ĐẶT VẤN ĐỀ Đồng Nai là tỉnh công nghiệp n m trong khu vực kinh tế trọng điểm các tỉnh phía nam, tuy nhiên công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng luôn được lãnh đạo tỉnh quan tâm. Nhận định được những hậu quả từ việc mất rừng, tỉnh Đồng Nai đã thực hiện đóng cửa rừng tự nhiên sớm nhất trong cả nước, năm 1997 Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai đã ra quyết định đóng cửa tất cả các loại rừng tự nhiên trong tỉnh (Quyết định số 631/QĐ.UBT ngày 24/02/1997), đồng thời là một trong ít địa phương còn giữ được diện tích rừng tự nhiên 119.950 ha trong tổng số 177.940 ha đất có rừng. Đây là tài sản vô cùng quý giá của quốc gia và của địa phương, là tiềm năng và cơ hội để phát triển kinh tế xã hội theo hướng bền vững trong tương lai. Để đảm bảo cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp giấy, ván nhân tạo, gỗ xẻ công nghiệp và đóng đồ gia dụng khi rừng tự nhiên đang đóng cửa thì việc đầu tư phát triển rừng trồng sản xuất với những loài cây mọc nhanh là rất cần thiết.
Trong số những loài cây mọc nhanh phục vụ trồng rừng sản xuất thì Keo lai là loài có nhiều triển vọng, với ưu thế là khả năng thích nghi cao, sinh trưởng nhanh và cải tạo đất tốt, đặc biệt trên đất trống, đồi núi trọc, đất thoái hóa, c n cỗi và nghèo dinh dưỡng nên Keo lai là một trong những loài đang được chọn làm cây trồng rừng chính ở Việt Nam với quy mô lớn (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003)[18]. Đến nay các loài keo được đánh giá là nhóm loài có hiệu quả kinh tế cao, chu k kinh doanh ngắn, có thị trường rộng và đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam nói chung và tỉnh Đồng Nai nói riêng, đặc biệt là đối với người dân các tỉnh miền núi. Để đạt được năng suất và chất lượng cao trong sản xuất kinh doanh rừng thì giống là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng rừng trồng ở mỗi quốc gia. Vì giống là yếu tố sinh c 2 học có tính quyết định đến năng suất và chất lượng sản phẩm, là tiền đề để phát huy các kỹ thuật, công nghệ tiên tiến khác trong chu k sản xuất.
Sử dụng giống tốt là một biện pháp thâm canh mũi nhọn làm tăng sản lượng, chất lượng và hiệu quả của trồng rừng nhất là đối với trồng rừng sản xuất. Trong những năm qua với sự đầu tư của Nhà nước và nỗ lực của các nhà nghiên cứu khoa học về giống cây lâm nghiệp, nhiều giống mới có năng suất và chất lượng cao đã được chọn tạo để thay thế cho các giống cũ có năng suất và chất lượng thấp. Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã công nhận nhiều giống keo có năng suất cao, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, góp phần rất lớn trong việc nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng sản xuất ở nước ta. Tuy nhiên mới chỉ có một số giống là được đưa vào trồng đại trà như các dòng Keo lai BV10, BV16, BV32, BV33 (Nguyễn Xuân Quát, 2013)[21], các dòng Keo lai AH1, AH7, các dòng Keo lá tràm AA1 và AA9 (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2010)[19].
Năm 2005, Keo lai đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đưa vào danh mục các loài cây chủ yếu cho trồng rừng sản xuất. Năng suất, chất lượng rừng trồng ngoài việc phụ thuộc vào chất lượng giống thì việc lựa chọn mật độ trồng thích hợp cũng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng rừng trồng. Ban QLRPH Xuân Lộc là một trong những đơn vị có diện tích rừng trồng sản xuất lớn trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, với gần bốn ngàn hecta rừng trồng sản xuất thuần loài Keo lai và sáu ngàn hecta rừng trồng phòng hộ, trong đó có trồng xen cây Keo lai là cây phù trợ. Hiện nay trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nói chung và Ban QLRPH Xuân Lộc nói riêng chỉ sử dụng dòng BV để trồng rừng sản xuất, trên thị trường xuất hiện nhiều dòng Keo lai khác nhau nhưng năng suất của các dòng đối với đơn vị sản xuất cụ thể như Ban quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc thì chưa được khẳng định.
Mặt khác lựa c 3 chọn mật độ trồng nào thích hợp với điều kiện sản xuất của đơn vị thì cũng chưa có nghiên cứu nào được thực hiện để trả lời câu hỏi trên. Để có được những đánh giá b ng định lượng cụ thể và đồng thời là cơ sở khoa học cho việc lựa chọn dòng Keo lai và mật độ trồng rừng thích hợp để phát triển rừng trồng sản xuất trong thời gian tiếp theo, đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của các dòng Keo lai (Acacia auriculiformis x Acacia mangium ) trồng tại Ban quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc” sẽ được thực hiện. c 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Thông tin chung về cây keo lai Keo lai là giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm (Acacia mangium và Acacia auriculiformis).
Keo lai tự nhiên được Messrs Herburn và Shim phát hiện lần đầu vào năm 1972 thuộc bang Sabah, Malaysia. Đến năm 1978 mới được Sedgley M.Harbard J et al (1992) [36] xác định là giống keo lai. Nghiên cứu của Rufelds (1987) [34] thấy r ng tại miền Bắc Sabah keo lai đã xuất hiện tại rừng Keo lá tràm với mật độ từ 3 – 4 cây/ha, còn Wong thấy r ng keo lai có thể xuất hiện ở tỷ lệ 1/500. Keo lai tự nhiên cũng được phát hiện ở vùng Balamuk và Old Tonda của Papua New Guinea và sau đó cũng được phát hiện ở Thái Lan (Kijkar, 1992), tại trụ sở của Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng ASEAN Canada ở Muak – Lek, Saraburi – Thái Lan.
