MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết thực hiện nội dung thực tập Hoa lan được biết đến rất sớm từ 2800 năm TCN. Họ Lan là một đỉnh cao tiến hóa của các loại hoa Nhà thực vật học người Nga Glakova (1982) [10] đã ca ngợi '' Thiên nhiên đã ban tặng cho loài lan một vẻ đẹp lạ thường và tính đa dạng của hoa đã làm xửng xốt con người từ ngày xưa cho đến ngày nay”. Quả vậy với 750 chi và 20000-25000 loài ( theo A.L Takhtajan,1987 ) [1] họ phong lan chiếm thứ 2 chỉ đứng sau họ Cúc tong ngành thực vật hạt kín Magnoliophyta là họ lớn nhất trong lớp Một lá mầm Monocotyledones.
Chính vì thế , hình thái, cấu tạo, cũng như hệ thống phân loài họ này hết sức đa dạng và phức tạp. Việt Nam là xứ sở của hoa lan, là một trong những nước xuất xứ của các loài lan thơm đẹp và quý hiếm của thế giới có thể kể đến nhứ : Hải Hằng, Thanh Trường, Thanh Ngọc , Hoàng Vũ … Trong những năm gần đây, cũng như sự phát triển nhanh chóng của kinh tế xã hội , nhu cầu sử dụng hoa nói chung và hoa lan nói riêng cũng tăng rất nhanh , bên cạnh nhu cầu về số lượng chất lượng hoa cũng đòi hỏi ngày càng cao, nhất là các loại lan bản địa truyền thống có màu sắc đẹp hương thơm quyến rũ. Giá trị hoa lan không chỉ ở mặt thẩm mỹ, làm thuốc chữa bệnh mà nó còn là loài hoa có giá trị kinh tế cao. Chính vì những lợi ích trên với ý thức của người dân chưa cao mà hiện nay việc khai thác lan rừng diễn ra bừa bãi không thể kiểm soát được dẫn tới nguồn tài nguyên hoa lan ngày càng cạn kiệt.
Để giải quyết vẫn đề này chúng ta phải có biện pháp lưu giữ bảo tồn nguồn zen hoa lan, từ đó có kế hoạch khai thách phát triển và sử dụng một c 2 cách hiệu quả nhất. Tuy nhiên để giải quyết được vấn đề này chúng ta phải đánh giá được đặc điểm sinh trưởng và phân bố của chúng. Đây là một trong những họ lớn nhất của thực vật, và chúng phân bố nhiều nơi trên thế giới và Việt Nam. Do có giá trị kinh tế cao, được nhiều người ưa thích, các loài lan rừng đã bị khai thác kiệt quệ.
Để tìm hiểu một số đặc điểm sinh học, phân bố của các loài lan trong điều kiện sinh cảnh tự nhiên ở xã Bản Thi, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn phục vụ công tác bảo tồn và phát triển các loài lan rừng, chúng tôi nghiên cứu khóa luận: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và phân bố của các loài lan (Orchidaceae spp) tại xã Bản Thi huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn. Trên cơ sở phân tích các số liệu thu được, đề xuất phương pháp khai thác hợp lý, góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên quý này. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau: – Tìm hiểu tri thức bản địa của người dân về các loài lan rừng, mục đích khai thác và sử dụng lan rừng của người dân - Tìm hiểu đặc điểm sinh học các loài lan rừng trong khu vực nghiên cứu - Phân bố của các loài lan tại khu vực nghiên cứu. - Xác định đặc điểm sinh thái học của các loài lan tại khu vực nghiên cứu làm cơ sở để đề xuất được giải pháp bảo tồn và phát triển loài lan.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Việc nghiên cứu và đánh giá đặc điểm sinh thái, tình trạng phân bố của các loài lan nhằm đề xuất một số giải pháp bảo tồn. Ý nghĩa trong thực tiễn - Giúp tôi hiểu thêm về sự phân bố và các đặc điểm sinh thái các loài lan trong khu vực nghiên cứu. - Ứng dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn.
- Biết được tầm quan trọng của các loài thực vật quý hiếm nói chung và các loài lan nói riêng. - Biết được tầm quan trọng của công tác bảo tồn trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng hiện nay. c 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Về cơ sở sinh học Công việc nghiên cứu đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng cần phải nắm rõ đặc điểm sinh học của từng loài.
Việc hiểu rõ hơn về đặc tính sinh học của loài giúp chúng ta có những biện pháp tác động phù hợp, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm, từ đó giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật. Về cơ sở bảo tồn Biến đổi khí hậu, chặt phá rừng làm cho nhiều loài động, thực vật đứng trước nguy cơ tuyệt chủng chính vì vậy công tác bảo tồn loài, bảo tồn đa dạng sinh học ngày càng được quan tâm và chú trọng. Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, chính phủ Việt Nam cũng công bố Sách đỏ Việt Nam để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên. Sách đỏ Việt Nam (2007) phần II thực vật [20], đã công bố Việt Nam có 66 loài lan thuộc nhóm bị đe doạ, gồm: 4 loài lan có nguy cơ tuyệt chủng ở phân hạng: Rất nguy cấp – CR 52 loài lan có nguy cơ tuyệt chủng ở phân hạng: Nguy cấp – EN 10 loài lan có nguy cơ tuyệt chủng ở phân hạng: Sẽ nguy cấp -VU Nghị định 32/NĐ-CP ngày 30/3/2006 [18] : Về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.
