Chương 1. TRẦN VẠN GIÃ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO Nội dung tìm hiểu của Chương này tập trung vào các vấn đề về cuộc 12 đời, sự nghiệp, những chặng đường thơ của Trần Vạn Giã và vị trí của nhà thơ trong tiến trình thơ hiện đại Việt Nam. THƠ TRẦN VẠN GIÃ NHÌN TỪ CÁI TÔI TRỮ TÌNH, CẢM HỨNG SÁNG TẠO VÀ HỆ THỐNG CHỦ ĐỀ Thông qua việc tìm hiểu sự phát triển của tư duy thơ, sự vận động của cái tôi trữ trình trong thơ Trần Vạn Giã trước, sau 1975, 2000 và hệ thống cảm hứng, đề tài cơ bản trong thế giới nghệ thuật của các thi phẩm mà Trần Vạn Giã đã xuất bản từ trước đến nay, chúng tôi sẽ khái quát những đặc điểm cơ bản về phương diện nội dung của thơ Trần Vạn Giã. THƠ TRẦN VẠN GIÃ NHÌN TỪ NGÔN NGỮ, GIỌNG ĐIỆU VÀ KHÔNG – THỜI GIAN NGHỆ THUẬT Nội dung nghiên cứu của Chương này tập trung đi sâu những vấn đề về ngôn ngữ, giọng điệu và không – thời gian nghệ thuật trong thơ Trần Vạn Giã.
Thông qua sự so sánh nội tại trong hành trình sáng tạo của Trần Vạn Giã, chúng tôi sẽ nêu bật những đổi mới và cách tân về đặc điểm nghệ thuật trong thế giới thơ của ông trong giai đoạn trước và sau 1975 và đặc biệt là chặng đường sau năm 2000. TRẦN VẠN GIÃ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO 1. Trần Vạn Giã – Con người và sự nghiệp 1. Tiểu sử nhà thơ Trần Vạn Giã có tên khai sinh là Trần Ngọc Ẩn sinh ngày 2 tháng 2 năm 1945 tại Tu Bông, Vạn Giã, thuộc huyện Vạn Ninh tỉnh Khánh Hòa.
Nguyên quán tại Huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Quê cha ông ở Nghệ An, quê mẹ ở miền đồi cát Vân Phong, Khánh Hòa. Sau này, ông lấy bút danh Trần Vạn Giã là nơi sinh ra của mình. Trần Vạn Giã sớm mất cha từ khi còn trong bụng mẹ.
Cha ông vốn một người xứ Nghệ. Cuối năm 1944, trên đường về xứ Nghệ, lúc quay lại vì chiến tranh, cha ông đã dừng lại bên đèo Cả và bặt vô âm tín từ đó. Ông sống suốt tuổi thơ bên người mẹ miền Trung chịu thương, chịu khó, nơi triền cát Tu Bông lẻ loi suốt tuổi xuân thì. Tuổi thơ Trần Vạn Giã chịu nhiều vất vả vì thiếu ăn nhưng chưa bao giờ ông sống trong buồn khổ vì điều đó.
Ông biết ơn và yêu thương mẹ vô cùng. Người mẹ miền gió cát Tu Bông ấy là hình tượng đẹp đẽ trong sáng tác thơ ca của ông: Con bỏ quê lên phố Mẹ ở lại với làng Gom nỗi buồn trong gió (Thưa mẹ con đi) Ông thường xuyên mơ, khóc và cười với mẹ trong tiềm thức của mình. Ngoài mẹ, ông còn được sống trong vòng tay của bà nội những năm tháng tuổi thơ. Ông từng tâm sự: “Khi bé thơ tôi hay ra rừng bần ngồi dưới gốc bần xù xì, thô ráp ngước lên vòm xanh với những tán lá lăn tăn, thấp thoáng chùm quả mà ngỡ đó là bóng cha.
Vì cây bần im lìm quá đến những cơn gió thổi ào ạt qua lá cũng không phát ra âm thanh. Đúng là hình dáng cha tôi” [Rặng bần]. Hình ảnh của người cha chưa từng biết mặt cũng luôn lẩn quất trong tim và ký ức của nhà thơ. Lớn lên Trần Vạn Giã làm đủ nghề phiêu dạt khắp nơi 14 để kiếm sống và đi học.
