Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm một số xét nghiệm đông máu và xét nghiệm kháng thể kháng phospholipid tại viện huyết học truyền máu trung ương

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm xét nghiệm đông máu và kháng thể kháng phospholipid tại Viện Huyết học Truyền máu Trung ương.

Chuyên ngành

Công nghệ sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

83
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Xét nghiệm đông máu và kháng thể kháng phospholipid

Nghiên cứu tập trung vào xét nghiệm đông máukháng thể kháng phospholipid tại Viện Huyết học Truyền máu Trung ương. Các xét nghiệm này đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán và theo dõi hội chứng Antiphospholipid (APS), một bệnh lý tự miễn liên quan đến huyết khối và sảy thai liên tiếp. Kháng thể kháng phospholipid bao gồm kháng đông lupus (LA), kháng thể kháng Cardiolipin (aCL), và kháng thể kháng β2-Glycoprotein (aGPI). Các xét nghiệm này được thực hiện thường quy tại viện, giúp xác định sự hiện diện của các kháng thể này trong máu bệnh nhân.

1.1. Đặc điểm xét nghiệm đông máu

Xét nghiệm đông máu bao gồm các chỉ số như thời gian APTT, thời gian Prothrombin (PT), và thời gian Thrombin (TT). Các chỉ số này phản ánh tình trạng đông máu của bệnh nhân, giúp đánh giá nguy cơ huyết khối hoặc chảy máu. Nghiên cứu chỉ ra rằng sự hiện diện của kháng thể kháng phospholipid có thể làm thay đổi các chỉ số đông máu, đặc biệt là thời gian APTT, do ảnh hưởng của kháng đông lupus (LA).

1.2. Đặc điểm kháng thể kháng phospholipid

Kháng thể kháng phospholipid được phát hiện thông qua các xét nghiệm chuyên biệt như xét nghiệm LA, aCL, và aGPI. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ dương tính với các kháng thể này khác nhau tùy theo nhóm bệnh nhân. Kháng đông lupus (LA) là loại kháng thể phổ biến nhất, có liên quan mật thiết đến nguy cơ huyết khối. Kháng thể kháng Cardiolipin (aCL)kháng thể kháng β2-Glycoprotein (aGPI) cũng đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán APS.

II. Phương pháp và đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên các bệnh nhân khám và điều trị tại Viện Huyết học Truyền máu Trung ương trong giai đoạn 2017-2018. Đối tượng nghiên cứu bao gồm những bệnh nhân có nghi ngờ hội chứng Antiphospholipid hoặc các bệnh lý liên quan đến rối loạn đông máu. Các tiêu chuẩn lựa chọn mẫu được áp dụng nghiêm ngặt để đảm bảo tính chính xác của kết quả.

2.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp quan sát và phân tích dữ liệu từ các xét nghiệm đông máu và kháng thể kháng phospholipid. Các mẫu máu được thu thập và phân tích tại phòng thí nghiệm của viện, sử dụng các thiết bị và hóa chất tiêu chuẩn. Các chỉ số đông máu và kháng thể được đo lường và so sánh giữa các nhóm bệnh nhân khác nhau.

2.2. Phân tích số liệu

Dữ liệu được xử lý bằng các phương pháp thống kê để đánh giá sự khác biệt giữa các nhóm bệnh nhân. Kết quả cho thấy sự tương quan giữa sự hiện diện của kháng thể kháng phospholipid và các chỉ số đông máu. Nghiên cứu cũng khảo sát diễn biến động học của các kháng thể sau 12 tuần, giúp đánh giá hiệu quả điều trị và tiên lượng bệnh.

III. Kết quả và thảo luận

Nghiên cứu đã chỉ ra các đặc điểm chính của xét nghiệm đông máukháng thể kháng phospholipid ở bệnh nhân tại Viện Huyết học Truyền máu Trung ương. Kết quả cho thấy sự hiện diện của kháng thể kháng phospholipid có liên quan đến sự thay đổi các chỉ số đông máu, đặc biệt là thời gian APTTthời gian Prothrombin (PT). Nghiên cứu cũng ghi nhận sự khác biệt về tỷ lệ dương tính với các loại kháng thể giữa các nhóm bệnh nhân.

