ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, chăn nuôi bò sữa ở nước ta đã được đẩy mạnh, bò được nhập về nuôi không chỉ ở những tỉnh đồng bằng có khu vực trồng cỏ nuôi bò thuận lợi mà còn được nhập về nuôi nhiều ở các tỉnh trung du và miền núi, nơi mà từ trước đến nay việc trồng cỏ nuôi trâu bò không mấy được chú ý và đầu tư đúng mức. Theo lý luận về chăn nuôi thì thức ăn phải chuẩn bị trước một bước, nhưng trong thực tiễn, đa số bò các nơi được nhập về trước khi chuẩn bị đầy đủ thức ăn. Thực tế chăn nuôi bò sữa ở các tỉnh miền núi phía Bắc đang có những biến động lớn, cả tích cực và khủng hoảng dẫn tới tiêu cực.
Xét trên những mặt khủng hoảng, có nhiều nguyên nhân dẫn tới điều đó và thiếu thức ăn cho bò, đặc biệt là cỏ là một trong những nguyên nhân chính. Trong thời gian gần đây một số địa phương đã tiến hành trồng thử nghiệm giống cỏ VA 06 và đã cho kết quả rất tốt, tạo tiền đề cho các khu vực khác trong nước tìm ra hướng giải quyết vấn đề cây thức ăn cho tương lai. Cao nguyên Mộc Châu - tỉnh Sơn La có độ cao trung bình 1.050m so với mực nước biển. Khí hậu đặc trưng vùng cận ôn đới mát mẻ quanh năm mang cho Mộc Châu thế mạnh về cây ăn quả, là một huyện có điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai phù hợp cho sinh trưởng phát triển của giống cỏ VA 06 và cho phát triển chăn nuôi bò sữa.
Sản phẩm sữa bò Mộc Châu đã thực sự nổi tiếng được thị trường ưa chuộng. Phần lớn thành công đó là nhờ sự chủ động của đồng cỏ cây thức ăn được thâm canh cao. Song cũng chính vì để tăng năng suất và sản lượng cây thức ăn nhanh nhất người dân đã sử dụng một lượng lớn các loại phân vô cơ trong thời gian dài, dẫn tới hiện tượng cây trồng hấp thu mất cân đối các nguyên tố xảy ra phổ biến, làm cỏ trồng phát triển không bền vững, thoái hoá nhanh, chất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 2 lượng suy giảm, sâu bệnh phát triển nhiều, đất đai bị thoái hóa, chai cứng, bên cạnh đó còn dẫn tới sự tích tụ các sản phẩm như nitrate (NO 3-), làm ảnh hưởng xấu tới chất lượng cỏ cho bò sữa, từ đó có thể ảnh hưởng tới chất lượng sữa và ảnh hưởng tới sức khoẻ người tiêu dùng. Về vấn đề này ở nước ta chưa có những nghiên cứu được thông báo, hơn nữa nuôi bò sữa ở nước ta vẫn là một nghề mới mẻ, các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào nâng cao năng suất và chất lượng dinh dưỡng của sữa là chính.
Các nghiên cứu về vấn đề an toàn tới sức khoẻ từ sản phẩm sữa chưa được chú ý và đầu tư đúng mức. Thời gian qua Mỹ đưa vào sản xuất cung ứng cho ngành trồng trọt một phát minh mới về một loại phân bón trên nguyên lý của công nghệ NANO, có tác dụng điều hoà sự cân bằng dinh dưỡng cho cây trồng, giúp cây khoẻ, sinh trưởng tốt, tăng năng suất và chất lượng nông sản cũng như ảnh hưởng tốt tới các chỉ tiêu lý - hoá tính của đất, vì thế có tác dụng bảo vệ đất cũng như cây trồng trên đất. Phân bón này có tên thương mại là NEB - 26, bước đầu được đưa vào sản xuất nông nghiệp ở nước ta và đã được thử nghiệm có kết quả rất tốt trên một số loại cây trồng. Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân NEB - 26 đến năng suất, chất lượng của giống cỏ VA 06 và ảnh hưởng của cỏ VA 06 bón phân NEB - 26 đến năng suất, chất lượng của sữa bò nuôi tại Mộc Châu - Sơn La”.
Mục tiêu của đề tài - Xác định được ảnh hưởng của phân bón NEB - 26 đến năng suất, chất lượng của giống cỏ VA 06 cũng như tính an toàn của cỏ khi sử dụng nuôi bò sữa thông qua đánh giá chỉ tiêu NO3- trong cỏ. - Đánh giá ảnh hưởng của cỏ VA 06 được trồng bằng phân NEB - 26 đến năng suất, chất lượng và tính an toàn của sản phẩm sữa bò khi đưa tới tay người sử dụng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.
Ảnh hƣởng của các loại phân bón tới cây trồng Phân bón là nguồn bổ sung cung cấp dinh dưