Đặt vấn đề Hoa Lan sở dĩ được nhiều người ưa chuộng là vì: Trong thế giới các loài hoa, hoa Lan là một trong những loài hoa đẹp nhất.000 giống khác nhau, cùng với những loài mới được khám phá và mô tả theo hàng năm. Hoa Lan được coi là loài hoa tinh khiết, hoa vương giả cao sang, vua của các loài hoa. Hoa Lan không những đẹp về màu sắc mà còn đẹp cả về hình dáng, cái đẹp của hoa Lan thể hiện từ những đường nét của cánh hoa tao nhã đến dạng hình thân, lá, cành duyên dáng ít có loài hoa nào sánh nổi. Mầu sắc thắm tươi, đủ vẻ, từ trong như ngọc, trắng như ngà, êm mượt như nhung, mịn màng như phấn, tím sậm, đỏ nhạt, nâu, xanh, vàng, tía cho đến chấm phá, loang sọc vằn… Hình dáng đa dạng phong phú, dù rằng phần lớn chỉ là 5 cánh bao bọc chung quanh một cái môi elip, nhưng mỗi thứ hoa lại có những dị biệt khác thường.
Hoa Lan có loại cánh tròn, có loại cánh dài nhọn hoắt,có loại cụp vào, có loại xoè ra có những đường chun xếp, vòng vèo, uốn éo, có loại có râu, có vòi quấn quýt, có những hoa giống như con bướm, con ong. Hoa Lan có những bông nhỏ nhưng cũng có bụi Lan rất lớn và nặng gần một tấn. Hương Lan đủ loại: thơm ngát, dịu dàng, thoang thoảng, ngọt ngào, thanh cao, vương giả. Tại Thái Lan có một loại Lan được giấu tên và được bảo vệ rất nghiêm ngặt, hương thơm dành riêng để cung cấp cho một hãng sản xuất nước hoa danh tiếng.
Hoa Lan nếu được nuôi giữ ở nhiệt độ và ẩm độ thích hợp có thể giữ được nguyên hương, nguyên sắc từ 2 tuần lễ cho đến hai tháng, có những giống lâu đến 4 tháng, có những giống nở hoa liên tiếp quanh năm. - Phân bố Đây là một trong những họ lớn nhất của thực vật, và chúng phân bố nhiều nơi trên thế giới và Việt Nam. c 2 Do có giá trị kinh tế cao, được nhiều người ưa thích, các loài Lan rừng đá bị khai thác kiệt quệ. Để tìm hiểu một số đặc điểm sinh học, phân bố của các loài Lan trong điều kiện sinh cảnh tự nhiên ở khu bảo tồn Kim Hỷ phục vụ công tác bảo tồn và phát triển các loài Lan rừng, chúng tôi nghiên cứu khóa luận: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và phân bố của các loài Lan (Orchidaceae spp) tại xã Lạng San, khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ tỉnh Bắc Kạn”.
Trên cơ sở phân tích các số liệu thu được, đề xuất phương pháp khai thác hợp lý, góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên quý này. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau: - Tìm hiểu đặc điểm hình thái các loài lan rừng - Tìm hiểu đặc điểm sinh học các loài lan rừng. - Đặc điểm phân bố của các loài lan tại khu vực nghiên cứu. - Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài tại khu vực nghiên cứu.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Việc nghiên cứu và đánh giá đặc điểm sinh thái, tình trạng phân bố của các loài Lan nhằm đề xuất một số giải pháp bảo tồn. Ý nghĩa trong thực tiễn - Giúp tôi hiểu thêm về sự phân bố và các đặc điểm sinh thái các loài Lan trong khu vực nghiên cứu. - Ứng dụng những kiến thức đá học vào trong thực tiễn.