Keo lai tự nhiên cũng được tìm thấy ở Đài Loan và Quảng Châu – Trung Quốc, tuy nhiên cả hai đều được phát hiện trên những diện tích được gây trồng rất ít. Ở Việt Nam, Keo lai được Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam phát hiện lần đầu tiên tại Hà Tây (cũ) hiện nay là Hà Nội, tiếp sau là ở Đồng Nai. Trung tâm đã có những nghiên cứu về giống đầu tiên, từ nghiên cứu của Lê Đình Khả và cộng sự (1993) [11], các giống lai này đã xuất hiện trong rừng trồng Keo tai tượng được lấy giống từ các khảo nghiệm Keo tai tượng trồng cạnh rừng trồng Keo lá tràm, vì thế có thể biết bố là Keo lá tràm (Acacia auriculiformis) và mẹ là Keo tai tượng (A. mangium), ngoài ra giống lai này còn có một cách đặt tên khác là Acacia× manriculiformis… Nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của keo lai ở Việt Nam có nhiều tác giả đề cập đến, người tiên phong trong nghiên cứu là Lê Đình Khả và cộng sự (1997) [12], nghiên cứu về đặc điểm chính của cây keo lai đời thứ c 5 nhất (F1) và tính phân ly, thoái hóa của chúng trong đời thứ 2 (F2) đã đánh giá cây lai đời F1 có hình thái trung gian giữa bố, mẹ và có ưu điểm nổi bật là có ưu thế lai hết sức rõ rệt về sinh trưởng.
Nguyễn Trọng Bình (2003) [1] đã tiến hành lập biểu sinh trưởng và sản lượng tạm thời cho rừng Keo lai trồng thuần loài ở một số vùng trong cả nước. Kết quả cho thấy, tại các cấp đất Keo lai đều có tăng trưởng bình quân đạt cực đại ở tuổi 7 và 8 so với bố mẹ. Nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của Keo lai và tuổi thành thục công nghệ rừng trồng keo lai ở vùng Đông Nam Bộ của Nguyễn Huy Sơn và cộng sự (2005) [23] cho thấy sau 5 năm tuổi keo lai sinh trưởng nhanh, tăng trưởng bình quân về đường kính đạt từ 2,38 – 2,52cm/ năm và chiều cao đạt từ 3,14 – 3,56m/ năm, năng suất bình quân đạt từ 27 – 36m3/ha/năm. Các dòng Keo lai trong nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là 6 dòng keo lai tự nhiên gồm: AH1, AH7, BV32, BV33, KL2, KL20 cụ thể: Dòng AH1, AH7 được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận giống tiến bộ kỹ thuật năm 2007 của nhóm tác giả Nguyễn Hoàng Nghĩa, Nguyễn Văn Chiến, Phạm Quang Thu.
Các dòng này có những đặc điểm ưu việt như chống chịu sâu bệnh tốt, không bị bệnh phấn hồng; sinh trưởng nhanh trên đất phù sa cổ ở Bầu Bàng (Bình Dương), năng suất đạt 30m3/ha/năm sau 52 tháng tuổi (đối với dòng AH1), năng suất đạt 34,9m3/ha/năm sau 52 tháng tuổi (đối với dòng AH7). Vùng áp dụng trồng là vùng Đông Nam Bộ. Dòng KL2 được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận giống tiến bộ kỹ thuật năm 2004 của tác giả Hu nh Đức Nhân và cộng sự. Dòng này có những đặc điểm ưu việt như chống chịu sâu bệnh tốt, chất lượng gỗ tốt, ít cành nhánh, năng suất đạt 41 – 46m3/ha/năm.
Vùng áp dụng trồng là c 6 Đồng Nai và những nơi có điều kiện tương tự. Dòng KL20 được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận giống tiến bộ kỹ thuật năm 2005 của tác giả Hu nh Đức Nhân và cộng sự. Dòng này có những đặc điểm ưu việt như chống chịu sâu bệnh tốt, chất lượng gỗ tốt, ít cành nhánh, năng suất đạt 26 – 31m3/ha/năm. Vùng áp dụng trồng là Đồng Nam Bộ và những nơi có điều kiện tương tự.
Dòng BV32 được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận giống tiến bộ kỹ thuật năm 2000 của tác giả Lê Đình Khả và cộng sự. Dòng này có những đặc điểm ưu việt như chống chịu sâu bệnh tốt, chất lượng gỗ tốt, ít cành nhánh, năng suất đạt 15 – 20m3/ha/năm ở lập địa xấu, 20– 25m3/ha/năm ở lập địa trung bình, 30– 35m3/ha/năm ở lập địa tốt, vùng áp dụng trồng là Ba Vì-Hà Nội, Yên Thành-Nghệ An và nơi có điều kiện tương tự. Dòng BV33 được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận giống tiến bộ kỹ thuật năm 2006 của tác giả Lê Đình Khả và cộng sự. Dòng này có những đặc điểm ưu việt như chất lượng gỗ tốt, chống chịu sâu bệnh tốt, năng suất cao, ít cành nhánh, năng suất đạt 15 – 20m3/ha/năm ở lập địa xấu, 20– 25m3/ha/năm ở lập địa trung bình, 30– 35m3/ha/năm ở lập địa tốt, vùng áp dụng trồng là Ba Vì-Hà Nội, Yên Thành-Nghệ An và nơi có điều kiện tương tự (Tổng cục Lâm nghiệp, 2013)[27].
Kết quả nghiên cứu liên quan đến khả năng sinh trƣởng và năng suất của rừng trồng Keo lai. Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống Keo lai ảnh hưởng đến năng suất rừng trồng.