Ông làm công nhân bốc vác, bán báo dạo, dạy học, viết báo, làm thơ… Cuộc đời lận đận vất vả đeo đuổi ông suốt hai phần ba cuộc đời. Trần Vạn Giã bắt đầu làm thơ từ năm 18 tuổi. Những tác phẩm của ông được đăng trên các tạp chí Trình bày, Đối diện, Làm dân, Tiếng nói, Nhân sinh… Năm 1971, ông cùng bạn bè chủ biên tạp chí Nhân sinh, lên án chính sách văn hóa của thực dân mới ở miền Nam Việt Nam. Ông bị bắt ở tù và đi đày, đi lao công nhiều lần vì tham gia hoạt động yêu nước chống bắt lính, đôn quân.
Sau năm 1975, Trần Vạn Giã làm phóng viên báo Khánh Hòa và đi kinh tế mới ở vùng Đất Sét, đây là vùng kinh tế mới thuộc huyện Diên Khánh. Mười ba năm cuốc đất làm thơ. Sau đó, ông trở về sống tại thành phố Nha Trang, công tác ở Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tỉnh Khánh Hòa năm nhiệm kỳ. Trong thời gian này, ông vẫn tiếp tục làm thơ và đăng lên trên các báo Văn nghệ Việt Nam, Tác phẩm Mới, Diễn đàn, Nhà văn, Phụ trang thơ… Năm 1982 ông là một trong những thành viên thuộc đoàn trí thức văn nghệ sĩ miền Nam đi Liên Xô học tập và công tác.
Đến khi trở về, ông tiếp tục công việc cũ cho đến nay. Trần Vạn Giã như bao người sinh ra và lớn lên trong buổi loạn li của đất nước, phải trải qua rất nhiều khó khăn, gian khổ để có được cuộc sống của thời bình. Những chặng đường đã qua ông đều ghi dấu sâu đậm trong thơ, trang thơ của một con người sống và cống hiến hết mình trên trang viết. Sự nghiệp sáng tác Sự nghiệp sáng tác của Trần Vạn Giã gắn liền với hai giai đoạn trước và sau 1975.
Trước năm 1975, tập thơ đầu tiên được sáng tác là Hồn chữ viết năm 1963, nhưng sau năm 1975 mới được in thành tập. Nhà thơ ghi nhiều dấu ấn ở hai tập Miên ca hòa bình sáng tác và được in thành tập năm 1971, Đi trong rừng biểu ngữ sáng tác năm 1974 và được in thành tập sau năm 1975. Sau năm 1975, ông vẫn hăng say sáng tác. Chủ đề được nhắc đến trong thơ ông phong phú hơn.
Những tập thơ tiêu biểu như Tình yêu đẹp như bài thơ, 15 Gió đưa khói bếp lên trời, Những bài thơ thời chưa bạc tóc, Lục bát quê nhà… Thơ Trần Vạn Giã được đăng trên các báo và tạp chí như Văn nghệ, Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, Văn nghệ Trẻ, Báo Thanh Niên, Báo Tuổi Trẻ, Khánh Hòa…. Trần Vạn Giã cũng được ghi nhận ở những giải thưởng trong các cuộc thi của hội văn nghệ, giải thưởng văn học của tỉnh và được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam. Những tập thơ đã được xuất bản như: Hồn chữ, Đi trong rừng biểu ngữ , Tình yêu đẹp như bài thơ, Gió đưa khói bếp lên trời , Trầm tư với lá, Lục bát nhà quê, Mạch nguồn thơ vẫn chảy trong lòng xứ sở, Gió cuối ngày tháng Chạp, Dòng sông không chịu nỗi buồn, Những bài thơ thời chưa tóc bạc, Hàn Mặc Tử và bóng đêm ở Qui Hoà, Lời nguyện cầu bên bờ sông Chò, Sự tái tạo của đất nâu sau thời ôn dịch. 13 tập thơ là kết quả của quá trình sáng tạo miệt mài và đặt tình yêu thiết tha vào con chữ.
Ông là một trong số những nhà thơ đương đại hăng hái viết và liên tục cho ra đời những đứa con tinh thần trong sự đón nhận, chờ đợi của bạn đọc khắp nơi. Dù “cơm áo không đùa với khách thơ” nhưng Trần Vạn Giã vẫn chưa bao giờ nguôi quên sứ mệnh của người cầm bút. Hành trình sáng tạo của Trần Vạn Giã 1. Giai đoạn trước 1975 Trần Vạn Giã là nhà thơ đại diện của lớp nhà thơ sinh trưởng trong thời kỳ đất nước bị chia cắt bởi khói lửa chiến tranh.
