Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Họ Lan (Orchidaceae) là một trong những họ thực vật có hoa lớn nhất trong giới thực vật, sở hữu giá trị thẩm mỹ cao, hình thái đa dạng và giá trị kinh tế nổi bật trong ngành sinh vật cảnh cũng như ngành dược liệu. Tuy nhiên, dưới áp lực của hoạt động thương mại hóa và nhu cầu thị trường ngày càng gia tăng, nhiều loài lan tự nhiên đang phải đối mặt với tình trạng khai thác quá mức, dẫn đến suy giảm nghiêm trọng về số lượng cá thể và thu hẹp sinh cảnh sống. Tại tỉnh Tuyên Quang nói chung và huyện Na Hang nói riêng – khu vực có địa hình núi đá vôi đặc trưng cùng tính đa dạng sinh học cao – các loài lan rừng bản địa đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt nguồn gen do phương thức khai thác mang tính tận diệt của người dân địa phương để cung cấp cho các thương lái.

Để thiết lập cơ sở khoa học cho công tác quản lý, bảo tồn và định hướng phát triển bền vững nguồn tài nguyên này, tác giả Ma Phúc Kết đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp kỹ sư ngành Quản lý tài nguyên rừng với đề tài "Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và phân bố của các loài thuộc họ Lan (Orchidaceae) tại xã Năng Khả huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang", dưới sự hướng dẫn của TS. Vũ Văn Thông tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (năm 2017).

Khóa luận xác định ba mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tìm hiểu tri thức bản địa của người dân địa phương về sự hiểu biết, khai thác và sử dụng các loài lan tại khu vực nghiên cứu.
  2. Tìm hiểu một số đặc điểm sinh học và sinh thái học của các loài lan phân bố trong điều kiện sinh cảnh tự nhiên tại địa bàn khảo sát.
  3. Xác định đặc điểm phân bố của các loài lan theo tuyến, theo độ cao và theo trạng thái rừng, làm cơ sở khoa học để đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển các loài lan tại khu vực nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn như sau:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các loài thực vật thuộc họ Lan (Orchidaceae) xuất hiện tự nhiên và được gây trồng tại địa bàn.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào đặc điểm nhận dạng hình thái, phân loại, phân hạng bảo tồn, phân bố sinh thái (độ cao, trạng thái rừng, giá thể cây chủ, điều kiện đất đai, ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm) và tri thức sử dụng bản địa.
  • Phạm vi không gian: Thực hiện tại các trạng thái rừng tự nhiên thuộc địa bàn xã Năng Khả, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang (trọng tâm là khu vực rừng tự nhiên thôn Bản Nhùng).
  • Phạm vi thời gian: Quá trình điều tra thực địa, thu thập mẫu và phân tích số liệu được tiến hành từ ngày 01/01/2017 đến ngày 30/05/2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên khung lý thuyết về bảo tồn nguồn gen và đa dạng sinh học theo tiêu chuẩn của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN, 2001), các văn bản pháp quy của Nhà nước và địa phương:

  • Sách đỏ Việt Nam (2007) – Phần II Thực vật.
  • Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (đặc biệt là các loài thuộc Danh mục Nhóm IA và Nhóm IIA).
  • Quyết định số 1250/QĐ-TTg ngày 31/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
  • Quyết định số 314/QĐ-UBND và Quyết định số 734/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang về công tác bảo vệ và bảo tồn rừng.
  • Hệ thống phân loại sinh thái họ Lan theo 4 nhóm giá thể sống: Phong lan (Epiphytes), Địa lan (Terrestrials), Thạch lan (Lithophytes) và Hoại lan (Saprophytes).

