Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Rừng và tài nguyên đa dạng sinh học đóng vai trò quan trọng đối với môi trường sinh thái cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, dưới tác động của quá trình đô thị hóa, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác gỗ, củi và lâm sản ngoài gỗ quá mức, nhiều hệ sinh thái tự nhiên bị suy thoái và nhiều loài sinh vật đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Tại Việt Nam, công tác bảo tồn đa dạng sinh học đã được thực hiện thông qua hai hình thức chính là bảo tồn nguyên vị (in-situ) và bảo tồn chuyển vị (ex-situ) tại hệ thống 128 khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia.
Bình vôi (Stephania brachyandra Diels) thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae) là loài cây dược liệu quý mọc hoang trên các vùng núi đá vôi có độ cao từ 100 m trở lên tại nhiều tỉnh như Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Thanh Hóa, Vũng Tàu. Đây là một trong 134 loài cây thuốc có nguy cơ bị đe dọa tại Việt Nam. Do bị khai thác thương mại mạnh mẽ, sinh cảnh bị chia cắt và khả năng tái sinh tự nhiên kém, các quần thể Bình vôi đang suy giảm nghiêm trọng. Trong khi đó, các công trình nghiên cứu trước đây về loài này chủ yếu dừng lại ở mức mô tả sơ bộ hình thái, còn thiếu các dữ liệu định lượng về đặc điểm lâm học, cấu trúc quần xã và khả năng tái sinh. Đề tài được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu khoa học và thực tiễn về bảo tồn nguồn gen tại Vườn quốc gia Ba Bể.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài Bình vôi (Stephania brachyandra Diels) tại Vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Đề xuất một số biện pháp bảo tồn nguồn gen thực vật quý hiếm này tại Vườn quốc gia Ba Bể.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài Bình vôi (Stephania brachyandra Diels).
- Nghiên cứu đặc điểm sinh thái nơi loài phân bố.
- Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc lâm phần nơi có loài Bình vôi phân bố.
- Đánh giá sự tác động của con người đến loài cây nghiên cứu.
- Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh để phát triển và bảo tồn loài Bình vôi.
Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Loài cây Bình vôi (Stephania brachyandra Diels).
- Phạm vi không gian: Khu vực rừng tự nhiên thuộc địa bàn xã Nam Mẫu, Vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (tọa độ địa lý từ 22°16’12” đến 22°33’45” vĩ độ Bắc và từ 105°28’31” đến 105°47’20” kinh độ Đông).
- Thời gian thực hiện: Từ ngày 22 tháng 8 năm 2014 đến ngày 30 tháng 11 năm 2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý
Nghiên cứu vận dụng khung đánh giá tình trạng loài theo tiêu chuẩn của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên (IUCN 1987, 2004), Sách đỏ Việt Nam (1996, 2007) và danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ (thuộc Nhóm IIA - hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại).
Cơ sở sinh thái học và cấu trúc rừng được xây dựng dựa trên các lý thuyết lâm học cổ điển và hiện đại:
- Nguyên lý phân tầng thẳng đứng và tổ thành loài của Richards (1952, 1959, 1970), Baur (1964, 1976) và Odum.
- Quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính của Prodan (1952), Meyer và Rollet.
- Hệ thống phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới gió mùa Việt Nam của Thái Văn Trừng (1978, 2000) và Trần Ngũ Phương (1970).
- Phương pháp xác định mức độ ưu thế loài thông qua chỉ số giá trị quan trọng (Importance Value Index - $IV%$) của Curtis & McIntosh kết hợp ngưỡng phân định $IV \ge 5%$ của Daniel Marmilod.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài tiếp cận theo nguyên tắc "Lấy không gian thay thế thời gian" để đánh giá cấu trúc và diễn thế của lâm phần có Bình vôi phân bố.
