXA1-R): là vaccine được Nguyễn Thị Mến và cs (2012) [14] sử dụng tiêm thẳng vào ổ dịch.
Sau khi tiêm phòng chỉ có 0,5% số lợn phát bệnh ở hộ không có lợn bệnh và 14,91% số lượng lợn phát bệnh ở hộ có lợn bệnh trong đợt dịch. Phòng bệnh bằng vệ sinh, chăm sóc và quản lý Trong tình hình dịch bệnh như hiện nay, việc sử dụng vaccine phòng PRRS nhằm tạo miễn dịch chủ động cho lợn chống lại dịch bệnh là một việc làm cần thiết và cấp bách. Tuy nhiên, bên cạnh đó cần chú ý thực hiện tốt công tác vệ sinh phòng bệnh và tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức phòng bệnh cho người chăn nuôi cũng như các biện pháp kiểm dịch nhằm kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh bùng phát, lây lan, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế mạnh mẽ như hiện nay. Chuồng trại phải đảm bảo vệ sinh thú y, ấm áp vào mùa đông, thoáng mát vào mùa hè, thường xuyên quét dọn, tiêu độc chuồng trại bằng một số hoá chất như vôi bột, Han-Iodine 10%, 8 chloramin B; chăm sóc, nuôi dưỡng tốt để nâng cao sức đề kháng cho lợn.
Lợn mới mua về cần nuôi cách ly ít nhất 3 tuần. Tổ chức tuyên truyền thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng từ Trung ương đến địa phương để người dân hiểu đúng, hiểu đầy đủ về mức độ nguy hiểm của dịch PRRS ở lợn từ đó thực hiện tốt các biện pháp phòng chống dịch, đặc biệt cần phải khai báo kịp thời khi lợn có biểu hiện mắc PRRS. Để chủ động phòng chống dịch, cần thực hiện đồng bộ và kiên quyết các giải pháp phòng chống dịch như phát hiện sớm, bao vây xử lý kịp thời các ổ dịch; công tác tuyên truyền thực hiện sâu rộng tới các ngành, các cấp và người dân tham gia chăn nuôi; đặc biệt có sự chỉ đạo quyết liệt của chính quyền các cấp từ Trung ương tới các địa phương. Thực hiện nghiêm việc tiêm phòng vaccine phòng các bệnh nguy hiểm ở lợn theo Quyết định số 63/2005/QĐ-BNN ngày 13/10/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Các đặc tính của virus gây PRRS ở lợn 1. Cấu trúc của virus Dưới kính hiển vi điện tử PRRS ở lợn là loại có vỏ bọc, hình cầu, có kích thước từ 45-80 nm, chứa nhân nucleocapsid 25-35 nm, trên bề mặt có gai nhô ra rõ, có vỏ là lipit. Virus gây PRRS ở lợn là ARN virus với bộ gen là một phân tử ARN sợi đơn dương, có những đặc điểm chung của nhóm Arteriviruses. Sợi ARN này có kích thước khoảng 15 kilobase, có chín ORF (open reading frame) mã hoá cho chín protein cấu trúc.
Tuy nhiên, có sáu phân tử protein chính có khả năng trung hoà kháng thể bao gồm bốn phân tử glycoprotein, một phân tử protein xuyên màng (M) và một protein nucleocapsid (N) Hạt virus có đường kính 50-70 nm, chứa nucleocapsid cùng kích thước có cấu trúc đối xứng 20 mặt, đường kính 35 nm, được bao bọc bên ngoài bởi một lớp vỏ bọc dính chặt với cấu trúc bề mặt giống như tổ ong. Bộ gen bao 9 gồm một phân tử đơn chuỗi dương là một ARN kích thước từ 13-15 kb. Sợi ARN virus có một cổng 5’ và một dải cổng đầu 3’. Gen ARN polymeraza chiếm khoảng 75% đầu 5’ của bộ gen, gen mã hoá cho các protein cấu trúc của virus nằm ở đầu 3’.
Hạt virus bao gồm một protein nucleocapsid N với khối lượng phân tử 1.200, một protein màng nonglycosylate hình cầu M với khối lượng phân tử 16.000, hai protein peplomer N - glycosylate là GS có khối lượng phân tử 25.000 và GL có khối lượng phân tử 42.