3.1. Đặc điểm nhóm bệnh nhân

Nhóm bệnh nhân nghiên cứu có độ tuổi trung bình từ 30-50, với tỷ lệ nữ giới cao hơn nam giới. Các bệnh nhân được phân loại theo chẩn đoán, bao gồm hội chứng Antiphospholipid, lupus ban đỏ hệ thống (SLE), và các bệnh lý tự miễn khác. Kết quả cho thấy tỷ lệ dương tính với kháng thể kháng phospholipid cao hơn ở nhóm bệnh nhân có tiền sử huyết khối hoặc sảy thai liên tiếp.

3.2. Diễn biến động học kháng thể

Nghiên cứu theo dõi diễn biến của các kháng thể sau 12 tuần điều trị. Kết quả cho thấy sự giảm đáng kể nồng độ kháng đông lupus (LA)kháng thể kháng Cardiolipin (aCL) ở một số bệnh nhân. Tuy nhiên, kháng thể kháng β2-Glycoprotein (aGPI) có xu hướng ổn định hơn, cho thấy sự khác biệt trong đáp ứng điều trị giữa các loại kháng thể.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm một số xét nghiệm đông máu và xét nghiệm kháng thể kháng phospholipid tại viện huyết học truyền máu trung ương

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Hội chứng Antiphospholipid (APS - Antiphospholipid Syndrome) là bệnh lý tự miễn đƣợc mô tả bởi huyết khối động tĩnh mạch tái diễn hoặc sảy thai nhiều lần cùng với sự có mặt của kháng thể kháng phospholipid [1]. Xét nghiệm kháng thể kháng phospholipid là một trong những tiêu chuẩn bắt buộc trong chẩn đoán hội chứng Antiphospholipid. Sự xuất hiện của một trong các kháng thể kháng phospholipid (bao gồm cả kháng đông lupus (LA), kháng thể kháng β2glycoprotein, kháng thể kháng cardiolipin) đều có vai trò trong chẩn đoán APS. Mặt khác, kháng thể kháng phospholipid còn gặp trong một số bệnh lý tự miễn, nhiễm trùng, ung thƣ.

Các nghiên cứu về kháng thể kháng phospholipid đã bắt đầu từ những năm đầu của thế kỷ 20. Trải qua gần 100 năm, các nhà khoa học ngày càng tìm ra đƣợc nhiều loại kháng thể kháng phospholipid cũng nhƣ chứng minh đƣợc vai trò của các loại kháng thể này với sự xuất hiện của huyết khối và sảy thai liên tiếp. Năm 1997, lần đầu tiên công bố về xếp loại hội chứng Antiphospholipid, sau đó các tiêu chuẩn chẩn đoán, xếp loại và điều trị APS ngày càng đƣợc hoàn thiện. Ba loại kháng thể có vai trò quan trọng nhất đƣợc đề cập tới đó là kháng đông lupus (LA), kháng thể kháng β2 - glycoprotein (a GPI), kháng thể kháng cardiolipin (a CL).

Các xét nghiệm xác định kháng thể nêu trên đƣợc đƣa vào tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đồng thời có ý nghĩa trong theo dõi động học và đáp ứng điều trị APS [1]. Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về APS và sảy thai liên tiếp. Theo thống kê, APS là nguyên nhân của khoảng 20% phụ nữ có sảy thai liên tiếp. Một số nghiên cứu về tình trạng sảy thai hay các dấu hiệu lâm sàng của APS đã đƣợc tiến hành tại Việt Nam.

Theo một nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ƣơng, có đến 47,9% sản phụ có tiền sử sảy thai liên tiếp có dƣơng tính một trong ba loại kháng thể kháng phospholipid. Tỷ lệ dƣơng tính với các loại kháng thể cũng khác nhau [2]. Tại viện Huyết học – Truyền máu Trung ƣơng, các xét nghiệm phát hiện chất kháng đông lupus (LA), kháng thể kháng β2 - Glycoprotein, kháng thể kháng Cardiolipin đang đƣợc thực hiện thƣờng quy với các bệnh nhân có nghi ngờ kháng thể kháng phospholipid lƣu hành. Tại 4 Việt Nam, những nghiên cứu tìm hiểu đặc điểm các xét nghiệm đông máu và kháng thể kháng phospholipid còn chƣa nhiều.

Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đặc điểm một số xét nghiệm đông máu và xét nghiệm kháng thể kháng phospholid với hai mục tiêu: 1. Nghiên cứu đặc điểm một số xét nghiệm đông máu và xét nghiệm kháng thể kháng phospholipid ở bệnh nhân khám và điều trị tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương giai đoạn 2017-2018. Bước đầu khảo sát diễn biến động học các xét nghiệm kháng thể kháng phospholipid ở một số bệnh nhân sau 12 tuần. 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

SINH LÝ ĐÔNG CẦM MÁU Đông cầm máu là sự thay đổi tình trạng vật lý của máu để chuyển một loại protein hòa tan thành dạng gel rắn là sợi huyết nhằm mục đích lấp chỗ tổn thƣơng thành mạch hạn chế mất máu đồng thời cũng tham gia duy trì tình trạng lỏng của máu [3]. Quá trình đông cầm máu bao gồm các tác động qua lại mật thiết giữa ba thành phần: Thành mạch, các tế bào máu và các protein huyết tƣơng hoạt động dƣới hình thức phản ứng men. Quá trình này hoạt động theo yêu cầu và bị điều hòa bởi các yếu tố thần kinh và thể dịch [3]. Trong cơ thể luôn có sự cân bằng giữa hai hệ thống: Làm đông máu và chống lại quá trình đông máu.

Một hệ thống mang tính bảo vệ cơ thể tránh chảy máu, một hệ thống đóng vai trò gìn giữ lƣu thông lòng mạch để luôn bảo đảm tuần hoàn duy trì sự sống. Mất cân bằng hai hệ này sẽ dẫn đến hậu quả làm tắc mạch hoặc chảy máu [3][4]. Những yếu tố tham gia hoạt hoá quá trình đông-cầm máu Nội mạc và dƣới nội mạc huyết quản: Khi có tổn thƣơng thành mạch làm lớp dƣới nội mạc tiếp xúc với máu sẽ hoạt hoá tiểu cầu và các yếu tố tiếp xúc. Tiểu cầu: Chức năng dƣỡng mạch, tạo nút tiểu cầu mà vấn đề chính cho chức năng này là những phản ứng: Dính, giải phóng, ngƣng tập tiểu cầu, làm co mạch ở chỗ tổn thƣơng và tham gia vào quá trình đông máu và ảnh hƣởng đến quá trình tiêu sợi huyết [3].

Dính tiểu cầu: Sau khi mạch máu bị tổn thƣơng, tiểu cầu dính vào tổ chức liên kết dƣới nội mạc. Chức năng chính này dựa vào một phần yếu tố von-Willebrand trong huyết tƣơng. Dính tiểu cầu cũng phụ thuộc vào glycoprotein của màng tiểu cầu. Phản ứng giải phóng: Collagen hoặc thrombin tác động đi đến giải 6 phóng các chất từ các hạt tiểu cầu trong đó có ADP, serotonin, fibrinogen, lysosoman, enzym và yếu tố 4 tiểu cầu (yếu tố chống heparin) collagen và thrombin hoạt hoá tiểu cầu tổng hợp prostaglandin dẫn đến hình thành một chất không ổn định là thromboxan A2 làm giảm AMP vòng của tiểu cầu và bắt đầu phản ứng giải phóng.

