LỜI MỞ ĐẦU Lúa là một trong ba cây lương thực chủ yếu trên thế giới: lúa ai, lúa gạo, ngô. Nó có tim quan trọng sống còn đối với hơn 1⁄4 dân số rén hành tinh, cụ thể: 40% dân số thế giới coi lúa gạo là nguồn lương nực chính, 25% sử dung lúa gạo trên 1⁄4 khẩu phần lương lực hàng ngày. {hư vậy, lúa gạo có ảnh hưởng tới đời sống ít nhất 65% dân số thế giới. aia gao là loại lương thực chủ yếu hiện nay trong bữa ăn hàng ngày của ang tỉ người ở Châu A, Châu Phi, Châu Mi La Tinh, khu vực Trung )ông và trong tương lai nó vẫn sẽ là loại lương thực hàng đầu của họ.
sao cung cấp 2/3 lượng calo cho 3 tỉ người Châu A, 1⁄3 lượng calo cho .5 ti người Châu Phi và châu Mi La Tinh. Ngoài ra, trong lúa gạo còn chứa đẩy đủ các chất dinh dưỡng như các dy lương thực khác, đó là: tinh bột, đường, protein, lipit,. đặc biệt trong lúa ao còn chứa các vitamin, nhất là vitamin nhóm B: BI, B2, B6,.phân bố chủ fu ở phôi, vỏ cám. Ngoài việc sử dung làm lương thực là chủ yếu, gạo còn được sử dung im bánh, sản xuất rượu bia, bia sản xuất từ lúa gạo có màu trong, hương thơm; tác sản phẩm phụ từ lúa còn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau: * Tấm dùng sản xuất tinh bột, rượu cổn, vôtca, aceton, phân mịn và thuốc thữa bệnh.
* Cám ding sản xuất thức Ain gia súcnon và vỗ béo, làm thức ăn gia súc tổng Wp, trong công nghệ dược sản xuất vitamin BI chữa bệnh tê phù; Dầu cám có hất lượng cao, dùng chữa bệnh, chế tạo sơn cao cấp, làm mỹ phẩm, chế xà hong. * Trấu dùng sin xuất nấm men, làm thức ăn gia súc, sản xuất vật liệu đồng Dt hằng, dùng dé độn chuồng làm phân bón có SiO2 cao. Ở nông thôn còn sử aing làm chất đốt. * Rom ra với thành phẩn chủ yếu là cellulose có thể sắn xuất thành giấy các bing xây dựng, đổ gia dụng như thừng chão, mũ, giầy dép, cũng có thể sử dung rm ra để sản xuất thức ăn gia súc, trộn với cây họ đậulám thức ăn ủ chua, sản wit nấm rơm, đôn chuồng, chất đốt,.
Đặc biệt gạo còn là nguồn xuất khẩu để đổi lấy ngoại tệ, vật tư thiết bị tho các ngành công nghiệp. Hiện nay Việt Nam là nước có lượng gạo xuất khẩu đứng thứ hai trên thế giới. Với tim quan trọng của lúa gạo, nên vấn để sản xuất được sự quan tâm cla nhiều nhà khoa học, ước tính tổng sản lượng thóc hang năm của thế giới jndi tăng từ 460 triệu tấn năm 1987 lên tới 560 triệu tấn vào năm 2000 và 760 tiệu tấn vào năm 2020 mới đáp ứng được mức gia tăng dân số. Tuy nhiên ở rất thiểu nước, đặc biệt là các nước Châ A lại thiếu đất trồng trọt để có thể mở ring điện tích trồng lúa.Vì vậy, muốn tăng sản lượng thóc chủ yếu là phảităng túng suất cây lúa.
Thành công trong việc gây tạo lúa lai là mọt đột phá lớn trong công tá: gây tạo giống lúa, tạo ra một phương pháp có hiệu quả để tăng năng suất | hk. Gan đây & Trung Quốc mỗi năm có khoảng 17ha ruộng trồng lúa lai. Năng suit bình quân của lúa lai là 6,6 tấn/ha vượt năng suất lúa thường 20%. Còn ở Vệt Nam, điện tích lúa lai năm 2000 là 320 ngàn ha, năng suất tăng 1 tấn/ ha.