Thời kỳ khắp nơi ở miền Nam dấy lên phong trào đấu tranh vũ trang đòi Mỹ thi hành Hiệp định Genève đòi quyền dân sinh dân chủ, Trần Vạn Giã theo con đường chung của cả dân tộc sáng tác những vần thơ làm thức tỉnh dân tộc, thức tỉnh tuổi trẻ. Với giác quan nhạy bén, ông sớm nhận diện kẻ thù và xác định vai trò của bản thân trong cuộc chiến đấu. Trong chặng đường đầu tiên nhà thơ đã kịp thời phản ánh không khí sục sôi của cuộc đấu tranh anh dũng của cuộc đấu tranh anh dũng của cả nước qua các sáng tác hừng hực khí huyết của tuổi trẻ cứu nước. Các tác phẩm như Bến chờ, Đếm xác hồi hương, Lời tự tình của mẹ, 16 Lòng vẫn thiết tha, Thưa mẹ con về… được đăng trên các tạp chí nổi tiếng như Trình bày, Đối diện… Cũng trong thời gian này, 1955-1975, ngoài những bài thơ lẻ, tác giả cũng sáng tác tập thơ Hồn chữ thể hiện tâm thức lạc loài của thế hệ trẻ trong thời đại quá nhiều mất mát, đau thương: “Tập thơ Hồn chữ tôi viết từ năm 1963, năm biến động dữ dội trong đời sống xã hội ở miền Nam Việt Nam.
Tuổi trẻ tôi bị chiến tranh bắt buộc phải từ bỏ học đường và không còn cách nào hơn tôi đã ẩn trú trong một góc rừng bên ngôi chùa cô tịch, sống tạm bợ nơi đây trong nỗi khát khao hòa bình và dằn vặt trong thơ” [13; tr. Mãi 50 năm sau tập thơ mới được xuất bản. Một số bài trong tập thơ được đăng trên các tạp chí, các báo như Sông Hương, Thanh niên, Phụ trang thơ Tuyển tập lục bát miền Nam. Trong khoảng thời gian này, thơ Trần Vạn Giã mang màu sắc trầm buồn thể hiện sự yếm thế, bế tắc.
Nhiều bài thơ mang âm hưởng thiền, kinh thánh. Trần Vạn Giã tìm đến tôn giáo như một nơi để giải thoát cho tâm hồn nhiều bi thương trôi nổi của mình. Nhưng đó chỉ là khoảnh khắc nhất thời của một tâm hồn chưa bắt nhịp với thời đại chưa giải phóng tư tưởng cũng như chưa nhìn thấy lý tưởng rõ ràng cần dấn thân. Về sau, khi chiến tranh ngày càng ác liệt, Trần Vạn Giã đã bắt nhịp với không khí đấu tranh sôi nổi của lớp thanh niên đương thời để hào hứng xung phong ra trận.
Đi qua rừng biểu ngữ là tác phẩm để lại nhiều dấu ấn trong chặng đường sáng tác trước năm 1975 của nhà thơ. Tác phẩm là những đổi thay tích cực trong tư tưởng, trong thế giới quan, trên hành trình sáng tác của ông. Nhà thơ đã tìm thấy ánh sáng lý tưởng của con đường cần dấn thân. Đó chính là đứng về phía nhân dân, đó là đấu tranh để bản thân thôi day dứt và trở thành con người có giá trị giữa cuộc đời.
Với Miên ca hòa bình, Trần Vạn Giã trực tiếp bộc lộ tâm trạng của lớp thế hệ thanh niên vì chiến tranh phải cầm súng ra trận. Sự chết chóc, khổ đau, uất hận, trở thành nỗi ám ảnh trên từng trang viết của nhà thơ trong giai đoạn này. “Tôi đã viết về chính nỗi đau của mình. Bởi tôi có thể sẽ là nạn nhân của cuộc chiến” (Trần Vạn Giã trả lời 17 phỏng vấn về quan niệm thơ, ngày 7 tháng 12 năm 2016) [26; tr.
Thơ Trần Vạn Giã trở thành những thước phim sống động về hiện thực cuộc chiến với thân phận con người thời khói lửa, đau khổ, li tan.