-
Phương pháp lập tuyến điều tra: Thiết lập 2 tuyến khảo sát qua các trạng thái thực bì ở 2 đai cao khác nhau tại xã Nam Mẫu:
- Tuyến 1: Độ cao 207 – 420 m, chiều dài 2,5 km, ghi nhận 6 cá thể Bình vôi.
- Tuyến 2: Độ cao 612 – 920 m, chiều dài 3,2 km, ghi nhận 9 cá thể Bình vôi.
- Trên mỗi tuyến, cứ cách 200 m tiến hành rà soát sang 4 phía với bán kính 50 m để xác định vị trí quần thể.
-
Phương pháp điều tra tầng cây cao: Tại mỗi đai cao, lập 5 ô tiêu chuẩn (OTC) tạm thời điển hình có diện tích $2.000\text{ m}^2$ ($50\text{ m} \times 40\text{ m}$) tại vị trí có ít nhất 1 cây Bình vôi. Mỗi OTC được chia thành lưới 25 ô thứ cấp diện tích $100\text{ m}^2$ ($10\text{ m} \times 10\text{ m}$) để đo đếm toàn bộ các cây gỗ có đường kính ngang ngực ($D_{1.3} \ge 6\text{ cm}$), chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$), chiều cao dưới cành ($H_{dc}$) và đường kính tán ($D_t$).
-
Phương pháp điều tra cây bụi, thảm tươi và dây leo: Lập các ô dạng bản (ÔDB) trong OTC; xác định độ che phủ theo công thức:
$$CP(%) = \frac{L_{\text{gặp}}}{L_{\text{tuyến}}} \times 100$$
-
Phương pháp điều tra cây tái sinh: Trong mỗi OTC, bố trí 30 ô dạng bản diện tích $4\text{ m}^2$ ($2\text{ m} \times 2\text{ m}$) trên 5 tuyến song song cách đều nhau 10 m (mỗi tuyến 6 ô cách nhau 5 m). Tiến hành đo đếm cây mạ và cây non ($D_{1.3} < 6\text{ cm}$), phân cấp phẩm chất (A: Tốt, B: Trung bình, C: Xấu) và xác định nguồn gốc tái sinh (chồi hoặc hạt).
-
Công thức tính toán:
- Chỉ số quan trọng:
$$IV(%) = \frac{F% + N% + G%}{3}$$
(trong đó $F%$ là tần số xuất hiện tương đối, $N%$ là mật độ tương đối, $G%$ là tiết diện ngang tương đối).
- Mật độ cây tái sinh:
$$N (\text{cây/ha}) = \frac{\sum_{i=1}^{30} n_i}{120} \times 10^4$$
- Hệ số tổ thành tái sinh ($K_i$):
$$K_i = \frac{n_i}{\sum n_i} \times 10$$
-
Xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm thống kê sinh thái và tin học ứng dụng gồm SPSS 13.0 và Microsoft Excel.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Phần mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của việc bảo tồn đa dạng sinh học và nguồn gen dược liệu đang bị đe dọa tại Việt Nam. Xác định đối tượng nghiên cứu là loài Bình vôi (Stephania brachyandra Diels), đặt ra 2 mục tiêu nghiên cứu và nêu rõ ý nghĩa học thuật trong việc rèn luyện phương pháp nghiên cứu lâm nghiệp cũng như ý nghĩa thực tiễn đối với công tác quản lý của Vườn quốc gia Ba Bể.
Phần 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Tổng hợp cơ sở lý luận về phân hạng bảo tồn (IUCN, Sách đỏ Việt Nam 2007, Nghị định 32/2006/NĐ-CP) và lược khảo lịch sử nghiên cứu cấu trúc, tái sinh rừng nhiệt đới của các tác giả quốc tế (Richards, Baur, Kraft, Yurkevich) và trong nước (Thái Văn Trừng, Đặng Kim Vui, Phạm Ngọc Thường, Trần Ngũ Phương).
Chương này cũng tổng hợp chi tiết điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Vườn quốc gia Ba Bể:
- Tự nhiên: Nhiệt độ trung bình $22^\circ\text{C}$ (cao nhất $39^\circ\text{C}$, thấp nhất $6^\circ\text{C}$), độ ẩm trung bình $83%$, lượng mưa trung bình $1.343\text{ mm}$. Hệ thống thủy văn gồm sông Chợ Lèng ($194\text{ km}^2$), suối Bó Lù ($137\text{ km}^2$), suối Tà Han ($89\text{ km}^2$) và sông Năng.
- Tài nguyên sinh vật: Ghi nhận 553 loài động vật có xương sống (81 loài thú, 322 loài chim, 27 loài bò sát, 17 loài ếch nhái, 106 loài cá; trong đó 51 loài thuộc Sách đỏ Việt Nam, 26 loài thuộc Danh lục IUCN). Hệ thực vật có 1.268 loài thuộc 672 chi, 162 họ, 5 ngành; riêng thực vật thân gỗ có 620 loài.
- Dân sinh - kinh tế: Vùng đệm và vùng lõi có 25.510 nhân khẩu (5.248 hộ), trong đó dân tộc thiểu số chiếm $98%$ (Tày, Nùng, Dao, Mông). Tỷ lệ hộ nghèo chiếm $46%$, thu nhập bình quân quy đổi đạt 394 kg lương thực/người/năm.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Xác định cụ thể đối tượng, thời gian, địa bàn nghiên cứu tại xã Nam Mẫu (VQG Ba Bể). Mô tả quy trình lập tuyến khảo sát thực địa, kỹ thuật thu thập số liệu hình thái thực vật, phương pháp lập ô tiêu chuẩn $2.000\text{ m}^2$ và ô dạng bản tái sinh $4\text{ m}^2$, cùng hệ thống công thức toán học lâm nghiệp tính toán $IV%$, mật độ và tổ thành tái sinh.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trình bày toàn bộ số liệu điều tra thực địa và kết quả tính toán chi tiết:
-
Đặc điểm hình thái và phân loại:
- Phân loại: Ngành Hạt kín (Magnoliophyta), Bộ Tiết dê (Menispermales), Họ Tiết dê (Menispermaceae), Chi Thiên kim đằng (Stephania), Loài Bình vôi (Stephania brachyandra Diels).
- Thân rễ: Dây leo nhiều năm, nhẵn, dài 2–3 m hoặc hơn; rễ củ phình to, hình dạng bất định.
- Lá: Mọc so le, cuống đính trong phiến dạng khiên, phiến lá hình trứng nhọn hoặc tam giác tròn, gân chân vịt.
- Hoa và quả: Cây đơn tính khác gốc. Cụm hoa cái gồm 7–9 xim tán nhỏ hợp thành, cuống dài 2–3 cm; hoa cái có 1 lá đài màu lục nhạt, 2 cánh hoa màu vàng cam xếp cùng một bên, bầu hình trứng hơi cong, 4–5 núm nhụy dạng gai nhỏ. Quả hình trứng rộng hơi dẹt; hạt hình trứng ngược dẹt, cụt đầu, có lỗ ở giữa, mặt lưng mang 4 hàng gai ngắn dạng mũ đinh. (Chưa quan sát thấy hoa đực ngoài thực địa).
-
Đặc điểm sinh thái và địa hình:
- Loài phân bố chủ yếu trên núi đất xen đá vôi bị chia cắt mạnh, độ dốc dao động từ $35^\circ$ đến $50^\circ$ (trung bình $40^\circ - 45^\circ$).
-
Cấu trúc tổ thành tầng cây cao:
- Đai cao dưới 500 m: Mật độ tầng cây cao đạt 590 cây/ha. Có 6 loài chủ yếu tham gia công thức tổ thành ($IV \ge 5%$):
$$17{,}58\text{ Ôr} + 15{,}52\text{ Nh.Đ} + 13{,}07\text{ Ng} + 10{,}31\text{ Tpc} + 8{,}60\text{ Tr} + 8{,}32\text{ Tr.t} + 26{,}58\text{ Lk}$$
(Ô rô, Nhọc đá, Nghiến, Thông pà cò, Trâm, Trâm trắng, Loài khác).