- Biết được tầm quan trọng của các loài thực vật quý hiếm nói chung và các loài Lan nói riêng. - Biết được tầm quan trọng của công tác bảo tồn trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng hiện nay. Phần 2 c 3 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học các vấn đề nghiên cứu Về cơ sở sinh học Biến đổi khí hậu, chặt phá rừng làm cho nhiều loài động, thực vật đứng trước nguy cơ tuyệt chủng chính vì vậy công tác bảo tồn loài, bảo tồn đa dạng sinh học ngày càng được quan tâm và chú trọng.
Công việc nghiên cứu đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng cần phải nắm rõ đặc điểm sinh học của từng loài. Việc hiểu rõ hơn về đặc tính sinh học của loài giúp chúng ta có những biện pháp tác động phù hợp, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm, từ đó giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật. Về cơ sở bảo tồn Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, chính phủ Việt Nam cũng công bố Sách đỏ Việt Nam để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên. Sách đỏ Việt Nam (2007) phần II thực vật [1], đá công bố Việt Nam có 66 loài Lan thuộc nhóm bị đe doạ gồm: - 4 loài Lan có nguy cơ tuyệt chủng ở phân hạng: Rất nguy cấp - CR - 52 loài Lan có nguy cơ tuyệt chủng ở phân hạng: Nguy cấp - EN - 10 loài Lan có nguy cơ tuyệt chủng ở phân hạng: Sẽ nguy cấp -VU Nghị định 32/NĐ-CP ngày 30/3/2006[10]: Về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.
Đã đưa vào phụ lục danh lục quản lý một số loài thực vật và động vật rừng quý, hiếm, có nguy cơ tuyệt củng cao. Đặc biệt có một số loài Lan thuộc nhóm IA và IIA có nhiều loài Lan rừng đang có nguy cơ tuyệt chủng trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 2. Tình hình nghiên cứu thực vật quý hiếm trên thế giới * Tổng quan về công tác bảo tồn nguồn gen Sự suy thoái nhanh chóng của diện tích rừng nhiệt đới trên toàn cầu với tốc độ ước tính khoảng 12,6 triệu ha mỗi năm, tương đương 0,7% tổng diện tích rừng nhiệt đới (FAO, 2001) đá gây ra những tác hại to lớn về kinh tế, xã hội và môi trường.
Rừng nhiệt đới được xem như những “kho chứa” về tính đa dạng sinh học (ĐDSH) của thế giới (Kanowski và Boshier, 1997)[19] nên sự suy thoái về số lượng lẫn chất lượng của rừng nhiệt đới đồng nghĩa với sự suy giảm tính ĐDSH. Vì vậy, việc phát triển những chiến lược hiệu quả nhằm bảo tồn, khôi phục và phát triển tính ĐDSH cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới đang nhận được sự quan tâm của nhiều tổ chức quốc tế và nhiều dự án bảo tồn ĐDSH cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới đang được tiến hành trên quy mô toàn cầu. Bảo tồn các tài nguyên sống có ba mục tiêu chủ yếu, đó là 1. Bảo vệ các hệ sinh thái (bảo tồn thiên nhiên), 2.
Bảo tồn sự đa dạng di truyền (bảo tồn nguồn gen) và 3. Bảo đảm sử dụng lâu bền các nguồn tài nguyên. Như vậy có thể dễ dàng nhận thấy vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng của bảo tồn nguồn gen trong chiến lược bảo vệ đa dạng sinh học (FAO, 1983). Bảo tồn nguồn gen thực chất là bảo tồn đa dạng di truyền tồn tại bên trong mỗi loài và giữa các loài.
