ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một trong 16 nƣớc có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới. Đây là tiềm năng thực sự góp phần làm nền tảng cho chiến lƣợc bảo vệ và phát triển bền vững ĐDSH Việt Nam. Hệ động vật đóng vai trò hết sức quan trọng về nghiên cứu khoa học nhằm tìm ra các nguyên lý, cơ chế sinh học, sinh lý học, phục vụ cho việc phòng và chữa bệnh, nâng cao sức khoẻ cộng đồng, còn là ngân hàng gen sống vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho con ngƣời.Trong khoảng 20 năm trở lại đây với những thành tự đáng khích lệ nhƣ phát hiện đƣợc nhiều loài động vật cỡ lớn và trung bình mới cho khoa học. Trong đó có 5 loài thú, 3 loài chim và 2 loài cá.
Bên cạnh đó, thì mức độ đe dọa nghiêm trọng đối với các loài động vật hoang dã nói chung và các loài thú móng guốc ngón chẵn nói riêng ở Việt Nam đáng báo động. Đặc biệt, một số loài nguy cấp, quý, hiếm bị đe dọa và có nguy cơ suy giảm nhiều về số lƣợng, chúng đang đứng trƣớc nguy cơ bị tuyệt chủng.Theo Sách đỏ Việt Nam năm 1992 [5] mới chỉ có 721 loài động, thực vật bị đe dọa ở các mức khác nhau thì đến năm 2007 [6] số loài này đã lên đến 882. Năm 2011, cá thể Tê giác Java (Rhinoceros sondaicus annamiticus) cuối cùng của Việt Nam đã bị tuyệt chủng, một số loài khác đang bị đe đọa tuyệt chủng nhƣ Voi, Hổ, Báo. Việt Nam hiện có 18 loài thú móng guốc ngón chẵn (thú MGNC) thì có tới 08 loài đang có nguy cơ bị tiêu diệt toàn cầu gồm: Bò xám (Bos sauveli), Bò rừng (Bos javanicus) Sao la (Pseudoryx nghetinhensis), Sơn dƣơng (Capricornis sumatraensis), Bò tót (Bos frontalis, Hƣơu cà toong (Rucervus eldii), Hƣơu xạ (Moschus moschiferus) và Lợn Java (Sus verrucosus)… Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do tình trạng khai thác, lấn chiếm đất rừng trái phép dẫn đến diện tích rừng tự nhiên bị suy giảm mạnh, các hệ sinh thái, mất rừng, đất ngập 2 nƣớc đã làm mất nơi cƣtrú, mất sinh cảnh sống.
Cùng với đó,tình hình săn bắn, mua, bán, nuôi nhốt, sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật hoang dã, thú chơi động vật rừng ngày cáng gia tăng. Ngƣợc lại công tác quản lý rừng, bảo vệ động vật hoang dã chƣa thực sự có hiệu quả, ý thức ngƣời dân còn nhiều hạn chế. Khu Bảo tồn thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai (Khu Bảo tồn), trực thuộc Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai với tổng diện tích tự nhiên hơn 100.000 ha nằm ở phía Bắc của tỉnh Đồng Nai thuộc tiểu vùng Bảo tồn sinh thái lƣu vực sông Đồng Nai nằm trong hệ sinh thái Trƣờng Sơn, là một trong 13 vùng ƣu tiên bảo tồn của khu vực Đông Nam Á (Baltzer et al và cộng sự,2001). Theo kết quả điều tra danh lục động, thực vật của Khu Bảo tồn năm (2009), [8]bƣớc đầu ghi nhận: Thực vật có 1.552 loài thuộc 663 chi, 166 họ, 95 bộ và 6 ngành thực vật khác nhau.711 loài, gồm: 85 loài thú, 284 loài chim, 64 loài bò sát, 33 ếch nhái, và 1.245 loài côn trùng.
Ngoài ra còn có 108 loài cá và 12 loài tôm nƣớc ngọt. Để từng bƣớc thúc đẩy khả năng phục hồi và bảo tồn các loài động vật hoang dã quy hiếm này, Khu Bảo tồn cùng các nhà khoa học đã và đang triển khai nhiều giải pháp kỹ thuật. Tuy nhiên, do chƣa có những hiểu biết đầy đủ và đồng bộ về các loài động vật thuộc nhóm guốc chẵn, khả năng phân bố theo từng sinh cảnh của chúng. Do đó, các dẫn liệu về các loài động vật hoang dã quý hiếm ở đây còn ít, thiếu tính hệ thống và chuyên sâu.
Xuất phát từ những thực tiễn trên, tôi chọn thực hiện đề tài: “ Đặc điểm sinh cảnh và phân bố thú móng guốc chẵn (Artiodactyla) tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên-Văn hóa Đồng Nai” Đề tài thực hiện nhằm bổ sung dữ liệu mới nhất về đặc điểm sinh cảnh và tình trạng quần thể các loài thuộc nhóm guốc chẵn để làm cơ sở cho công tác bảo tồn. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm phân loại bộ móng guốc chẵn (Artiodactyla) Hiện nay các nghiên cứu về phân loại động vật hoang dã nói chung và thú móng guốc nói riêng, đã đƣợc nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu điển hình nhƣ một số tác giả. Wilson, Dee Ann M.
Reeder (1992), thú móng guốc ngón chẵn trên thế giới có 263 loài đƣợc xếp vào 9 họ. Hill (1992), thú móng guốc ngón chẵn ở vùng Ấn Độ - Mã Lai có 59 loài đƣợc xếp vào 6 họ nếu kể 4 loài mới đƣợc phát hiện tại Việt Nam thì con số là 63 loài. (2008) [42] Sách hƣớng dẫn nhận diện một số loài thú Đông Nam Á Các nghiên cứu về thú móng guốc thú móng guốc chẵn (MGC) đã chỉ ra rằng, thú MGC gồm các loài thú có kích thƣớc cơ thể từ rất lớn tới trung bình. Hà mã (Hippopotamus amphibius) loài có kích thƣớc và trọng lƣợng cơ thể lớn nhất, nặng tới 4.500 kg và loài nhỏ nhất là Cheo cheo lƣng bạc (Tragulus versicolor), nặng khoảng 1,5 - 2,5 kg.
Các chân đều mang số ngón chẵn (2 hoặc 4 ngón), có guốc. Thú MGC thƣờng đi bằng đầu ngón chân thứ III và thứ IV nên các ngón này rất lớn và có kích thƣớc gần bằng nhau. Ngón thứ nhất đã bị tiêu biến, ngón thứ II và thứ V bị tiêu giảm về kích thƣớc. Chỉ ở một số loài (họ Lợn Suidae) cả 4 ngón đều hoạt động, còn ở hầu hết các loài khác chỉ có 2 ngón (thứ III và IV) hoạt động, 2 ngón khác nhỏ và hầu nhƣ không chạm đất, trừ khi đất quá xốp và mềm.
Theo Đặng Huy Huỳnh (1986) [25], Lekagul et al. (1988) [45], Hutchins et al. (2004) [44], Đặng Huy Huỳnh và cs. (2008) [28], Nguyễn Xuân Đặng và cs.
(2009) [14], Đặng Huy Huỳnh và cs. 4 Một số nghiên cứu về phân loại thì Thú MGC đƣợc chia thành 2 nhóm: nhóm có sừng và nhóm không có sừng. Nhóm không có sừng gồm các loài thuộc họ Cheo cheo (Tragulidae), họ Lợn (Suidae), họ Lợn Taya (Tayassuidae) và họ Hƣơu xạ (Moschidae). Các loài này có răng nanh phát triển dài để thực hiện chức năng bảo vệ thay cho sừng.
Nhóm có sừng bao gồm các họ còn lại. Tuy nhiên, kích thƣớc và nguồn gốc sừng có khác nhau. Sừng của các loài họ Hƣơu nai (Cervidae) đặc và rụng hàng năm sau mỗi mùa động dục (còn gọi là gạc). Sừng của các loài họ Trâu bò (Bovidae) rỗng trong và không rụng, phát triển liên tục suốt đời.
Chức năng chủ yếu của sừng và răng nanh là làm vũ khí đấu tranh trong loài (tranh giành vị trí đầu đàn, tranh giành thú cái trong mùa động dục,.), sau đó mới đến chức năng chống lại thú ăn thịt hoặc các loài khác (Hutchins et al. Các cá thể đực thƣờng có sừng hoặc răng nanh lớn hơn so với cá thể cái. Tùy loài, các cá thể cái có thể có sừng nhƣ ở họ Trâu bò hoặc không có sừng nhƣ ở họ Hƣơu nai. Bộ răng thích nghi với chế độ ăn của mỗi nhóm loài.