Niững kinh nghiệm ở Trung Quốc & Việt Nam cho thấy: việc tăng cường diện tich trồng lúa lai là một biện pháp kinh tế hiệu quả nhất để đáp ứng nhu cầu về lưng thực trong tương lai của số dân ngày càng tăng. Hiện nay, có khoảng 150 triệu ha điện tích trồng lúa trên thế giới và ning suất bình quânmới chỉ là 3,2 tấn/ ha. Theo dữ liệu của FAO, diện tích lúa la năm 1990 chiếm 10% diện tích trồng lúa trên thế giới nhưng lại tạo ra 20% tổng sẵn lương lúa. Từ con số này có thể tính toán sơ bộ là, nếu như thay thế hain toàn lúa truyền thống bing lúa lai thì tổng sản lượng lúa sẽ tăng gấp đôi đáp ứng nhu cẩu lương thực của hơn | tỉ người.
Do đó đẩy nhanh việc sản xuất Idi lai trên thế giới sẽ là biện pháp hữu ích trong việc giải quyết nạn đói đang đc dọa loài người. Thành tựu về lúa laicủa Trung Quốc đã khuyến khích nhiểu nước phát triển các chương trình lúa lai của mình. Chương trình thực nghiệm sản xtất lúa lai của Việt Nam đã có những thành công bước đầu, năng suất tang so với lúa thường khoảng 20-30%ở những ving có điều kiện sinh thái phù hop. Theo hướng đó, các nhà nghiên cứu thuộc Viện Khoa Học Nông Nghiệp Mén Nam đã tiến hành thí nghiệm lai tạo nhằm đáp ứng yêu chu về giống lúa la mang thương hiệu Việt Nam và kết quả đã tao ra được 6 tổ hợp lai để phát trifn thành giống Đó là: +Miên Trắng / KSB218 4Hòa Bình Trắng / [R64 4]IR64 / VND9S-19 4VND202 / VND203 4 VN88 —10 / IR9729 // IR64 4VND96-217 / IR59606 Tuy nhiên, để có được một giống lúa tốt thì cần phải có sự hậu kiÍmthực tế trên đồng ruộng nhằm khảo sát cdc đặc tính sinh học chủ yếu, yếu tốnăng suất, phẩm chất gạo của giốngtrước khi đưa ra sản xuất đại trà.
Nhằm mic tiêu này, chúng tôi thực hiện để tài:"KHẢO SÁT CÁC ĐẶC TÍNH SINH HOC & MOT SỐ CHỈ TIÊU SINH HÓA CUA CÁC GIỐNG LUA LAI”. Dé tà tiến hành trên 6 giống lúa lai do Viện Khoa Học Nông Nghiệp Miễn Nam la tạo va 4 giống lúa lai nhập từ Viện lúa quốc tế IRRI(IRRI61-ĐX2000- 2(01; IRRI68-DX2000-2001, IRRI38-DX2000-2001; IRRI2-DX2000-2001) được trồng thí điểm trong vụ mùa 2001 tại xã Tan Thanh Dong — Củ Chi. Việc khảo sát so sánh các tổ hợp lai nhằm xác lập các tổ hợp lai có đặc tính ưu việt nhất phú hợp với khí hậu vụ mùa để đưa ra phục vụ sản xuất, làm phong phú thim bộ sưu tập giống lúa ở nước ta. Mặt khác, việc thực hiện để tài nhằm gitp chúng tôi làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa hoc la co sở cho vịtc học tập nghiên cứu sau này.e========-- lở ee CONG TRINH NGHIÊN CỨU VỀ ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ, SINH THÁI > VÀ SNH HÓA Ở LÚA TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC.
TIÊN THE GIỚI 1. )ặc điểm sinh lý: - Ishis va CTV (1977). Cây lúa có chu trình quang hợp theo con đường C) (chu tình Ealvin) [1 — 57]. Hegde và Joshi (1974) phát hiện một số giống lúa chịu mặc Indica có quá trình wang hợp bằng cả 2 con đường C; và C¿ [1 — 57]._~ lshi và CTV (1977): Quang hô hấp có quang hợp chặt chẽ với điều kiện ánh a cường độ ánh sáng tăng thì lượng quang hô hấp sé tăng.
Ở cường độ ánh h tới 10klux, có 70 — 90% CO, cố định, trong khi ở 40klux lượng CO; cố định WMS [1 - 57]. + Theo Zelitch, 1977, quang hợp hô hấp cũng phụ thuộc vào néng độ oxy _tronghÍ quyển. Khi giảm néng độ oxy thì quang hợp hô hấp cũng giảm. Một số cây trng có khả năng điều chỉnh, làm giảm hô hấp và tăng quang hợp [1 - 57].