Phản ứng giải phóng bị ức chế bởi một chất có tác dụng làm tăng AMP vòng của tiểu cầu, đó là prostaglandin prostacyclin (PGI2) đƣợc tổng hợp ở dƣới nội mạc [3]. Ngưng tập tiểu cầu: ADP và thromboxan A2 đƣợc giải phóng tạo ra những đám dính tiểu cầu ở chỗ thành mạch bị tổn thƣơng. ADP làm cho tiểu cầu trƣơng lên và màng các tiểu cầu kề nhau dính chặt vào nhau, cứ nhƣ vậy phản ứng giải phóng tiếp ADP và thromboxan A2 dẫn đến ngƣng tập thứ phát và kết quả là dính tiểu cầu hình thành một khối tiểu cầu đủ lớn để nút vùng nội mạc bị tổn thƣơng. Các yếu tố đông máu huyết tƣơng: Các yếu tố đông máu đều là những glycoprotein, về phƣơng diện chức năng chúng thuộc những nhóm khác nhau tuỳ theo chúng là zymogen, đồng yếu tố hoặc chỉ là cơ chất nhƣ fibrinogen.

Tám yếu tố là zymogen nghĩa là những protein có khả năng chuyển thành một chất có hoạt tính enzym. Yếu tố XIII là zymogen của một transglutaminase. Prekallikrein và các yếu tố XII, XI, IX, X, VII, II đều là những zymogen của serin protease [3]. - Yếu tố tổ chức: Sự tiếp xúc của máu với tổ chức dập nát sẽ phát động quá trình đông máu, khởi phát do một lipoprotein gọi là yếu tố tổ chức hay thromboplastin ngoại sinh.

Các phần lipid và protein của yếu tố tổ chức đều cần thiết cho đông máu nhƣng tính đặc hiệu nằm trên phần protein. Yếu tố tổ chức không có hoạt tính enzym nhƣng tác động nhƣ một đồng yếu tố trong hoạt hoá yếu tố VII, X. - Ion canxi: Ion canxi tạo thuận lợi cho các protein phụ thuộc vitamin K kết hợp với phospholipid. Những ion này cũng can thiệp vào các phản ứng không có liên 7 quan đến protein phụ thuộc vitamin K và cũng cần thiết cho sự thể hiện hoạt tính enzym của yếu tố XIIIa, cho sự ổn định yếu tố V và phức hệ yếu tố von- Willebrand và yếu tố VIII: C.1: Các yếu tố đông máu huyết tƣơng Tên gọi cũ Tên gọi hiện nay Yếu tố I Fibrinogen Yếu tố II Prothrombin Yếu tố III Yếu tố tổ chức, Thromboplastin Yếu tố IV Ion Canxi (hiện nay không xếp vào yếu tố đông máu) Yếu tố V Proaccelerin, Plasma Accelerator Globulin Yếu tố VII Proconvertin Yếu tố VIII Yếu tố chống Hemophilia A Yếu tố IX Yếu tố chống Hemophilia B, Yếu tố Christmas Yếu tố X Yếu tố Stuart Yếu tố XI Yếu tố chống Hemophilia C, Plasma Thromboplastin Antecedent Yếu tố XII Yếu tố Hageman, yếu tố tiếp xúc Yếu tố XIII Yếu tố ổn định sợi huyết Prekallikrein Yếu tố Fletiểu cầuher High Molecular Weigh Yếu tố Fitzgerald Kininogen (H.

Các giai đoạn của cơ chế đông-cầm máu 1. Giai đoạn cầm máu ban đầu: Xảy ra ngay khi thành mạch bị tổn thƣơng. Khi thành mạch bị tổn thƣơng, lớp dƣới nội mạc bị bộc lộ và tiểu cầu dính vào lớp dƣới nội mạc với sự có mặt của yếu tố von-Willebrand và yếu tố tiểu cầu GPIb. + Tiểu cầu dính vào tổ chức dƣới nội mạc và giải phóng ra các sản phẩm ADP, serotonin, epinephrin và các dẫn xuất của prostaglandin, đặc biệt là thromboxan A2.

