ĐẶT VẤN ĐỀ Tre trúc là tập hợp các loài thực vật thuộc họ Hoà thảo (Poaceae), các loài Tre trúc rất đa dạng, và phong phú, phân bố rộng khắp trên việt nam cũng nhƣ thế giới. Tre trúc dễ trồng, sinh trƣởng nhanh và dễ dàng khai thác. Tre trúc có vai trò rất lớn trong việc chắn bão lũ, bảo vệ môi trƣờng sống. Ngoài ra Tre trúc có tác dụng rất lớn đối với nền kinh tế của đất nƣớc và đời sống của nhân dân, đặc biệt là với đời sống ngƣời dân vùng miền núi.
Nhƣng thời gian gần đây việc khai thác các loài Tre trúc đang diễn ra khá nhiều và phổ biến, làm sụt giảm trầm trọng nguồn thực vật Tre trúc, và làm các loài Tre trúc có đang có nguy cơ bị tuyệt chủng hàng loạt. Theo thống kê, trên thế giới tre trúc có khoảng 1000 loài, trong đó ở Việt Nam chúng ta có 123 loại, mỗi cây một vẻ, thân hình đa dạng, màu sắc phong phú nhƣ: Vầu xanh, Trúc dây, Tre gai, Lồ ô, Luồng, Bƣơng, Mai… trong đó có Bƣơng mốc. Bƣơng mốc (Dendrocalamus velutinus N. Vu) là loài cây có thể cao 13-15m, đƣờng kính 20- 25cm, đƣợc đƣợc một số đồng bào dân tộc vùng cao gieo trồng, cụ thể nhƣ đồng bào dân tộc ngƣời Dao trồng trên sƣờn và chân núi Ba Vì từ khi họ di cƣ đến vùng này, ngƣời Thái ở tỉnh Điện Biên.
Bƣơng mốc cho măng ăn rất ngon, là nguồn thực phẩm quý, có chất lƣợng cao, năng suất cao, ngoài ra là loài thân gỗ lớn là cây có nhiều tác dụng nhƣ làm vật liệu xây dựng, đồ sinh hoạt, cho đến làm nguyên liệu xuất khẩu nhƣ than hoạt tính, hơn thế nữa kỹ thuật chăm sóc Bƣơng mốc lại không đòi hỏi thâm canh với cƣờng độ cao. Nếu đƣợc chăm sóc tốt thì loài Bƣơng mốc một năm có thể đem lại nguồn lợi kinh tế lớn cho ngƣời dân từ việc thu hoạch chúng. Nên là nguồn sống quan trọng của một bộ phận ngƣời dân ở nƣớc ta. Bƣơng mốc vừa là loài có giá trị kinh tế cao lại vừa có giá trị về môi trƣờng.
Hiện nay ở việt nam cũng đã có những công trình nghiên cứu về loài, nhƣng còn dừng lại ở mức độ nhất định. Đặc biệt chúng ta còn có ít các nghiên cứu cụ thể về đặc điểm sinh thái của loài ở nhiều khu vực khác nhau.Nhằm 1 làm cơ sở để so sánh, đánh giá, nhằm quản lý và phát triển nguồn tài nguyên này.Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của loài Bương mốc (Dendrocalamus velutinus N. Vu) trồng tại Ba Vì và Hòa Bình”. Đề tài nhằm góp phần đánh giá đƣợc thực trạng tình hình gây trồng, và đặc điểm của loài bƣơng mốc ở hai khu vực điều tra.
Từ đó làm cơ sở cho việc nghiên cứu khai thác sử dụng hợp lí loài cây này. 2 PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1.1 Những nghiên cứu về phân loại và phân bố các loài tre trúc trên thế giới Hiện nay trên thế giới, có rất nhiều những bài nghiên cứu về Tre trúc: Theo thống kê, trên thế giới diện tích tre trúc hiện có là 14 triệu ha rừng tre phân bố từ xích đạo, qua vùng nhiệt đới đến vùng hàn đới và ôn đới.Trong đó tre mọc cụm chiếm 3/5, tre mọc tán chiếm 2/5, chúng thƣờng mọc hỗn giao với 1 số loài cây gỗ khác, nhiều loài có đặc tính mọc thành rừng. Nhìn chung các loài tre có thân ngầm mọc phân tán có phạm vi phân bố tƣơng đối hẹp so với nhiều loài cây có thân ngầm mọc cụm.
