Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Điều kiện tự nhiên của Mù Cang Chải Huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái là huyện vùng cao miền núi có trên 90% là đồng bào dân tộc H’mông sinh sống, huyện nằm ở phía Tây của tỉnh, cách thành phố Yên Bái 180 km, theo quốc lộ 32, phía Bắc giáp huyện Văn Bàn - tỉnh Lao Cai; Phía Nam giáp huyện Mường La - tỉnh Sơn La; Phía Đông giáp huyện Văn Chấn; Phía Tây giáp huyện Than Uyên - tỉnh Lai Châu. Tổng diện tích đất tự nhiên trong toàn huyện là 119.909,75 ha, là khu vực núi cao bắt nguồn từ dãy Hoàng Liên Sơn, bao gồm nhiều dãy núi liên tiếp nhau chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Giữa các dãy núi là các khe suối thuộc lưu vực sông Hồng và sông Đà với nét đặc trưng là địa hình bị chia cắt bởi các dãy núi tạo ra các thung lũng và những chân ruộng bậc thang.
Khí hậu: Có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang đặc tính ôn đới, chia thành 2 mùa: Mùa khô hanh và mùa mưa. Mùa khô giá lạnh tạo ra sương mù, sương muối, băng giá, giá buốt, mưa phùn và mùa mưa thì mưa nhiều gây sạt lở, lũ ống…là vùng có khí hậu tương đối khắc nghiệt, nhiệt độ xuống thấp vào mùa đông hàng năm từ 3 - 5oC, từ đó có ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông lâm nghiệp. Nhiệt độ bình quân trong năm từ 15 - 18,5oC. Tổng số dân huyện Mù Cang Chải là 10.824 hộ, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo chiếm trên 70%, trong đó 90% là dân tộc H’mông còn lại là dân tộc Thái, Kinh và các dân tộc khác.
Do là huyện vùng cao người dân chủ yếu là canh tác nông nghiệp, trong đó chăn nuôi chiếm vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế hộ gia đình, ngày càng được các ban ngành của tỉnh, huyện quan tâm đầu tư và phát triển, cùng với sự phát triển đó công tác bảo tồn các giống vật nuôi bản địa cũng được chú trọng như lợn đen, gà Mèo. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Bản chất di truyền các tính trạng Cũng như các giống vật nuôi khác, giống gà được hình thành gắn liền với sự tác động của môi trường sinh thái, điều kiện kinh tế kỹ thuật của xã hội. Hay nói c 4 cách khác, ngoài yếu tố di truyền, tác động của con người, thì các yếu tố ngoại cảnh khác như: nhiệt độ, ẩm đô, mùa … có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành các dặc tính sinh trưởng, phát dục, sinh sản của giống.
Tất cả các đặc điểm của một giống như: Các đặc tính sinh học, ngoại hình, tính năng sản xuất… Đều là tính trạng di truyền số lượng và chất lượng. Các tính trạng chất lượng được quy định bằng một hoặc nhiều cặp gen có hiệu ứng lớn, chúng được di truyền tuân theo các định luật của Mendel và ít chịu ảnh hưởng của các điều kiện môi trường. Các tính trạng sản xuất được quy định bằng nhiều cặp gen có hiệu ứng nhỏ, chúng được di truyền cho đời sau theo các mức độ khác nhau, sự thể hiện của chúng ở đời sau chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại cảnh. Sự biểu hiện kiểu hình của các tính trạng số lượng chịu sự tác động rất lớn của yếu tố ngoại cảnh.
Mối liên hệ này được thể hiện trong biểu thức: P=G+E Trong đó: P: Giá trị kiểu hình, là các giá trị đo lường của tính trạng số lượng trên một cá thể. G: Giá trị kiểu gen E: Sai lệch môi trường. Nói cách khác: Trong những điều kiện môi trường nhất định thì các kiểu gen khác nhau sẽ cho những khả năng sản xuất khác nhau. Trái lại, cùng một kiểu gen nhưng trong những điều kiện môi trường khác nhau sẽ cho năng lực sản xuất khác nhau.
Nghĩa là các điều kiện môi trường, chăm sóc nuôi dưỡng có thể phát huy hoặc hạn chế các đặc tính di truyền của vật nuôi. Thông qua việc nắm bắt được các yếu tố di truyền, môi trường ngoại cảnh tối thích, bằng các biện pháp khoa học kỹ thuật hợp lý, con người không chỉ bồi dưỡng duy trì được các đặc tính của một phẩm chất giống mà còn cải tạo các giống mới theo những hướng sản xuất khác nhau. Tốc độ sinh trưởng quyết định sức sản xuất thịt của một giống gà, nó có tính di truyền tương đối cao thể hiện ở đặc điểm về trao đổi chất, kiểu hình của dòng, giống. Dòng, giống nào có tốc độ sinh trưởng lớn sẽ cho khả năng sản xuất thịt cao, vỗ béo và giết thịt sớm hơn.
Tốc độ sinh trưởng được thể hiện ở khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo (dài lườn, rộng ngực, dài đùi…). Để nâng cao năng lực sản c 5 xuất thịt của giống gà nào đó, người ta thường cho lai giữa mái của giống đó với trống của một giống khác có tốc độ sinh trưởng lớn hơn. Năng lực tăng đàn của một giống gà được quyết định bởi khả năng sinh sản bao gồm: Khả năng đẻ trứng, tỷ lệ trứng cho phôi, tỷ lệ ấp nở, tỷ lệ nuôi sống của gà… Ngoài ra còn phụ thuộc vào khả năng ấp trứng của gà mái, nguồn thức ăn (với gà nuôi thả)… 1. Đặc điểm di truyền một số tính trạng sản xuất của gia cầm 1.