Đặc điểm của nguồn gen các loài Lan rừng nhiệt đới là có rất nhiều chủng loại, trong đó có một số lớn là chưa có ích hoặc chưa biết giá trị sử dụng của chúng, số loài được gây trồng và sử dụng không nhiều. Nên ngoài nhiệm vụ bảo tồn tính đa dạng di truyền, bảo tồn nguồn gen các loài Lan rừng còn có nét đặc thù là phải gắn với nhiệm vụ bảo vệ thiên nhiên. Phải có sự thỏa hiệp giữa các nhân tố sinh học với các nhân tố kỹ thuật, kinh tế và hành chính. c 5 * Tổng quan về các loài Lan Hoa là nguồn tài nguyên, là vẻ đẹp tôn quý của thiên nhiên ban tặng cho con người, cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội nghề trồng hoa và thú chơi hoa trong những năm gần đây dần đi theo chiều sâu, thưởng thức những loại hoa có chất lượng cao và có giá trị kinh tế lớn.
Trong các loài hoa, hoa Lan đang là nhu cầu của nhiều thị trường trong và ngoài nước. Đây là một trong những họ lớn nhất của thực vật, và chúng phân bố nhiều nơi trên thế giới. Gần như có mặt trong mọi môi trường sống, ngoại trừ các sa mạc và sông băng. Phần lớn các loài được tìm thấy trong khu vực nhiệt đới, chủ yếu là châu Á, Nam Mỹ và Trung Mỹ.
Chúng cũng được tìm thấy tại các vĩ độ cao hơn vòng Bắc cực, ở miền nam Patagonia và thậm chí trên đảo Macquarie, gần với châu Nam Cực. Nó chiếm khoảng 6-11% số lượng loài thực vật có hoa. Danh sách dưới đây liệt kê gần đúng sự phân bố của họ Orchidaceae: Nhiệt đới châu Mỹ: 250 - 270 chi Nhiệt đới châu Á: 260 - 300 chi Nhiệt đới châu Phi: 230 - 270 chi Châu Đại Dương: 50 - 70 chi Châu Âu và ôn đới châu Á: 40 - 60 chi Bắc Mỹ: 20 - 25 chi - Những nghiên cứu về Lan Cây hoa Lan được biết đến đầu tiên từ năm 2800 trước công nguyên, trải qua lịch sử phát triển lâu dài, đến nay ở nhiều quốc gia đá lai tạo, nhân nhanh được nhiều giống mới đem lại giá trị kinh tế cao. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và sản xuất hoa Lan trên thế giới ngày càng được quan tâm, chú ý nhiều hơn, đặc biệt nhất là Thái Lan.
c 6 Cây Lan biết đến đầu tiên ở Trung Quốc là Kiến Lan (được tìm ra đầu tiên ở Phúc Kiến) đó là Cymbidium ensifonymum là một loài bán địa Lan. Ở Phương Đông, Lan được chú ý đến bởi vẻ đẹp duyên dáng của lá và hương thơm tuyệt vời của hoa. Vì vậy trong thực tế Lan được chiêm ngưỡng trước tiên là lá chứ không phải màu sắc của hoa (quan niệm thẩm mỹ thời ấy chuộng tao nhã chứ không ưa phô trương sặc sỡ). Lan đối với người Trung Hoa hay Lan đối với người Nhật, tượng trưng cho tình yêu và vẻ đẹp, hương thơm tao nhã, tất cả thuộc về phái yếu, quý phái và thanh lịch như có người đá nói “Mùi hương của nó tỏa ra trong sự yên lặng và cô đơn”.
Khổng Tử đề cao Lan là vua của những loài cây cỏ có hương thơm. Phong trào chơi phong Lan và địa Lan ở Trung Quốc phát triển rất sớm, từ thế kỷ thứ V trước công nguyên đá có tranh vẽ về phong Lan còn lưu lại từ thời Hán Tông. Ở châu Âu bắt đầu để ý đến phong Lan từ thế kỷ thứ 18, sau Trung Quốc đến hàng chục thế kỷ và cũng nhờ các thuỷ thủ thời bấy giờ mà phong Lan đá đi khắp các miền của địa cầu. Lúc đầu là Vanny sau đó đến Bạch Cập, Hạc Đính rồi Kiến Lan.