` - Theo Akita & Tanaka (1973): Trong diéu kiện nổng độ oxy thấp, hoạt động quanghợp và hình thành chất khô tăng nhưng năng suất hạt lại gam do tỉ lệ lép tăng. Fỷ lệ hạt chấc của hai giống Tangy Bozu và Hoyoku giảm từ 86% và 74% xuốn, còn 22% và 46% khi nổng độ oxy giảm từ 21% xuống còn 3%. Do đó, việc kim hm quang hô hấp bằng cách giảm nồng độ oxy không mang lại hiệu quả làm tăng ring suất hạt {I ~ 57]. - Theo Higuchi, hoạt đo của enzyme amylaga trong lúa tùy theo địa phương và gitng lúa, nói chung các giống lúa miền Bắc có hoạt độ enzyme mạnh hơn miễn Nam.
— ~ Trong thời kỳ này nếu rễ bị tổn thương hoặc có hiện tượng rễ thối thì quang hof giảm sút không thể tránh được. Ngược lại, nếu Nitơ nhiều quá, tùy quang hợp có thể tăng lên nhưng do hô hấp lại tăng hơn nên lượng quang hợp thực tế giảm đi [+6 +B, > 62]. ~ Theo Yoshida và Shioya (1976): Về tác động của nhiệt độ, trong loại Cryza '§atva, lúa Indica có khoảng nhiệt độ tối thích cho quang hợp là 25 - 35°C. Trước "đây khi nghiên cứu quang hợp của cây lúa người ta đo được cường độ quang hợp là 10 - 20 mg COz/dmˆ-h trong điểu kiện lá cắt rời trong phòng plastic.
Sau này nghiên cứu trên lá còn nguyên ven thì cường độ quang hợp là 40 — 50 mm CO. Sự khác nhau này có thể là những đóng góp bước đầu trong việc cải tiết biện pháp kỹ thuật nhầm tăng năng suất [1 — 58}. ~ Loomis và William (1963) tính toán lý thuyết hiệu suất quang hợp (E%) có thể đạt tới 5,3%, nhưng theo Randa (1975) hiệu suất quang hợp ở Nhật thay đổi trong phạm vi 2,83 ~ 3,32%, trung bình là 3,00%. E% thay đổi theo thời kỳ sinh trưởng thông qua sự thay đổi của diện tích lá.
Khi hệ số diện tích lá (LAI) là 0,36 thì E% là 0,52, khi LAI là 4,20 thì E% là 2,88%. Vì vậy, việc tăng hệ số diện tích lá làm tăng hiệu suất quang hợp, có nghĩa là tăng khả năng lợi dung ánh sáng mặt trời [1 - 63]. ~ Theo Ân Hoàng Chương, vùng Hoa Đông (Trung Quốc), thế năng quang hợp (LAD) của ruộng lúa thường đạt trong khoảng 3,0 — 7,5. So -Yới mộng ngô có thời gian sinh trưởng 130 ngày LAD là 5,4.
~ Theo Jensen và cộng tác viên (1967), Oxy được chuyển qua các khoảng không bào trong bản lá, thân, rễ cây lúa. Hệ thống vận chuyển oxy đó có hiệu quả lớn hơn 10 lần hệ thống vận chuyển oxy trong cây đại mạch và hơn 4 lần trong cây ngô [1 = 65]. ~ Tadano (1976), Tadano & Yoshida (1978) cho rằng rễ lúa có 3 khả năng phản ứng lại với độc hại của sắt, đó là: + Oxy hóa Fe trong vùng rễ, do đó giữ được nồng độ sắt trong môi trường thấp. + Loai trừ được sắt ở bể mặt rễ lúa, do đó ngăn cản được sắt vào rễ.
+ Giữ sắt trong tế bào rễ do đó làm giảm sự vận chuyển sắt từ rễ về thân lá. Khả năng loại trừ sắt của cây là khỏe là 87%, có nghĩa là số lượng sắt đã bám trên bể mặt rễ lúa do cây lúa hút cùng với nước không được hấp thụ hoặc bị thải ra. Le ee | ~ Theo Kasugai (1939). Nếu nồng độ đạm và lân trong dịch đất vượt quan và I0ppm thi trong lượng khô của cây sẽ giảm đi rõ rệt [1 - 67].