Tác giả đã áp dụng tổ hợp các phương pháp nghiên cứu thực địa, xã hội học và phân tích phòng thí nghiệm:

  • Phương pháp phỏng vấn xã hội học (Tri thức bản địa): Sử dụng phiếu điều tra phỏng vấn bán cấu trúc với dung lượng mẫu $n = 30$ phiếu trên địa bàn xã Năng Khả. Đối tượng phỏng vấn bao gồm người dân có kinh nghiệm đi rừng, khai thác lâm sản/dược liệu/hoa lan, người cao tuổi am hiểu thực vật bản địa, cán bộ kiểm lâm và cán bộ tuần tra bảo vệ rừng. Khi phỏng vấn, tác giả sử dụng mẫu vật thực tế để đối chiếu khả năng nhận biết hình thái, công dụng và hiện trạng phân bố.
  • Phương pháp điều tra thực địa theo tuyến: Thiết lập 20 tuyến điều tra cắt qua các sinh cảnh rừng tự nhiên tại xã Năng Khả (tập trung khu vực Bản Nhùng). Chiều rộng dải quan sát mỗi tuyến từ 15–20 m sang hai phía. Chiều dài tuyến bình quân 1,0–1,45 km. Tọa độ điểm đầu, điểm cuối của từng tuyến được định vị chính xác bằng thiết bị định vị GPS.
  • Phương pháp phân tầng độ cao: Phân chia phạm vi khảo sát thành 3 cấp độ cao địa hình gồm Cấp I (> 200 m), Cấp II (200–350 m) và Cấp III (< 350 m) để đánh giá sự phân tầng của các loài.
  • Phương pháp điều tra sinh thái và thu mẫu: Ghi nhận các yếu tố môi trường tại nơi bắt gặp lan gồm nhiệt độ, độ ẩm không khí (đo định kỳ 3 lần/tháng vào các thời điểm 8h, 12h, 16h), độ tàn che của tán rừng (đo bằng phương pháp điểm trên 2 tuyến song song cách nhau 10 m, dài 20 m), quan sát giá thể bám (cây chủ gỗ lớn, vách đá, nền đất mùn). Thu thập mẫu vật hoàn chỉnh (thân, lá, rễ, hoa, quả nếu có), đánh số ký hiệu và chuyển về khu thuần hóa lưu giữ tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
  • Phương pháp giám định tên loài: Áp dụng phương pháp hình thái so sánh, đối chiếu mẫu vật thực địa với các tài liệu phân loại thực vật chuẩn (Cây cỏ Việt Nam, Thực vật rừng Việt Nam) kết hợp tham vấn chuyên gia ngành thực vật học.
  • Phương pháp lấy mẫu và phân tích hóa lý đất: Đào phẫu diện đất tại các điểm xuất hiện địa lan để mô tả độ dày tầng đất (tầng A0, A, B), màu sắc, độ ẩm, độ xốp, tỷ lệ đá lẫn/đá lộ đầu và thành phần cơ giới. Mẫu đất được bảo quản và phân tích tại Viện Khoa học Nông nghiệp miền núi phía Bắc (thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc) với các chỉ tiêu: pH, hàm lượng mùn tổng số (%), đạm tổng số (N %), lân dễ tiêu ($P_2O_5$ %), kali dễ tiêu ($K_2O$ %).
  • Xử lý số liệu: Tổng hợp và phân tích thống kê mô tả bằng phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ giá trị kinh tế, y học và thẩm mỹ của hoa lan cùng thực trạng khai thác cạn kiệt nguồn gen lan rừng tại Tuyên Quang. Xác định rõ 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, 1 ý nghĩa khoa học (bổ sung dẫn liệu sinh thái phục vụ bảo tồn) và 4 ý nghĩa thực tiễn (nâng cao năng lực chuyên môn, nhận thức bảo tồn và hỗ trợ quản lý rừng bền vững).

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Tổng hợp toàn diện các cơ sở lý luận và nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước:

  • Khái quát về bảo tồn nguồn gen rừng nhiệt đới theo số liệu FAO (tốc độ suy thoái 12,6 triệu ha/năm), nguyên lý bảo tồn nội vi (in situ) và ngoại vi (ex situ).
  • Đặc điểm sinh học của họ Orchidaceae: cấu tạo rễ (5 phần), thân (đơn thân, đa thân, giả hành), hoa (cánh môi, trụ nhị - nhụy gynostemium), quả nang, hạt nảy mầm nhờ nấm cộng sinh (Rhizoctonia).
  • Đánh giá hiện trạng đa dạng họ Lan tại Việt Nam với 897 loài thuộc 152 chi, trong đó có 66 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam 2007 (4 loài CR, 52 loài EN, 10 loài VU).
  • Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Na Hang: diện tích rừng 357.354 ha (độ che phủ trên 51%), hệ thống núi đá vôi cánh cung Sông Gâm, mạng lưới thủy văn gắn với nhà máy Thủy điện Na Hang (công suất 342 MW, sản lượng 1,295 tỷ kWh/năm), dân số 43.868 người với cơ cấu chủ yếu là đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Dao.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Quy định chi tiết đối tượng khảo sát là các loài lan tại xã Năng Khả, khung thời gian từ tháng 1/2017 đến tháng 5/2017. Mô tả hệ thống phương pháp luận liên ngành: quy trình phỏng vấn 30 phiếu điều tra, thông số kỹ thuật và tọa độ của 20 tuyến điều tra thực địa, phương pháp đo đạc vi khí hậu, phương pháp mô tả phẫu diện đất và thang tiêu chuẩn đánh giá hàm lượng dinh dưỡng đất tại Viện Khoa học Nông nghiệp miền núi phía Bắc.

Phần 4: Kết quả và phân tích kết quả

Trình bày toàn bộ số liệu điều tra thực nghiệm thông qua các bảng biểu tổng hợp:

  • Tri thức bản địa: 26/30 người được phỏng vấn có hiểu biết về hình thái và nơi sống của các loài lan; 15/30 người tham gia thu hái lan rừng bán cho thương lái; 2/30 người sử dụng làm thuốc chữa bệnh (Bà Phùng Thị Nguyên và Ông Phùng Văn Tần tại thôn Bản Nhùng, chủ yếu sử dụng Lan kim tuyến trị giá khoảng 100.000 đồng/cây); 12/30 người đem lan về trồng làm cảnh nhưng tỷ lệ chết cao do thiếu kỹ thuật chăm sóc; 26/30 người nhận thức được thực trạng suy giảm nghiêm trọng của các loài lan quý hiếm do bị khai thác triệt để.
  • Thành phần loài và phân hạng bảo tồn: Ghi nhận 20 loài thuộc 8 chi họ Lan tại xã Năng Khả. Chi có số lượng loài phong phú nhất là chi Hoàng thảo (Dendrobium) với 4 loài, chi Lan hài (Paphiopedilum) với 4–5 loài và chi Lan miệng kín (Cleisostoma) với 2 loài.
  • Phân hạng bảo tồn: Có 5 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam (2007) gồm Hài hằng (Paphiopedilum hangianum - CR), Hài mạng đỏ tía (P. micranthum - CR), Lan kim tuyến (Anoectochilus setaceus - EN), Hài ráp (P. malipoense - EN), Kim điệp (Dendrobium fimbriatum - VU). Đồng thời, 5 loài thuộc Danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP gồm Paphiopedilum hangianum, P. micranthum, P. concolor, P. malipoense và Anoectochilus setaceus.
  • Phân bố thực địa: Bắt gặp lan tại 12 trong tổng số 20 tuyến khảo sát. Dải phân bố độ cao của các loài dao động từ 184 m đến 586 m (thấp nhất là Lan bắp ngô Acampe rigida ở 184 m, cao nhất là Hài ráp Paphiopedilum malipoense ở 586 m). Về nhóm sinh thái, ghi nhận 8 loài phong lan bì sinh trên cây gỗ lớn, các loài địa lan dưới tán rừng ẩm và 1 loài thạch lan bám vách đá vôi (Paphiopedilum hangianum).
Tên Việt Nam Tên khoa học Chi Cấp bảo tồn (Sách đỏ VN 2007) Nghị định 32/2006/NĐ-CP Độ cao bắt gặp (m)
Lan kim tuyến Anoectochilus setaceus Anoectochilus EN IA 500, 530
Kim điệp Dendrobium fimbriatum Dendrobium VU - 410, 475, 530
Lan hài hằng Paphiopedilum hangianum Paphiopedilum CR IA 530, 532, 555, 560
Hài đốm Paphiopedilum concolor Paphiopedilum - IA 475, 530, 560
Hài ráp Paphiopedilum malipoense Paphiopedilum EN IA 515, 529, 586
Hài mạng đỏ tía Paphiopedilum micranthum Paphiopedilum CR IA 456, 465, 530, 560
Hài lông Paphiopedilum hirsutissimum Paphiopedilum - - 410, 500, 515
Hoàng thảo đùi gà Dendrobium nobile Dendrobium - - 315, 375, 500
Hoàng thảo hương vani Dendrobium linguella Dendrobium - - 410, 413, 525
Vảy rồng Dendrobium lindleyi (jenkinsii) Dendrobium - - 200, 375, 456
Lan bắp ngô Acampe rigida Acampe - - 184, 410, 465
Đuôi cáo Aerides rosea Aerides - - 184, 200, 300
Miệng kín rủ Cleisostoma williamsonii Cleisostoma - - 315, 375, 464
Miệng kín có mỏ Cleisostoma rostratum Cleisostoma - - 410, 413, 532
Lan kiếm lô hội Cymbidium aloifolium Cymbidium - - 200, 375, 456
Lan kiếm lá nhỏ Cymbidium dayanum Cymbidium - - 410, 475
Tục đoạn hoa trắng Pholidota cantonensis (Flickingeria) Pholidota - - 184, 374, 413
Tục đoạn Pholidota cantonensis Pholidota - - 184, 315, 375, 525
Vanda rừng Vanda fuscoviridis Vanda - - 315, 410, 565
Lan lọng Bulbophyllum purpureifolium Bulbophyllum - - -

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tóm tắt các phát hiện chính về số lượng loài, mức độ đe dọa và hiện trạng khai thác tự phát tại địa bàn. Kiến nghị các nhóm giải pháp bảo tồn cấp bách: tăng cường tuần tra rừng, kiểm soát các điểm thu mua trung gian của thương lái, tổ chức tập huấn nâng cao nhận thức cho cộng đồng thôn bản và triển khai nghiên cứu nhân giống nhân tạo phục vụ phát triển kinh tế lâm nghiệp.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã ghi nhận và định lượng các kết quả nghiên cứu cụ thể:

  1. Dữ liệu phân loại học: Xác lập danh lục gồm 20 loài lan thuộc 8 chi thực vật tại xã Năng Khả, huyện Na Hang. Trong đó, chi Dendrobium và chi Paphiopedilum chiếm ưu thế lớn nhất về số lượng loài.
  2. Giá trị bảo tồn nguồn gen: Định vị sự tồn tại tự nhiên của 5 loài thuộc Sách đỏ Việt Nam 2007 (Hài hằng - CR, Hài mạng đỏ tía - CR, Lan kim tuyến - EN, Hài ráp - EN, Kim điệp - VU) và 5 loài thuộc nhóm IA của Nghị định số 32/2006/NĐ-CP (nghiêm cấm khai thác vì mục đích thương mại).
  3. Đặc điểm phân bố sinh thái: Xác định phân bố độ cao của các loài lan tại khu vực nằm trong dải từ 184 m đến 586 m so với mực nước biển, phân hóa rõ rệt giữa các nhóm phong lan bì sinh (độ cao thấp đến trung bình) và nhóm lan hài, địa lan (độ cao trên 450 m trên nền núi đá vôi ẩm).
  4. Dữ liệu kinh tế - xã hội và tri thức bản địa: Ghi nhận thực trạng 50% số người phỏng vấn (15/30 người) có hoạt động khai thác lan rừng bán cho thương lái với mức giá chênh lệch lớn (Lan hài hằng và Lan kim tuyến khoảng 100.000 đồng/cây; Hoàng thảo đùi gà, Vảy rồng từ 20.000–50.000 đồng/giỏ; Hài ráp, Hài mốc hồng từ 10.000–25.000 đồng/cây). Hoạt động khai thác tự phát, tận diệt là nguyên nhân trực tiếp làm suy thoái tài nguyên lan rừng.