- Đai cao từ 500 – 1.000 m: Mật độ tầng cây cao đạt 1.312 cây/ha. Có 5 loài tham gia công thức tổ thành:
$$8{,}43\text{ Tđ} + 7{,}27\text{ S} + 6{,}24\text{ Tb} + 6{,}24\text{ Tbb} + 5{,}75\text{ Nh} + 49{,}76\text{ Lk}$$
(Trai đỏ, Sếu, Thôi ba, Thích bắc bộ, Nhọc, Loài khác).
| Chỉ tiêu lâm phần |
Đai cao < 500 m |
Đai cao 500 – 1.000 m |
| Mật độ cây cao |
590 cây/ha |
1.312 cây/ha |
| Loài ưu thế nhất ($IV%$) |
Ô rô ($17{,}59%$) |
Trai đỏ ($8{,}43%$) |
| Số loài trong CTTT |
6 loài |
5 loài |
| Mật độ tái sinh |
2.224 cây/ha |
3.072 cây/ha |
| Loài tái sinh ưu thế ($K_i$) |
Nghiến ($K_i = 1{,}58$) |
Trai đỏ ($K_i = 2{,}34$) |
-
Cây bụi, thảm tươi và tầng thứ:
- Cây bụi, thảm tươi thưa thớt, độ che phủ thấp từ $10%$ đến $14%$, chiều cao từ 0,1 đến 1 m. Các loài phổ biến gồm Cỏ lào, Ta me, Mía dò, Dương xỉ, Muồng quả đỏ...
- Cấu trúc rừng phân thành 3 tầng rõ rệt: Tầng tán chính (5–28 m), Tầng dưới tán (4–5 m), và Tầng cây bụi thảm tươi (< 3 m).
-
Tổ thành cây tái sinh:
- Đai dưới 500 m: Mật độ tái sinh đạt 2.224 cây/ha với 26 loài, ưu thế gồm Nghiến ($352\text{ cây/ha}$, $K_i = 1{,}58$), Nhọc đá ($256\text{ cây/ha}$, $K_i = 1{,}15$), Trâm trắng ($240\text{ cây/ha}$, $K_i = 1{,}08$), Trai đỏ ($240\text{ cây/ha}$, $K_i = 1{,}08$).
- Đai 500 – 1.000 m: Mật độ tái sinh đạt 3.072 cây/ha với 28 loài, ưu thế gồm Trai đỏ ($720\text{ cây/ha}$, $K_i = 2{,}34$), Nhọc ($464\text{ cây/ha}$, $K_i = 1{,}51$), Thích bắc bộ ($368\text{ cây/ha}$, $K_i = 1{,}20$).
- Cây con tái sinh của loài Bình vôi xuất hiện rất ít hoặc không có trong các ô dạng bản.
-
Tác động của con người và giải pháp:
- Rừng chịu tác động tiêu cực từ việc khai thác trộm các loài gỗ quý (Nghiến, Trai, Lát hoa, Đinh) và hoạt động đào bới rễ củ dược liệu (Bình vôi, Củ mài, Cậm cang, Thổ phục linh).
- Đề xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh (khoanh nuôi bảo vệ, xúc tiến tái sinh, bảo tồn nguyên vị), nâng cao nhận thức cộng đồng, hỗ trợ phát triển kinh tế nông lâm kết hợp vùng đệm và tăng cường năng lực tuần tra kiểm soát của lực lượng kiểm lâm.
Phần 5: Kết luận, kiến nghị
Tóm tắt các phát hiện chính về phân loại, hình thái, cấu trúc lâm phần và hiện trạng tái sinh của loài Bình vôi tại VQG Ba Bể; kiến nghị các cơ quan chức năng tiếp tục nghiên cứu phương pháp nhân giống nhân tạo và hoàn thiện quy chế bảo tồn loài cây này.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
- Xác định đầy đủ vị trí phân loại và mô tả chi tiết cơ quan sinh dưỡng (thân leo 2–3 m, rễ củ to, lá hình khiên gân chân vịt) cùng cơ quan sinh sản (cụm hoa cái 7–9 xim tán, cánh hoa màu vàng cam, hạt mang 4 hàng gai dạng mũ đinh) của loài Stephania brachyandra Diels tại Ba Bể.
- Cung cấp số liệu định lượng về điều kiện lập địa: loài phân bố trên núi đất xen đá vôi, độ dốc lớn từ $35^\circ$ đến $50^\circ$, tại 2 đai cao phân định (< 500 m và 500 – 1.000 m).
- Xác lập công thức tổ thành và mật độ tầng cây cao:
- Đai < 500 m: Mật độ 590 cây/ha, loài chiếm ưu thế nhất là Ô rô ($IV = 17{,}59%$).
- Đai 500 – 1.000 m: Mật độ 1.312 cây/ha, loài chiếm ưu thế nhất là Trai đỏ ($IV = 8{,}43%$).
- Xác định đặc điểm cấu trúc 3 tầng tán của rừng tự nhiên nơi Bình vôi phân bố và chứng minh độ che phủ của tầng cây bụi thảm tươi rất thấp ($10 - 14%$).
- Đánh giá định lượng mật độ cây tái sinh (2.224 cây/ha ở đai thấp và 3.072 cây/ha ở đai cao); đồng thời chỉ ra thực trạng cây con Bình vôi tái sinh tự nhiên dưới tán rừng rất kém.
Giải pháp và kiến nghị của tác giả
- Giải pháp lâm sinh: Thực hiện khoanh nuôi bảo vệ, bảo tồn nguyên vị các quần thể tự nhiên, hạn chế các tác động làm suy giảm độ tàn che của tán rừng.
- Giải pháp kinh tế - xã hội: Nâng cao nhận thức của người dân vùng đệm về kỹ thuật canh tác giống cây trồng, vật nuôi; giảm thiểu sự phụ thuộc vào việc khai thác lâm sản tự nhiên.
- Giải pháp quản lý: Tăng cường lực lượng kiểm lâm địa bàn, trang bị thêm phương tiện kỹ thuật và bổ sung chế độ hỗ trợ cho người tham gia công tác bảo vệ rừng.
Đóng góp về mặt khoa học
Bổ sung hệ thống dữ liệu thực địa định lượng về cấu trúc lâm phần và khả năng tái sinh của loài Stephania brachyandra Diels tại Vườn quốc gia Ba Bể – một đối tượng thực vật quý hiếm trước đây chủ yếu chỉ được ghi chép định tính về hình thái.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Thời gian nghiên cứu thực địa diễn ra trong thời gian ngắn (từ 22/8/2014 đến 30/11/2014), do đó chưa thể theo dõi trọn vẹn chu kỳ sinh trưởng qua các mùa trong năm; nghiên cứu chưa quan sát và ghi nhận được hình thái hoa đực của loài Bình vôi ngoài tự nhiên.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiến hành nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm sinh học hoa đực, quá trình thụ phấn, đặc tính sinh lý của hạt, cũng như thử nghiệm các phương pháp nhân giống sinh dưỡng (giâm hom củ, thân) và gieo ươm hạt để phục vụ công tác bảo tồn chuyển vị và phát triển cây dược liệu.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn dữ liệu thực chứng hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh thái học thực vật và Dược liệu học.
- Ban quản lý Vườn quốc gia Ba Bể và các khu bảo tồn thiên nhiên vùng núi đá vôi Đông Bắc trong việc xây dựng phương án quản lý, bảo tồn nguồn gen thực vật nguy cấp.
- Các nhà nghiên cứu cần tham khảo phương pháp điều tra cấu trúc lâm phần theo đai cao, kỹ thuật lập tuyến khảo sát sinh thái và phương pháp tính toán chỉ số giá trị quan trọng ($IV%$).
Câu hỏi thường gặp
1. Loài Bình vôi nghiên cứu có tên khoa học đầy đủ và cấp độ bảo tồn như thế nào?
Loài có tên khoa học là Stephania brachyandra Diels, thuộc chi Thiên kim đằng (Stephania), họ Tiết dê (Menispermaceae), bộ Tiết dê (Menispermales), ngành Hạt kín (Magnoliophyta). Loài được xếp vào cấp đánh giá "Hiếm" (R) trong Sách đỏ Việt Nam (1996) và thuộc Nhóm IIA theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ.
2. Tác giả đã khảo sát bao nhiêu tuyến điều tra và tìm thấy bao nhiêu cá thể Bình vôi?
Tác giả đã lập 2 tuyến điều tra tại xã Nam Mẫu:
- Tuyến 1 (độ cao 207 – 420 m, dài 2,5 km) ghi nhận 6 cá thể.
- Tuyến 2 (độ cao 612 – 920 m, dài 3,2 km) ghi nhận 9 cá thể.
3. Công thức tổ thành tầng cây cao ở hai đai độ cao có sự khác biệt ra sao?
- Ở đai < 500 m: $17{,}58\text{ Ôr} + 15{,}52\text{ Nh.Đ} + 13{,}07\text{ Ng} + 10{,}31\text{ Tpc} + 8{,}60\text{ Tr} + 8{,}32\text{ Tr.t} + 26{,}58\text{ Lk}$.
- Ở đai 500 – 1.000 m: $8{,}43\text{ Tđ} + 7{,}27\text{ S} + 6{,}24\text{ Tb} + 6{,}24\text{ Tbb} + 5{,}75\text{ Nh} + 49{,}76\text{ Lk}$.
4. Kết quả điều tra tái sinh tự nhiên của loài Bình vôi cho thấy điều gì?
Tại các ô dạng bản điều tra lớp cây tái sinh ở cả 2 đai cao (mật độ chung lần lượt là 2.224 cây/ha và 3.072 cây/ha), cây con của loài Bình vôi xuất hiện rất ít hoặc hoàn toàn vắng mặt, phản ánh khả năng tái sinh tự nhiên kém của loài dưới tán rừng.
5. Khóa luận mô tả đặc điểm hoa và hạt của loài Bình vôi như thế nào?
Cụm hoa cái gồm 7–9 xim tán nhỏ, hoa cái có 1 lá đài màu lục nhạt, 2 cánh hoa màu vàng cam xếp cùng một bên, bầu hình trứng hơi cong với 4–5 núm nhụy dạng gai nhỏ. Quả hình trứng rộng hơi dẹt; hạt dẹt, cụt đầu, có lỗ ở giữa và lưng mang 4 hàng gai ngắn dạng mũ đinh. Trong đợt điều tra chưa bắt gặp hoa đực.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Thị Diệu đã giải quyết trọn vẹn các mục tiêu nghiên cứu về đặc điểm hình thái, phân bố sinh thái, cấu trúc quần xã thực vật và tình trạng tái sinh tự nhiên của loài Bình vôi (Stephania brachyandra Diels) tại Vườn quốc gia Ba Bể. Bằng phương pháp điều tra lâm học thực địa kết hợp xử lý thống kê toán học, công trình đã làm sáng tỏ hiện trạng phân bố trên địa hình núi đá dốc, sự tham gia của các loài cây gỗ ưu thế trong lâm phần và thực trạng tái sinh tự nhiên rất hạn chế của loài. Những số liệu thực nghiệm này cung cấp cơ sở khoa học xác thực phục vụ trực tiếp cho việc hoạch định các giải pháp kỹ thuật lâm sinh và chính sách quản lý nhằm bảo tồn nguồn gen thực vật dược liệu nguy cấp tại địa phương.