Tổ chức Plant Resources of South-East Asia (Prosea) xuất bản tập “Prosea 7: Bamboos” đã tiến hành mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, gây trồng, sử dụng cho 75 loài tre trúc thông dụng, có giá trị ở vùng Đông Nam Á. Trong đó có một số loài thuộc chi Dendrocalamus. Tháng 4 năm 1960 công trình “nghiên cứu sinh lý tre trúc” của GS.TS Loichiroueda – trại rừng thực nghiệm khoa Nông nghiệp trƣờng Đại học Tokyo Nhật Bản đã xuất bản.Tác giả đã công bố trên thế giới có 1250 loài, 47 chi, tập trung nhiều nhất châu Á (37 chi), ít nhất ở châu Úc (6 chi), trong đó Đông Nam Á đƣợc coi là vùng trung tâm phát triển phân bố của tre trúc.Z (1988), (1996) đã nghiên cứu về chi Dendrocalamus làm cơ sở để phân loại một số loài trong chi ở Trung Quốc và khu vực Đông Nam Á. Họ phụ tre trúc có nhiều tài liệu cho biết các chi loài khác nhau.Theo Ngô Quang Đê, trên thế giới có khoảng 60 chi tre trúc gồm khoảng 500 loài khác nhau.
Theo Sooles Trom và Ellis 1987, trên thế giới có 75 chi và 1250 loài, còn theo lê mộng Chân, Lê Thị Huyên có khoảng 80 chi trên 100 loài. Tre trúc đã xuất hiện ƣu thế nhiều hay ít trong giới thực vật Ở nhiều nơi của vùng 3 nhiệt đới, Á nhiệt đới và ôn đới trên thế giới. Tre trúc đƣợc thấy với độ phong phú đa dạng nhất ở phía Nam và Đông nam châu Á từ Ấn Độ qua Trung Quốc, Nhật Bản đến Triều Tiên. Nhƣng do can thiệp của con ngƣời mà ranh giới của sự phân bố đã bị thay đổi rất lớn nhiều khu vực tự nhiên bị phá vỡ để trồng trọt, nhƣng cũng có những loài do đƣợc sử dụng mà phân bố rộng rãi.
Ở châu Mỹ, châu Âu, nhiều Tre trúc đƣợc nhập vào đóng một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội.Tewari đã công bố số liệu cho biết trên thế giới hiện nay 80 % rừng Tre trúc phân bố ở Châu Á, tất cả các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới của thế giới đều có Tre trúc xuất hiện. Độ cao phân bố của chúng từ sát biển đến độ cao 4000m. Tác giả đã xây dựng đƣợc vùng phân bố chung cho tre trúc và bản đồ phân bố này ta có thể thấy đƣợc trung tâm phân bố tre trúc tập trung vào giải nhiệt đới thuộc Châu Á, trong đó chủ yếu là ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Nhật Bản, Malaysia, Bắc Australia, Trung Phi, Nam Mỹ và một phần nhỏ ở bắc mỹ. Về phân loại thì tre trúc là loài thực vật thuộc họ Hoà Thảo (Poaceae hay có khi gọi là Gramineae).
Chúng đƣợc tìm thấy phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, từ vùng thấp tới độ cao 4000m so với mặt nƣớc biển đặc điểm nổi bật của chúng là có mặt trong nhiều hoàn cảnh sinh thái khác nhau (Dransfield and widjaja, 1995). Trên thế giới tre trúc có khoảng 1250 loài thuộc 75 chi và có mặt ở mọi châu lục, trừ Châu Âu. Trong đó Châu Á có số lƣợng loài phong phú nhất với khoảng 900 loài thuộc 65 chi (Rao and Rao, 1999). Ở châu Á thì Trung Quốc là nƣớc có nhiều loài tre trúc nhất với 500 loài thuộc 39 chi.
Sau đó là Indônexia với 135 loài thuộc 21 chi và xếp thứ 3 là Ấn Độ có 130 loài, thuộc 18 chi. Theo Dransfield and widjaja (1995) thì Đông Nam Á có khoảng 200 loài tre thuộc 20 chi. Khi đề cập tới một số khía cạnh của nhân tố khu vực Châu Á và Thái Bình Dƣơng, tổ chức FAO (1992), (2007) đã đƣa ra danh lục 192 loài, cũng nhƣ đặc điểm phân bố theo đai độ cao của một số loài tre trúc. 4 Tác giả Zhu Zhaohua (2000) cho biết: Ở đảo Hải Nam Trung Quốc đã phát hiện đƣợc 46 loài tre nứa, trong đó có 38 loài phân bố ngoài tự nhiên, chủ yếu có 3 loài mọc tản thuộc chi Phyllostachys và Sasa.
Tại tỉnh Vân Nam có 250 loài đã đƣợc phát hiện, diện tích tre nứa đạt tới 331000 ha, riêng loài Phyllostachys heterocycta Var.pubescens chiếm 80% diện tích kể trên.1: phân bố các loài tre trúc trên thế giới (Biswas 1995) Nƣớc Số chi Số loài Diện t ch ha Trung Quốc 26 300 2900000 Nhật Bản 13 237 825000 Ấn Độ 23 125 9600000 Việt Nam 16 92 1942000 Myanma 20 90 2200000 Indônexia 10 65 50000 Philliphnines 8 54 - Malaysia 7 44 - Thái Lan 12 41 1000000 Singapore 6 23 Bănglađét 8 20 6000000 Papua New Guinea - 26 - Srilanka 7 14 - Hàn Quốc 10 13 - Đài Loan - 40 140000 Mađagaxca 11 40 - Châu Mỹ 20 45 - Ôxtralia 4 4 - Trên thế giới, các nghiên cứu đầu tiên về phân loại và phân bố tre trúc đã đƣợc một số tác giả công bố nhƣ: Munro với tựa đề: “ nghiên cứu về Bambusaceae” đƣợc xuất bản vào năm 1868. sau đó là đến tác phẩm của tác 5 giả Gamble viết về “các loài tre trúc ở Ấn Độ” đƣợc xuất bản vào năm 1896. Trong tác phẩm này, tác giả đã mô tả khá chi tiết về đặc điểm hình thái của 151 loài tre trúc phân bố ở Ấn Độ và một số loài tre trúc phân bố ở Pakistan, Srilanca, Malaysia và Indônesia. Theo ý kiến của Gamble (1986) thì các loài tre trúc là loài thực vật chỉ thị rất tốt về các đặc điểm và độ phì của đất.Ramanatha đã đƣa ra một số kết quả về nghiên cứu có lien quan tới đặc điểm sinh thái, nhƣ bảng tổng hợp về chỉ tiêu của một số nhân tố sinh thái: loại đất, hàm lƣợng mùn trong đất, lƣợng mƣa, số ngày mƣa trong năm của 19 loài tre nứa của trung quốc.
Shi – Quantai (2000) công bố kết quả phân tích hàm lƣợng các chất trong măng của 18 loài tre trúc, kết quả cho thấy trong măng chứa khoảng 90% nƣớc; 2.5% chất béo; sợi ăn đƣợc từ 0.2%; 17 loại amino axit,… 1.2 Nghiên cứu về loài Bương mốc Qua tìm hiểu các loại tài liệu tham khảo các công trình nghiên cứu về tre trúc đã công bố trên thế giới cho thầy dƣờng nhƣ chƣa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào về loài Bƣơng mốc. Vì vậy cần phải có những công trình nghiên cứu bổ sung cho loài thực vật này. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 1. Nghiên cứu về tre trúc Việt Nam là nƣớc khá phong phú và đa dạng về thành phần loài tre trúc.
Đứng thứ 4 thế giới về diện tích tre nứa, và là nguồn nguyên liệu đứng thứ hai sau gỗ với 194 loài tre trúc thuộc 26 chi đƣợc các nhà khoa học phát hiện ở Việt Nam, Tuy nhiên, mới chỉ có 80 loài đã tạm thời đƣợc định danh, còn lại là các loài chƣa có tên. Nhƣng đã phần nào đánh giá đƣợc tính đa dạng về thành phần loài tre trúc ở nƣớc ta. Trong nhiều năm trở lại đây, rất nhiều chi, loài mới đƣợc các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu và bổ sung vào danh lục tre nứa của nƣớc nhà.