Đã đưa vào phụ lục dang lục quản lý một số loài thực vật và động vật rừng quý, hiếm, có nguy cơ tuyệt củng cao. Đặc biệt có một só loài lan thuộc nhóm IA (Thực vật rừng, động vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại) Gồm: Tất cả các loài trong chi Lan kim tuyến - Anoectochilus spp. c 5 Tất cả các loài trong chi Lan hài - Paphiopedilum spp. Tất cả các loài trong chi Lan một lá - Nervilia spp.
Và loài Thạch hộc (Hoàng phi hạc) - Dendrobium nobile (nhóm IIA: Thực vật rừng, động vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại) 2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu lan rừng trong và ngoài nƣớc. Tình hình nghiên cứu thực vật quý hiếm trên thế giới. * Tổng quan về công tác bảo tồn nguồn gen Sự suy thoái nhanh chóng của diện tích rừng nhiệt đới trên toàn cầu với tốc độ ước tính khoảng 12,6 triệu ha mỗi năm, tương đương 0,7% tổng diện tích rừng nhiệt đới (FAO, 2001)[8] đã gây ra những tác hại to lớn về kinh tế, xã hội và môi trường.
Rừng nhiệt đới được xem như những “kho chứa” về tính đa dạng sinh học (ĐDSH) của thế giới (Kanowski và Boshier, 1997) [15] nên sự suy thoái về số lượng lẫn chất lượng của rừng nhiệt đới đồng nghĩa với sự suy giảm tính ĐDSH. Vì vậy, việc phát triển những chiến lược hiệu quả nhằm bảo tồn, khôi phục và phát triển tính ĐDSH cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới đang nhận được sự quan tâm của nhiều tổ chức quốc tế và nhiều dự án bảo tồn ĐDSH cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới đang được tiến hành trên quy mô toàn cầu. Bảo tồn các tài nguyên sống có ba mục tiêu chủ yếu, đó là (1) Bảo vệ các hệ sinh thái (bảo tồn thiên nhiên), (2) Bảo tồn sự đa dạng di truyền (bảo tồn nguồn gen) và (3) Bảo đảm sử dụng lâu bền các nguồn tài nguyên. Như vậy có thể dễ dàng nhận thấy vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng của bảo tồn nguồn gen trong chiến lược bảo vệ đa dạng sinh học (FAO, 1983) [7].
Bảo tồn nguồn gen thực chất là bảo tồn đa dạng di truyền tồn tại bên trong mỗi loài và giữa các loài. Đặc điểm của nguồn gen các loài lan rừng nhiệt đới là có rất nhiều chủng loại, trong đó có một số lớn là chưa có ích hoặc chưa biết giá trị sử dụng của chúng, số loài được gây trồng và sử dụng không nhiều. Nên ngoài c 6 nhiệm vụ bảo tồn tính đa dạng di truyền, bảo tồn nguồn gen các loài lan rừng còn có nét đặc thù là phải gắn với nhiệm vụ bảo vệ thiên nhiên. Phải có sự thỏa hiệp giữa các nhân tố sinh học với các nhân tố kỹ thuật, kinh tế và hành chính.
Giữa bảo tồn nguồn gen với bảo vệ thiên nhiên tuy có quan hệ mật thiết với nhau, song lại có sự phân biệt quan trọng. Theo Roche (1975) [19] và Frankel (1975) [9] thì bảo tồn thiên nhiên là nhằm bảo vệ các diện tích đại diện cho các sinh cảnh và các quần xã, những đối tượng có thể phân định được. Còn bảo tồn nguồn gen thì đi xa hơn, nó quan tâm đến những khác biệt di truyền, những cái chỉ có thể đoán định chứ không thể phân biệt được. * Tổng quan về các loài lan - Đặc điểm thực vật Họ Lan (Orchidaceae) là một họ thực vật có hoa, thuộc bộ Lan Orchidales, lớp thực vật một lá mầm.
Lan thuộc vào loài hoa đông đảo với khoảng 750 loài và hơn 25.000 giống nguyên thủy và khoảng một triệu giống đã được lai giống nhân tạo hay thiên tạo, hoa lan (Orchidaceae) là một loài hoa đông đảo vào bậc thứ nhì sau hoa cúc (Asteraceae). Người ta thường gọi lầm tất cả các loại hoa lan là phong lan. Hoa lan mọc ở các điều kiện, giá thể khác nhau và được chia làm 4 loại: 1. Epiphytes: Phong lan bám vào cành hay thân cây gỗ đang sống.
Terestrials: Địa lan mọc dưới đất. Lithophytes: Thạch lan mọc ở các kẽ đá. Saprophytes: Hoại lan mọc trên lớp rêu hay gỗ mục. Đối với các loài lan (phong lan và địa lan), hầu như từ trước tới nay, người dân mới biết đến chúng là những loài được sử dụng làm cây cảnh trang trí ở các hộ gia đình mà chưa biết rằng trong số hàng ngàn loài lan đã phát c 7 hiện có một số loài còn có tác dụng cung cấp các hoạt chất sinh học làm nguyên liệu chế biến thuốc và thực phẩm chức năng.
Trong số những loài đó người ta đã phát hiện trong lan Thạch hộc tía và lan kim tuyến có chứa một loại hoạt chất để sản xuất thuốc chữa ung thư. Chính vì vậy, giá thị trường hiện nay lên tới 7 triệu đồng/kg lan Thạch hộc tía. - Phân bố Đây là một trong những họ lớn nhất của thực vật, và chúng phân bố nhiều nơi trên thế giới. Gần như có mặt trong mọi môi trường sống, ngoại trừ các sa mạc và sông băng.
Phần lớn các loài được tìm thấy trong khu vực nhiệt đới, chủ yếu là châu Á, Nam Mỹ và Trung Mỹ.