Lợn rừng có răng nanh trên rất dài, thò ra khỏi môi và mặt răng hàm có nhiều u, mấu nhỏ. Các loài nhai lại không có răng nanh trên, mặt răng hàm có nhiều gờ nhai sắc hình lƣỡi liềm. Số lƣợng răng từ 32 - 44 chiếc. Tất cả các loài trong các họ Tragulidae, Moschidae, Cervidae và Bovidae đều không có răng cửa hàm trên.
Công thức răng: (i 0–3/3, c 0–1/1, pm 2–4/2–4, m 3/3) x 2 = 30–44. Theo Đặng Huy Huỳnh và cs, 1986 [30] và Lekagul B. Thú MGC ăn thực vật và có dạ dày thích nghi với việc tiêu hóa chất xenluloza thực vật. Dạ dày đƣợc cấu tạo có 1 đến 3 ngăn, dạ dày giả nằm phía trƣớc dạ dày thật (abomasum).
Họ Lợn (Suidae) ăn tạp, dạ dày ít chuyên hoá, chỉ có 2 ngăn. Các họ khác có dạ dày phức và ruột tịt nhỏ. Họ Cheo cheo (Traguliadae) có dạ dày 3 ngăn, các họ khác có dạ dày 4 ngăn. Trong dạ dày 5 có hệ sinh vật và ký sinh trùng cộng sinh phong phú giúp phân hủy xeluloza.
Đa số các loài có đặc điểm nhai lại thức ăn. Một số tác giảSimpson 1945, Mckenna et al 1997, Janis and Scott 1987, trong Lekagul et al. 1988) [45] chia bộ MGC thành 3 phân bộ: - Phân bộ Không nhai lại (Non-ruminantia) hoặc Phân bộ Lợn (Suina): Răng hàm có mấu, răng nanh lớn sinh trƣởng liên tục, dạ dày đơn, ngón II và ngón V phát trển. Phân bộ này có 3 họ là họ Lợn (Suidae), Hà mã (Hippopotamidae) và họ Lợn Taia (Tayassuidae).
- Phân bộ Nhai lại (Ruminantia): Răng hàm có nếp sắc hình bán nguyệt, thiếu răng cửa và thƣờng thiếu cả răng nanh. Dạ dày phức tạp chia 4 ngăn. Phân bộ này có 05 họ: họ Hƣơu nai (Cervidae), họ Hƣơu cao cổ (Giraffidae), họ Trâu bò (Bovidae), họ Cheo cheo (Tragulidae) và họ Linh dƣơng (Antilocapridae). - Phân bộ Chân chai (Tylopoda): gồm các loài Lạc đà.
Thiếu răng nanh và răng cửa ở cả hai hàm, răng hàm có mặt nhai phẳng, dạ dày tƣơng đối phức tạp. Ngón I, II và V thiếu. Chỉ có 1 họ Lạc đà (Camelidae) phân bố ở sa mạc Trung Á. Ba họ có số loài lớn nhất là: họ Trâu bò với 143 loài, họ Hƣơu nai với 51 loài và họ Lợn với 19 loài.
Các họ còn lại đều có dƣới 10 loài. Wilson et al. Tình hình nghiên cứu thú MGC ở Việt Nam Nghiên cứu thú MGC ở Việt Nam đƣợc bắt đầu từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 cùng với lịch sử nghiên cứu thú (Mammalia) của Việt Nam, Đặng Huy Huỳnh và cs 2007) [27]. Trƣớc năm 1955, các nhà nghiên cứu nƣớc ngoài 6 khảo sát nhằm phát hiện và mô tả các loài thú ở Việt Nam.
Từ sau năm 1955, nhà khoa học Việt Nam tham gia nghiên cứu thú MGC ngày càng nhiều và phạm vi nghiên cứu dần đƣợc mở rộng ra nhiều vùng miền khác nhau của cả nƣớc. Các nghiên cứu tập trung vào 2 hƣớng chính là: thống kê thành phần loài thú MGC ở các vùng miền và nghiên cứu sinh học, sinh thái của một số loài có giá trị kinh tế hoặc giá trị bảo tồn cao. Về thống kê thành phần loài có các công trình lớn nhƣ: - Van Peenen và cs (1969),Thống kê đƣợc 11 loài thú MGC ở các tỉnh miền Nam Việt Nam [50]. - Đặng Huy Huỳnh và cs.
- Đào Văn Tiến (1985),[38] Thống kê đƣợc 7 loài thú MGC ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam. - Đặng Huy Huỳnh và cs (1994),Thống kê đƣợc ở Việt Nam có 15 loài thú MGC [26].