Tổng quan nghiên cứu

Lúa gạo là nguồn lương thực thiết yếu nuôi sống hơn 3,5 tỷ người, chiếm trên 50% dân số toàn cầu với mức tiêu thụ bình quân tại châu Á dao động từ 180 đến 200 kg một người mỗi năm. Tại Việt Nam, ngành sản xuất lúa gạo giữ vai trò trụ cột trong bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và vị thế xuất khẩu toàn cầu, minh chứng qua khối lượng xuất khẩu đạt 6,568 triệu tấn với kim ngạch 2,68 tỷ USD vào năm 2015. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa nhanh chóng cùng tác động nặng nề của biến đổi khí hậu đang làm suy giảm diện tích đất nông nghiệp màu mỡ tại hai vựa lúa lớn là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Trong bối cảnh quỹ đất canh tác không thể mở rộng, giải pháp cốt lõi để nâng cao sản lượng là thâm canh tăng năng suất thông qua công nghệ lúa lai.

Năm 2014, diện tích gieo trồng lúa lai tại Việt Nam đạt 635.200 ha với năng suất bình quân 62,6 tạ trên một hecta, cao hơn lúa thuần từ 15% đến 20%. Dù tiềm năng vượt trội, việc nông dân vẫn duy trì tập quán canh tác của lúa thuần trên các giống lúa lai mới đã hạn chế đáng kể khả năng phát huy ưu thế lai. Đề tài tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón và mật độ cấy đến năng suất giống lúa lai hai dòng HQ21 (tổ hợp lai giữa dòng mẹ E15S và dòng bố R29). Thí nghiệm được thực hiện tại Gia Lâm, Hà Nội trong hai vụ Xuân và vụ Mùa năm 2015 nhằm đánh giá toàn diện các chỉ tiêu nông sinh học, khả năng chống chịu sâu bệnh và các yếu tố cấu thành năng suất. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc xác định chuẩn xác các định mức kỹ thuật đầu vào, giúp cây lúa đạt năng suất thực thu từ 62,4 đến 68,7 tạ trên một hecta, nâng cao hiệu quả kinh tế và đóng góp trực tiếp vào quy trình canh tác lúa lai bền vững tại vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết ưu thế lai thế hệ F1 và hệ thống chọn tạo giống lúa lai hai dòng. Khác với hệ thống ba dòng truyền thống phụ thuộc vào dòng bất dục tế bào chất, công nghệ lúa lai hai dòng sử dụng dòng mẹ bất dục đực di truyền mẫn cảm với môi trường (EGMS), bao gồm dạng mẫn cảm với nhiệt độ (TGMS) và dạng mẫn cảm với quang chu kỳ (PGMS). Dòng mẹ E15S kết hợp với dòng bố R29 tạo nên tổ hợp lai HQ21 sở hữu bộ rễ khỏe, sức đẻ nhánh mạnh và khả năng tích lũy sinh khối cao hơn hẳn các giống lúa thuần thông thường.

Bên cạnh lý thuyết di truyền, công trình áp dụng quy luật quần thể và sinh lý quang hợp ruộng lúa của Đào Thế Tuấn (1980) và Yoshida (1981). Theo đó, năng suất lúa phụ thuộc trực tiếp vào mối quan hệ hài hòa giữa mật độ cá thể và cấu trúc tán lá nhằm tối ưu hóa hệ số diện tích lá (LAI) và hiệu suất sử dụng bức xạ mặt trời. Nếu cấy quá dày, sự che phủ tầng lá diễn ra sớm dẫn đến cạnh tranh ánh sáng gay gắt, làm tăng tỷ lệ nhánh vô hiệu và giảm số hạt chắc trên bông. Ngược lại, mật độ quá thưa không đảm bảo số bông hữu hiệu trên một đơn vị diện tích. Đồng thời, lý thuyết dinh dưỡng khoáng cân đối đạm, lân, kali (N:P:K) theo tỷ lệ 1:1:1 trong vụ Xuân và 1:0,75:1 trong vụ Mùa được tích hợp để điều tiết khả năng đẻ nhánh hữu hiệu và nuôi đòng hạt.

Phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm được triển khai trong thời gian 12 tháng (từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2015) tại khu thí nghiệm của Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng thuộc Học viện Nông nghiệp Việt Nam tại Gia Lâm, Hà Nội. Nghiên cứu sử dụng thiết kế khối ngẫu nhiên kiểu ô lớn - ô nhỏ (Split-plot design) với 3 lần nhắc lại. Lý do lựa chọn thiết kế Split-plot nhằm phân lập chính xác tác động độc lập cũng như mối quan hệ tương tác phức tạp giữa hai yếu tố mật độ và phân bón trên cùng một nền canh tác.

Quy mô thí nghiệm gồm 16 công thức tổ hợp giữa 4 mức mật độ cấy (M1 = 30 khóm/m2, M2 = 35 khóm/m2, M3 = 40 khóm/m2, M4 = 45 khóm/m2) và 4 mức phân bón. Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 10 m2. Trong vụ Xuân, ô chính bố trí 4 mức phân bón (P1 = 100 kg N + 100 kg P2O5 + 100 kg K2O/ha; P2 = 120 kg N + 120 kg P2O5 + 120 kg K2O/ha; P3 = 140 kg N + 140 kg P2O5 + 140 kg K2O/ha; P4 = 160 kg N + 160 kg P2O5 + 160 kg K2O/ha). Trong vụ Mùa, 4 mức phân bón được điều chỉnh tương ứng từ 90 đến 150 kg N/ha kết hợp lân và kali cân đối. Cỡ mẫu theo dõi động thái sinh trưởng được cố định trên 10 khóm mẫu đại diện mỗi ô thí nghiệm theo chu kỳ 7 ngày một lần. Toàn bộ các chỉ tiêu nông học, hình thái, mức độ nhiễm sâu bệnh và cấu trúc năng suất được đánh giá theo Tiêu chuẩn đánh giá cây lúa của Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế IRRI (2002) và xử lý thống kê bằng phần mềm chuyên dụng IRRISTAT 5.0.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, thời gian sinh trưởng của giống lúa lai HQ21 ít bị biến động bởi mật độ cấy và liều lượng phân bón. Thời gian sinh trưởng trong vụ Xuân dao động từ 108 đến 112 ngày và trong vụ Mùa rút ngắn còn 101 đến 105 ngày. Số lượng lá trên thân chính giữ mức ổn định từ 13,5 đến 14,2 lá trong vụ Xuân và 12,0 đến 12,6 lá trong vụ Mùa, cho thấy đây là tính trạng mang tính di truyền ổn định cao của tổ hợp lai E15S/R29.

Thứ hai, động thái tăng trưởng chiều cao cây và khả năng đẻ nhánh chịu tác động rất mạnh từ phân bón và mật độ. Khi tăng lượng phân đạm từ mức P1 lên mức P4, chiều cao cây tăng thêm từ 6,5% đến 9,2%. Ở mật độ cấy thưa (30 - 35 khóm/m2), khả năng đẻ nhánh của cá thể đạt cực đại với số nhánh trên khóm cao hơn mật độ dày (45 khóm/m2) từ 18% đến 24%. Tuy nhiên, phương thức cấy dày lại có tốc độ tăng trưởng chỉ số diện tích lá nhanh hơn ở giai đoạn đầu nhưng tỷ lệ nhánh vô hiệu bị lụi tàn ở giai đoạn phân hóa đòng tăng cao hơn 16% so với mật độ vừa phải.

Thứ ba, mức độ phát sinh sâu bệnh hại và nguy cơ chống đổ có mối tương quan thuận rõ rệt với mật độ cấy và lượng phân bón cao. Tại công thức cấy dày 45 khóm/m2 kết hợp mức phân bón cao P4 (160 kg N/ha vụ Xuân và 150 kg N/ha vụ Mùa), chỉ số nhiễm bệnh khô vằn và rầy nâu tăng từ điểm 3 lên điểm 5 theo thang đo IRRI. Đồng thời, độ dày thân và sức chống chịu đổ ngã giảm sút đáng kể do thân cây vống cao, mô cơ giới kém phát triển.

Thứ tư, năng suất thực thu đạt giá trị cao nhất tại các công thức mật độ trung bình kết hợp lượng phân bón cân đối. Cụ thể, trong vụ Xuân, công thức mật độ 35 khóm/m2 kết hợp mức phân bón P2 (120 kg N + 120 kg P2O5 + 120 kg K2O/ha) cho năng suất thực thu tối ưu đạt 62,4 tạ/ha. Trong vụ Mùa, công thức mật độ 40 khóm/m2 đi kèm mức phân bón P2 (110 kg N + 82,5 kg P2O5 + 110 kg K2O/ha) mang lại năng suất vượt trội đạt 68,7 tạ/ha, cao hơn các công thức đối chứng bón thấp hoặc cấy quá thưa từ 12,5% đến 18,3%.

Thảo luận kết quả

Các kết quả nghiên cứu trên phản ánh quy luật cân bằng sinh lý giữa số lượng cá thể trên đơn vị diện tích và sức sinh sản của từng cá thể. Khi cấy ở mật độ 35 khóm/m2 trong vụ Xuân và 40 khóm/m2 trong vụ Mùa, quần thể ruộng lúa đạt cấu trúc không gian tối ưu, cho phép các tầng lá nhận đủ ánh sáng khuếch tán, kéo dài thời gian hoạt động quang hợp của lá công năng sau trỗ.

Về phương thức trực quan hóa, toàn bộ động thái tăng trưởng chiều cao và số nhánh theo từng đợt đo 7 ngày có thể được mô tả sinh động qua các biểu đồ đường dốc lũy tiến từ sau khi bén rễ đến khi trỗ bông, thể hiện rõ đỉnh đẻ nhánh rộ tại thời điểm 28 đến 35 ngày sau cấy. Dữ liệu về tương tác giữa 4 mức phân bón và 4 mức mật độ được biểu diễn tốt nhất qua bảng phân tích phương sai hai nhân tố, giúp làm nổi bật mối quan hệ giữa số bông hữu hiệu trên mét vuông, số hạt chắc trên bông và khối lượng 1000 hạt (P1000 đạt xấp xỉ 24,5 đến 25,2 gram).

So sánh với các nghiên cứu trước đây của Nguyễn Như Hà (1999) và Tăng Thị Hạnh (2003) trên các giống lúa lai như Việt Lai 20 và Bồi Tạp 77, giống lúa HQ21 thể hiện khả năng thích ứng linh hoạt hơn ở mật độ trung bình nhờ bộ rễ khỏe và kiểu hình bông to, xếp hạt sít. Việc bón phân theo tỷ lệ cân đối P2 không chỉ giúp cây cứng cáp, giảm tỷ lệ hạt lép xuống dưới mức 14,5% mà còn hạn chế sự bùng phát của sâu bệnh, tạo tiền đề vững chắc cho việc thiết lập quy trình thâm canh chuẩn xác tại địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa mật độ cấy giống lúa lai hai dòng HQ21 theo mùa vụ canh tác. Đề nghị các cơ quan nông nghiệp địa phương khuyến cáo người dân áp dụng mật độ cấy 35 khóm trên một mét vuông (tương đương khoảng cách 20 cm x 14 cm) đối với vụ Xuân và mật độ 40 khóm trên một mét vuông (khoảng cách 20 cm x 12,5 cm) đối với vụ Mùa. Việc cấy đúng mật độ giúp tiết kiệm từ 15% đến 20% lượng hạt giống F1 ban đầu so với tập quán cấy dày truyền thống, đồng thời đảm bảo ruộng lúa thông thoáng và đẻ nhánh gọn.

