ĐẶT VẤN ĐỀ Thực vật Hạt trần (Gymnospermae) là một ngành thực vật bậc cao. Cây Hạt trần được xem là thực vật cổ có nguồn gốc từ trên 300 triệu năm trước. Thực vật Hạt trần phân biệt với thực vật hạt kín ở chổ hạt của chúng không bao kín bằng bầu nhụy chính. Hạt phấn đính trực tiếp lên noãn hơn là các phần khác như ở cây hạt kín [16].
Các loài cây thuộc ngành Hạt trần (Gymnospermae) là tài nguyên quan trọng của thế giới thực vật. Số lượng 603 loài Hạt trần (so với 250.000 loài cây thuộc ngành Hạt kín) rõ ràng không phải là lớn, song chúng đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với môi trường và kinh tế – xã hội ở nhiều nước trên thế giới. Các khu rừng cây lá kim rộng lớn của Bắc bán cầu là nơi lọc khí cacbon, giúp làm điều hòa khí hậu thế giới. Cũng như ở nhiều nước Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Á cũng như Ôxtrâylia và Newzeland các loài Hạt trần tự nhiên và gây trồng đóng vai trò rất quan trọng về cảnh quan cũng như kinh tế [5], [25].
Tại Việt Nam, với tổng số khoảng 50 loài cây thuộc ngành Hạt trần trong đó có khoảng 33 loài bản địa [16]. Chúng thường phân bố trên các vùng có độ cao lớn, như các loài Thông ba lá, Hồng tùng, Bách xanh, Pơ mu ở Đà Lạt (độ cao 1.500m so với mực nước biển); Hồng tùng, Bạch tùng, Thông tre ở Núi Chúa (Khánh Hoà), Bà Nà (Đà Nẵng), Bạch Mã (Thừa Thiên Huế) và một số các loài Hạt trần khác ở Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Sơn La, Số ít loài khác được trồng tại các đai thấp hơn như Thông đuôi ngựa, Thông nhựa. Với số lượng loài không nhiều lại chỉ phân bố tại các khu vực nhất định. Các loài cây thuộc Hạt trần có rất nhiều giá trị khác nhau phục vụ cho cuộc sống con người như: các giá trị về sinh thái, kinh tế, thương mại, bảo tồn cũng như văn hoá xã hội.
Chúng là nguồn cung cấp một lượng lớn gỗ phục vụ cho nhu cầu của con 2 người. Một số loài có giá trị sử dụng rất cao trong xây dựng, xuất nhập khẩu như Pơ mu, Hoàng đàn. Ngoài ra một số loài trong ngành Hạt trần được coi là các hoá thạch sống của các loài thực vật cổ trên trái đất (Thuỷ tùng, Thông nước), là các loài đặc hữu của Việt Nam (Thông Đà Lạt), Vân sam (Phan Si Pan). Hệ sinh thái rừng nước ta được đánh giá cao về tính đa dạng, sự ổn định bền vững nhờ vào cấu trúc nhiều tầng thứ, nhiều thành phần loài, nhiều dạng sống.
Do nước ta có sự đa dạng về địa hình, khí hậu ẩm nhiệt và cảnh quan không đồng nhất. Trong sự phát triển của xã hội những thập kỷ gần đây, trên thế giới cũng như ở nước ta nhu cầu sử dụng tài nguyên ngày càng cao, các sản phẩm được sử dụng đa dạng về kiểu cách, loại hình sử dụng. Vì vậy, vấn đề bảo vệ và sử dụng một cách bền vững tài nguyên rừng đang trở nên hết sức quan trọng. Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà là một trong những vùng phân bố chính của một số loài thuộc ngành Hạt trần ở nước ta [22].