Tác giả đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn:

  • Biện pháp hành chính - pháp lý: Tăng cường thực thi Nghị định 32/2006/NĐ-CP, xử phạt nghiêm các hành vi vào rừng thu hái trái phép và vận chuyển lan rừng qua hệ thống Quốc lộ 279.
  • Biện pháp kỹ thuật - lâm sinh: Xây dựng các khu bảo tồn in situ tại sinh cảnh núi đá vôi Bản Nhùng; ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào và giâm hom để nhân giống nhân tạo các loài có giá trị kinh tế cao, giải tỏa áp lực khai thác rừng tự nhiên.
  • Biện pháp cộng đồng: Tuyên truyền tri thức bảo vệ rừng cho đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Dao; hướng dẫn kỹ thuật thuần hóa và gây trồng bền vững tại vườn hộ gia đình.

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc cung cấp hệ thống số liệu điều tra thực địa nguyên bản, cập nhật về thành phần loài và tọa độ phân bố chi tiết của họ Lan tại xã Năng Khả, tạo tiền đề tư liệu cho công tác quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học của huyện Na Hang và tỉnh Tuyên Quang.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận phản ánh một số giới hạn thực tế:

  • Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu chỉ triển khai trong 5 tháng (từ tháng 1 đến tháng 5/2017) tại một xã đơn lẻ (Năng Khả), chưa bao quát toàn bộ chu kỳ sinh trưởng, ra hoa và kết quả của các loài lan nở vào mùa thu - đông trên toàn huyện Na Hang.
  • Dung lượng mẫu khảo sát: Số lượng phiếu điều tra tri thức bản địa còn khiêm tốn ($n = 30$), tập trung chủ yếu tại thôn Bản Nhùng nên chưa phản ánh toàn diện tập quán khai thác của các cộng đồng dân cư khác trên địa bàn huyện.
  • Nghiên cứu thực nghiệm nhân giống: Khóa luận dừng lại ở bước điều tra sinh thái và phân tích đất, chưa triển khai các thí nghiệm nhân giống thực tế (nuôi cấy mô hoặc giâm hom) cho các loài lan nguy cấp tại chỗ.

Hướng nghiên cứu tiếp nối được gợi mở bao gồm:

  • Mở rộng phạm vi điều tra sang các xã vùng đệm và vùng lõi lân cận thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang (như Khau Tinh, Côn Lôn, Sơn Phú).
  • Triển khai nghiên cứu liên tục trong 12 tháng để ghi nhận đầy đủ đặc điểm nông sinh học và mùa hoa của các loài lan nở muộn.
  • Thực nghiệm ứng dụng công nghệ vi nhân giống (in vitro) đối với hai đối tượng nguy cấp có giá trị cao là Lan hài hằng (Paphiopedilum hangianum) và Lan kim tuyến (Anoectochilus setaceus).