Thứ hai, áp dụng nghiêm ngặt định lượng phân bón khoáng N-P-K cân đối. Nông dân cần thực hiện bón phân cho 1 hecta lúa HQ21 theo định mức công thức tối ưu đã được kiểm chứng: trong vụ Xuân bón 120 kg N + 120 kg P2O5 + 120 kg K2O; trong vụ Mùa bón 110 kg N + 82,5 kg P2O5 + 110 kg K2O. Quy trình bón cần chia làm 3 đợt: bón lót toàn bộ lân kết hợp 40% đạm và 30% kali; bón thúc đẻ nhánh sớm với 50% đạm và 20% kali; bón đón đòng với 10% đạm và 50% kali còn lại nhằm tăng tối đa tỷ lệ hạt chắc và giảm thiểu hiện tượng nghẹn đòng.

Thứ ba, tăng cường các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và kỹ thuật điều tiết nước ruộng. Cán bộ bảo vệ thực vật tại cơ sở cần phối hợp với hợp tác xã nông nghiệp theo dõi chặt chẽ mật độ rầy nâu và bệnh khô vằn ở các chân ruộng trũng, áp dụng nguyên tắc tưới tiêu ngập - khô xen kẽ từ sau giai đoạn đẻ nhánh tối đa để bộ rễ ăn sâu, nâng cao khả năng chống đổ ngã trước các đợt mưa bão vụ Mùa.

Thứ tư, triển khai nhân rộng mô hình khảo nghiệm sản xuất thương phẩm diện rộng. Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng cần phối hợp cùng Trung tâm Khuyến nông Hà Nội xây dựng các mô hình trình diễn quy mô từ 50 đến 100 ha tại Gia Lâm và các vùng sinh thái lân cận trong giai đoạn 2016 - 2020, qua đó đánh giá toàn diện tính thích ứng sinh thái và hoàn thiện gói kỹ thuật canh tác chuyển giao trực tiếp cho bà con nông dân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà khoa học, chuyên gia và nghiên cứu viên trong lĩnh vực di truyền, chọn tạo giống cây trồng. Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm quan trọng về các đặc tính sinh học, khả năng kết hợp và biểu hiện nông học của tổ hợp lúa lai hai dòng E15S/R29, làm tiền đề cho các định hướng lai tạo giống lúa năng suất cao tiếp theo.

Thứ hai, cán bộ khuyến nông, kỹ sư nông học và cán bộ quản lý kỹ thuật nông nghiệp tại các địa phương. Công trình là cẩm nang hướng dẫn chi tiết về quy trình kỹ thuật thâm canh, định mức phân bón và mật độ gieo cấy lúa lai, hỗ trợ đắc lực cho công tác đào tạo tập huấn và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật tới người sản xuất.

Thứ ba, các hợp tác xã nông nghiệp, doanh nghiệp kinh doanh giống cây trồng và các hộ nông dân sản xuất lúa thương phẩm quy mô lớn. Nhóm đối tượng này có thể ứng dụng trực tiếp các thông số kỹ thuật tối ưu để tính toán chi phí đầu vào, giảm lượng phân đạm dư thừa, kiểm soát sâu bệnh và nâng cao năng suất thu hoạch từ 6,2 đến 6,8 tấn trên một hecta.

Thứ tư, học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên các chuyên ngành Nông học, Khoa học cây trồng, Bảo vệ thực vật. Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp bố trí thí nghiệm ô lớn - ô nhỏ (Split-plot), kỹ thuật theo dõi các chỉ tiêu nông học theo quy chuẩn quốc tế IRRI và phương pháp xử lý thống kê nông học hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Giống lúa lai hai dòng HQ21 có nguồn gốc từ đâu và sở hữu những ưu điểm nổi bật nào?

Giống lúa lai HQ21 là tổ hợp lai hai dòng do Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng thuộc Học viện Nông nghiệp Việt Nam chọn tạo từ cặp bố mẹ E15S và R29. Giống có thời gian sinh trưởng ngắn từ 101 đến 112 ngày, tiềm năng năng suất đạt 62,4 đến 68,7 tạ/ha, khả năng chống chịu sâu bệnh khá và chất lượng gạo ngon có mùi thơm nhẹ.