Một số sản phẩm này thúc đẩy quá trình ngƣng tập tiểu cầu. + Các tiểu cầu dính vào nhau, kết quả là hình thành nút tiểu cầu mà bắt đầu từ sự kết dính tiểu cầu vào lớp dƣới nội mạc. Nút tiểu cầu nhanh chóng lớn lên về mặt thể tích và sau một vài phút hoàn thành nút chỗ mạch máu bị tổn thƣơng. Đây là quá trình phức tạp với phản ứng co mạch, kết dính tiểu cầu, phản ứng giải phóng, ngƣng tập tiểu cầu và làm hoạt hoá quá trình đông máu.

Yếu tố 3 tiểu cầu là một phospholipid bề mặt đƣợc bộc lộ khi nút tiểu cầu hình thành và tham gia thúc đẩy quá trình đông máu. Nút tiểu cầu ban đầu chỉ đảm bảo cầm máu tạm thời ở những mạch máu nhỏ. Để cầm máu ở những mạch máu lớn bị tổn thƣơng cần phải có sự hình thành cục đông qua từng bƣớc của quá trình đông máu với sự tham gia của các yếu tố đông máu huyết tƣơng [3]. Giai đoạn đông máu huyết tương Sự hoạt hoá đông máu có thể phát động bằng đƣờng nội sinh do sự tiếp xúc của máu với bề mặt mang điện tích âm (cấu trúc dƣới nội mạc huyết quản in vivo, thuỷ tinh hoặc kaolin in vitro), hoặc bằng đƣờng ngoại sinh do sự can thiệp của yếu tố tổ chức.

Cả hai đƣờng đều dẫn đến sự hoạt hoá yếu tố X thành Xa, là yếu tố tác động biến prothrombin thành thrombin - một enzym xúc tác chuyển fibrinogen thành fibrin. Yếu tố XIII có nhiệm vụ ổn định fibrin mới đƣợc tạo thành. Các sợi fibrin tạo thành dạng lƣới chứa các đám dính tiểu cầu ở chỗ tổn thƣơng, nút tiểu cầu ban đầu không bền vững thành vững chắc và cuối cùng là cục máu ổn định có đủ khả năng cầm máu. 9 Cả dòng thác các phản ứng enzym với sự có mặt các yếu tố đông máu xảy ra ở chỗ tổn thƣơng.

Trừ fibrinogen, các yếu tố đông máu khác là những tiền enzym hoặc đồng yếu tố. Tất cả các enzym, trừ yếu tố XIII, đều là các serin protease tức là các chất có khả năng thuỷ phân các dây peptid. Đây là hệ thống hoạt động rất mạnh: Chỉ cần một phân tử gam yếu tố XI hoạt hoá, có thể liên tục hoạt hoá yếu tố IX, X và prothrombin để đi đến hình thành 2 x108 phân tử gam fibrin [4].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu đặc điểm xét nghiệm đông máu và kháng thể kháng phospholipid tại Viện Huyết học Truyền máu Trung ương là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích các đặc điểm xét nghiệm liên quan đến quá trình đông máu và sự hiện diện của kháng thể kháng phospholipid. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp những hiểu biết quan trọng về cơ chế đông máu mà còn hỗ trợ chẩn đoán và điều trị các bệnh lý liên quan, đặc biệt là trong lĩnh vực huyết học. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các chuyên gia y tế, nhà nghiên cứu và sinh viên ngành y.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu y học và khoa học, bạn có thể tham khảo thêm 2 tóm tắt luận án tiến sĩ tiếng việt ncs nguyễn khắc tấn, một tài liệu chuyên sâu về các nghiên cứu y học. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng pahs trong trà cà phê tại việt nam và đánh giá rủi ro đến sức khỏe con người cung cấp góc nhìn về tác động của hóa chất đến sức khỏe, một chủ đề liên quan đến y học và môi trường. Cuối cùng, Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp nghiên cứu và ứng dụng trong khoa học. Hãy khám phá để có cái nhìn toàn diện hơn!