Tại đây có nhiều loài Hạt trần như Pơ mu, Thông tre, Thông Đà Lạt, Thông hai lá dẹt, Hồng tùng, Bạch tùng. Như vậy với sự đa dạng của các loài thực vật thuộc Hạt trần, là nơi còn sót lại của một số loài đặc hữu quí hiếm được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam cũng như Sách Đỏ thế giới [1]. Các loài thực vật Hạt trần ở Vườn Quốc Gia Bidoup – Núi Bà và khu vực xung quanh bị khai thác rất mạnh trong những năm gần đây; làm suy giảm nghiêm trọng số lượng, cũng như diện tích phân bố của chúng. Vì vậy nghiên cứu bảo tồn thực vật Hạt trần là rất cần thiết và mang lại giá trị khoa học cũng như ý nghĩa thực tiễn.
Đó cũng là lý do đề tài“Nghiên cứu đặc điểm thực vật Hạt trần tại Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng” được thực hiện. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu về thực vật Hạt trần trên thế giới Trên thế giới thực vật bậc cao với khoảng 250.000 loài, trong đó ngành Hạt trần chỉ chiếm 600 loài [5], [18].Takhtajan đã hoàn thiện dần hệ thống phân loại thực vật ngành hạt Kín và Hạt trần qua các tài liệu đã công bố từ 1950, 1954, 1966, 1980, 1983, 1987, 1997. Ông phân ngành Hạt trần thành 6 lớp và các phân lớp, 10 họ.
Hệ thống phân loại của ông thể hiện việc vận dụng một cách tổng hợp các tài liệu thuộc các lĩnh vực chuyên sâu về hình thái, giải phẫu, phấn hoa, hóa sinh, cổ sinh và tế bào thực vật phản ảnh tương đối khách quan quá trình phát triển tiến hóa của thực vật nên đã và đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới [2], [26]. Ngoài ra, Kubitzkii (1990) đã công bố hệ thống phân loại ngành Hạt trần mới, hệ thống phân loại này chia ngành Hạt trần thành 4 lớp gồm 7 họ [25]. Hiện nay có trên 200 loài thực vật thuộc ngành Hạt trần được coi là bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn thế giới [5]. Rất nhiều loài khác bị đe dọa trong một phần phân bố tự nhiên của loài.
Những mối đe dọa thường gặp là việc khai thác gỗ hay các sản phẩm khác quá mức, phá rừng làm bãi chăn thả gia súc, trồng trọt và làm nơi sinh sống cho con người cùng với sự gia tăng tần suất của các đám cháy rừng. 4 Với tầm quan trọng của nhóm thực vật hạt trần, việc bảo tồn chúng ngày càng trở nên cấp thiết. Để thực hiện được đòi hỏi các chính sách cũng như chiến lược cụ thể để bảo tồn và sử dụng bền vững. Các nghiên cứu về thực vật Hạt trần tại Việt Nam Ở Việt Nam có khoảng 29 loài thực vật Hạt trần, chiếm 5% tổng số loài thực vật Hạt trần của thế giới.
Mặc dù chỉ chiếm dưới 5% số loài trong ngành Hạt trần đã biết trên thế giới, nhưng lại chiếm đến 27% số các chi và 5 trong số 8 họ thực Hạt trần đã biết ở Việt Nam [15]. Đã có nhiều nghiên cứu về thực vật ngành Hạt trần tại Việt Nam như: Bộ thực vật chí Đông Dương do H. Lecomte chủ biên (1907– 1952) các tác giả người Pháp đã thu mẫu và định tên, lập khoá mô tả các loài thực vật có mạch trên toàn lãnh thổ Đông Dương trong đó các loài ngành Hạt trần đã được giới thiệu và mô tả khá rõ tại đây [11]. Trên cơ sở bộ thực vật chí Đông Dương, gần đây bộ thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam do Aubréville khởi xướng và chủ biên (1960- 1997) cùng với nhiều tác giả khác đã công bố rất nhiều các loài cây có mạch.
Trong đó các loài ngành Hạt trần đã được giới thiệu [3]. Phạm Hoàng Hộ (1991 – 1993) trong bộ Cây cỏ Việt Nam xuất bản tại Canada và được tái bản có bổ sung tại Việt Nam trong 2 năm (1999 – 2000) [7]. Đây là bộ sách tra khảo khá đầy đủ và dễ sử dụng góp phần đáng kể cho khoa học thực vật ngành Hạt trần Việt Nam, trong bộ sách tra cứu này tác giả đã mô tả kèm với hình ảnh được vẽ tay của các loài Hạt trần. Gần đây nhất là bộ sách: Cây lá kim Việt Nam của Nguyễn Hoàng Nghĩa (2004), hay Thông Việt Nam – Nghiên cứu hiện trạng bảo tồn, Nguyễn Tiến Hiệp cùng các cộng sự (2005).