Khả năng sinh trưởng * Khái niệm sinh trưởng Sinh trưởng là quá trình tích luỹ chất hữu cơ do quá trình đồng hoá và dị hoá của cơ thể, là sự tăng về các chiều cao, dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể của con vật. Đồng thời sinh trưởng chính là sự tích luỹ dần các chất dinh dưỡng chủ yếu là protein, nên tốc độ tích luỹ và sự tổng hợp các chất dinh dưỡng, protein cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sinh trưởng của cơ thể (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992 [23]). Theo Lương Thị Hồng (2005) [11] dẫn theo Johanson (1972) [14] thì cường độ phát triển qua giai đoạn bào thai và giai đoạn sau khi sinh có ảnh hưởng đến chỉ tiêu phát triển của con vật. Nhìn từ khía cạnh giải phẫu sinh lý thì sự sinh trưởng của các mô cơ diễn ra theo sơ đồ sau: HỆ THỐNG TIÊU HÓA NỘI TIẾT - HỆ THỐNG XƯƠNG - HỆ THỐNG CƠ BẮP - MỠ.
(1990) [58] thì Mozan định nghĩa: Sinh trưởng là sự tổng hợp quá trình tăng lên của các bộ phận trên cơ thể như thịt, da, xương. Tuy nhiên có khi tăng khối lượng chưa phải là sinh trưởng, sự sinh trưởng thực sự là tăng các tế bào của mô cơ, tăng thêm khối lượng, số lượng và các chiều của cơ thể. Tóm lại sinh trưởng phải trải qua 3 quá trình đó là: - Phân chia để tăng khối lượng tế bào - Tăng thể tích tế bào - Tăng thể tích giữa các tế bào. Trong các tổ chức cấu tạo của cơ thể gia cầm thì khối lượng cơ chiếm nhiều nhất từ: 42 - 45% khối lượng cơ thể.
Khối lượng cơ thể của con trống luôn lớn hơn con mái, không phụ thuộc vào lứa tuổi và loại gia cầm (Ngô Giản Luyện, 1994 [20]). Các giai đoạn sinh trưởng của gà Đối với gà, quá trình tích lũy các chất thông qua quá trình trao đổi chất đó, là sự tăng lên về khối lượng, kích thước tế bào, số lượng tế bào và dịch thể trong mô bào ở giai đoạn phát triển đầu của phôi trên cơ sở di truyền. Sau khi nở thì sinh trưởng là do sự lớn dần của các mô, đó là sự tăng lên về kích thước của tế bào và được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn gà con và giai đoạn trưởng thành. + Giai đoạn gà con Giai đoạn này gà sinh trưởng rất nhanh do lượng tế bào tăng nhanh, một số bộ phận của cơ quan nội tạng còn chưa phát triển hoàn chỉnh như các men tiêu hóa trong hệ tiêu hóa chưa đầy đủ do vậy thức ăn giai đoạn này cần chú ý đến thức ăn dễ tiêu hóa, vì thức ăn giai đoạn này ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng của gà.
Quá trình thay lông diễn ra trong cùng giai đoạn này là quá trình phát triển sinh lý, nó làm thay đổi quá trình trao đổi chất, tiêu hóa và hấp thu, do đó cần chú ý đến hàm lượng của các chất dinh dưỡng và axit amin thiết yếu trong khẩu phần thức ăn. + Giai đoạn trưởng thành Giai đoạn này các cơ quan trong cơ thể gà gần như đã phát triển hoàn thiện, số lượng tế bào tăng chậm chủ yếu là quá trình phát dục. Quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng trong giai đoạn này một phần để duy trì cơ thể, một phần để tích lũy mỡ, tốc độ sinh trưởng chậm hơn giai đoạn gà con. Số đo sinh trưởng của gà * Khối lượng cơ thể Ở từng giai đoạn phát triển, chỉ tiêu này xác định sự sinh trưởng của cơ thể tại một thời điểm, nhưng lại không khẳng định được sự sai khác về tỷ lệ sinh trưởng giữa các thành phần của cơ thể trong cùng một thời gian ở các độ tuổi.
Đơn vị tính được tính bằng g/con hoặc kg/con. * Sinh trưởng tích luỹ Là khối lượng, kích thước, thể tích của vật nuôi tích lũy được qua thời gian khảo sát. Các thông số thu được qua các lần cân đo là biểu thị sinh trưởng tích lũy của vật nuôi. c 7 * Sinh trưởng tuyệt đối Sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lượng, kích thước cơ thể trong một đơn vị thời gian giữa hai lần khảo sát theo (TCVN 2.
Sinh trưởng tuyệt đối thường được tính bằng g/con/ngày. Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn. * Sinh trưởng tương đối Sinh trưởng tương đối được tính bằng tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng (thể tích, kích thước) của cơ thể tăng lên so với khối lượng (thể tích, kích thước) khi kết thúc quá trình khảo sát so với thời điểm đầu khảo sát theo (TCVN 2. Gà còn non có sinh trưởng tương đối cao sau đó giảm dần theo tuổi.
- Đường cong sinh trưởng: Đường cong sinh trưởng biểu thị sinh trưởng của gia súc gia cầm nói chung. (1990) [58], đường cong sinh trưởng của gà có 4 đặc điểm chính gồm 4 pha: + Pha sinh trưởng tích lũy tăng tốc nhanh sau khi nở. + Điểm uốn của đường cong tại thời điểm có sinh trưởng cao nhất. + Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn.
+ Pha sinh trưởng tiệm cận với giá trị khi gà trưởng thành. Đường cong sinh trưởng không những được sử dụng để chỉ rõ về khối lượng mà còn làm rõ về mặt chất lượng, sự sai khác nhau giữa các dòng, giống, tính biệt (Kniztova H.