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên cao học: Chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh thái học và Đa dạng sinh học tham khảo về phương pháp thiết lập tuyến điều tra thực vật biểu sinh/địa sinh và quy trình điều tra tri thức bản địa.
  • Cơ quan quản lý và lực lượng kiểm lâm: Hạt Kiểm lâm huyện Na Hang, Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang khai thác dữ liệu tọa độ 20 tuyến điều tra và danh mục loài nguy cấp (Nhóm IA) để xây dựng phương án tuần tra, kiểm soát khai thác.
  • Các nghiên cứu phân loại thực vật: Tham khảo bảng tổng hợp tên khoa học, tên đồng danh, cấp độ đe dọa và vùng phân bố độ cao của các loài lan trên núi đá vôi vùng Đông Bắc Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận được bao nhiêu loài và chi thuộc họ Lan tại xã Năng Khả?
Nghiên cứu đã điều tra và lập danh lục được 20 loài lan thuộc 8 chi thực vật khác nhau tại xã Năng Khả, trong đó chi Dendrobium (Hoàng thảo) có 4 loài và chi Paphiopedilum (Lan hài) có 4–5 loài.

2. Những loài lan nào tại khu vực nghiên cứu được xếp vào phân hạng bảo tồn nguy cấp nhất?
Có 2 loài được xếp ở cấp Rất nguy cấp (CR) trong Sách đỏ Việt Nam 2007 là Lan hài hằng (Paphiopedilum hangianum) và Lan hài mạng đỏ tía (Paphiopedilum micranthum); 2 loài ở cấp Nguy cấp (EN) là Lan kim tuyến (Anoectochilus setaceus) và Hài ráp (Paphiopedilum malipoense). Đồng thời, 5 loài thuộc Danh mục nghiêm cấm khai thác thương mại (Nhóm IA - Nghị định 32/2006/NĐ-CP).

3. Mức giá thu mua hoa lan rừng tại địa bàn xã Năng Khả được ghi nhận như thế nào?
Tại thời điểm nghiên cứu năm 2017, thương lái thu mua của người dân địa phương với giá: Lan hài hằng và Lan kim tuyến khoảng 100.000 đồng/cây; Hoàng thảo đùi gà và Vảy rồng khoảng 20.000–50.000 đồng/giỏ; Hài ráp và Hài mốc hồng dao động từ 10.000–25.000 đồng/cây.

4. Dải độ cao phân bố của các loài lan tại khu vực khảo sát dao động trong khoảng nào?
Các loài lan được ghi nhận xuất hiện từ độ cao 184 m đến 586 m so với mực nước biển. Các loài phong lan bì sinh như Lan bắp ngô, Đuôi cáo, Tục đoạn phân bố ở đai thấp (184–400 m), trong khi các loài lan hài quý hiếm tập trung ở độ cao trên 450 m đến 586 m.

5. Đề tài đã sử dụng các phương pháp nào để thu thập dữ liệu về môi trường sống của lan?
Tác giả đã lập 20 tuyến điều tra thực địa bằng máy định vị GPS, đo nhiệt độ và độ ẩm không khí 3 lần/tháng (8h, 12h, 16h), đo độ tàn che bằng phương pháp điểm trên các tuyến song song, đào phẫu diện đất mô tả tầng phát sinh và gửi mẫu phân tích độ chua (pH), mùn, N, P, K tại Viện Khoa học Nông nghiệp miền núi phía Bắc.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ma Phúc Kết đã hệ thống hóa hiện trạng thành phần loài, phân hạng bảo tồn và đặc tính sinh thái của 20 loài thuộc họ Lan (Orchidaceae) tại xã Năng Khả, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. Kết quả điều tra thực địa chỉ ra sự hiện diện của nhiều loài lan bản địa đặc hữu, quý hiếm thuộc Danh mục Nhóm IA và Sách đỏ Việt Nam đang chịu áp lực khai thác thương mại tự phát nghiêm trọng. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học thực chứng phục vụ công tác quy hoạch, bảo tồn nguồn gen thực vật rừng và định hướng phát triển mô hình nhân giống bền vững tại địa phương.