Các tài liệu này đã mô tả khá chi tiết một số loài 5 cây lá Kim, cũng như đánh giá hiện trạng và công tác bảo tồn của một số loài cây thuộc ngành Hạt trần ở Việt Nam [5], [16]. Những phát hiện gần đây đã bổ sung một số loài Hạt trần có giá trị cho hệ thực vật Việt Nam: Thông Pà Cò Pinus kwangtungensis (Phan Kế Lộc, 1984), Dẻ tùng sọc nâu rộng Amentotaxus hatuyenensis (Nguyen Tien Hiep & Vidal, 1996), Thiết sam giả Pseudotsuga sinensis và Thiết sam núi đá Tsuga chinensis (Nguyễn Tiến Hiệp và cộng sự, 2000), Du sam núi đá Keteleeria davidiana (Phan Kế Lộc và cộng sự, 2002), Bách xanh đá Calocedrus rupestris (Averyanov et al., 2004) và gần đây nhất là loài Thông năm lá rũ Pinus cernua (Phan Kế Lộc và cộng sự, 2014). Ở Việt Nam hầu như tất cả các loài Hạt trần tự nhiên đều bị đe doạ ở những mức độ nhất định. Phần lớn các loài này cho gỗ quí, thích hợp trong sản xuất các sản phẩm mỹ nghệ, xây dựng.
Ngoài ra một số loài còn được sử dụng làm hương liệu hoặc có dược tính được dùng trong y học cổ truyền và y học hiện đại. Nhiều loài Hạt trần có ý nghĩa kinh tế và khoa học đã được nghiên cứu trước đây, nhằm phục vụ công tác bảo tồn và trồng rừng. Trong số 29 loài hạt Trần được biết ở Việt Nam đã có hơn một nửa số loài đã được thử nghiệm nhân giống bằng phương pháp giâm hom [8], [11]. Huỳnh Văn Kéo, Lương Viết Hùng, Lương Viết Hùng, Trương Văn Lung đã nghiên cứu giâm hom loài Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum), sử dụng chất kích thích sinh trưởng với các nồng độ khác nhau làm chất điều hòa sinh trưởng, kết quả cho thấy loài này có khả năng nhân giống bằng hom và tỷ lệ ra rễ của hom thu hái từ cây trưởng thành thấp hơn cây non [8].
Thực vật Hạt trần tại Vƣờn quốc gia Bidoup – Núi Bà Tuy nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa của vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, nhưng do các yếu tố vị trí địa lý và địa hình chi phối nên khu vực VQG Bidoup – Núi Bà có chế độ khí hậu mang tính chất á nhiệt đới, với nền nhiệt độ trung bình trong khoảng 18ºC, khá ôn hòa, không có tháng lạnh quá và tháng nóng quá. Lượng mưa trung bình hàng năm của cả khu vực là 1. Tháng 9 có lượng mưa cao nhất là 300mm. Số ngày mưa trung bình hàng năm là khoảng 170 ngày (trong đó các tháng 12, 1, 2, 3 chỉ có khoảng 5 ngày mưa/tháng).
Tại các đai cao trên 1.900m như trên các đỉnh núi Bidoup, Hòn Giao, Gia Rích, Chư Yên Du thì có lượng mưa và số ngày mưa cao hơn. Độ ẩm ở khu vực này dao động từ 75% đến 85% và tương đối ổn định. Số ngày có sương mù trong năm là khoảng 80 ngày tập trung vào các tháng 2, 3, 4, 5 với số ngày có sương mù trung bình từ 8 đến 16 ngày/tháng. Trong khu vực vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà tại các đỉnh núi cao, số ngày có sương mù thường nhiều hơn Đà Lạt và mây mù bao phủ thường xuyên hơn.