2. Vì sao mật độ cấy tối ưu trong vụ Xuân là 35 khóm/m2 nhưng vụ Mùa lại là 40 khóm/m2?

Vụ Xuân có thời gian sinh trưởng dài hơn (108 - 112 ngày), nhiệt độ đầu vụ thấp giúp cây lúa có thời gian tích lũy dinh dưỡng và đẻ nhánh kéo dài, do đó cấy 35 khóm/m2 là vừa đủ. Trong khi đó, vụ Mùa có nhiệt độ cao, thời gian đẻ nhánh ngắn (101 - 105 ngày), đòi hỏi mật độ dày hơn 40 khóm/m2 để bảo đảm đủ số bông hữu hiệu trên một mét vuông.

3. Mức bón phân N-P-K tối ưu cho giống HQ21 được xác định cụ thể là bao nhiêu?

Nghiên cứu chứng minh mức phân bón tối ưu cho 1 hecta HQ21 là 120 kg N + 120 kg P2O5 + 120 kg K2O trong vụ Xuân và 110 kg N + 82,5 kg P2O5 + 110 kg K2O trong vụ Mùa. Tỷ lệ cân đối này giúp tối đa hóa số hạt chắc trên bông, duy trì khối lượng 1000 hạt ổn định và giảm thiểu sâu bệnh.

4. Cấy mật độ quá dày trên 45 khóm/m2 có giúp nâng cao năng suất lúa lai HQ21 không?

Không. Cấy mật độ 45 khóm/m2 làm tăng số nhánh ban đầu nhưng khiến tỷ lệ nhánh vô hiệu tăng trên 16% do thiếu ánh sáng. Mật độ quá dày còn làm tăng chỉ số nhiễm bệnh khô vằn, rầy nâu lên điểm 5 và làm giảm năng suất thực thu so với mật độ tiêu chuẩn từ 8% đến 12%.

5. Phương pháp bố trí thí nghiệm Split-plot mang lại lợi thế gì trong nghiên cứu này?

Thiết kế ô lớn - ô nhỏ (Split-plot) với 3 lần nhắc lại cho phép đánh giá chính xác tác động riêng biệt của từng nhân tố phân bón hoặc mật độ, đồng thời phân tích sâu sắc hiệu ứng tương tác đa chiều giữa hai yếu tố này trên cùng một điều kiện đồng ruộng, đảm bảo độ tin cậy khoa học cao cho các kết luận.

Kết luận

  • Luận văn đã làm sáng tỏ quy luật sinh trưởng, phát triển và động thái tạo năng suất của tổ hợp lúa lai hai dòng HQ21 dưới tác động của mật độ và phân bón.
  • Xác định thời gian sinh trưởng của giống thuộc nhóm ngắn ngày (108 - 112 ngày trong vụ Xuân và 101 - 105 ngày trong vụ Mùa), thích hợp cho cơ cấu luân canh cây trồng tại đồng bằng Bắc Bộ.
  • Thiết lập công thức canh tác tối ưu mang lại năng suất thực thu cao nhất: cấy 35 khóm/m2 với 120 kg N + 120 kg P2O5 + 120 kg K2O/ha trong vụ Xuân; cấy 40 khóm/m2 với 110 kg N + 82,5 kg P2O5 + 110 kg K2O/ha trong vụ Mùa.
  • Cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học đầy đủ để hoàn thiện gói quy trình kỹ thuật canh tác giống HQ21 phục vụ mở rộng sản xuất hàng hóa.
  • Trong thời gian tới, các cơ quan chuyên môn cần tiếp tục triển khai các mô hình trình diễn quy mô lớn tại nhiều tiểu vùng sinh thái khác nhau nhằm thúc đẩy việc ứng dụng giống lúa HQ21 vào sản xuất thực tế, góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân và bảo đảm an ninh lương thực.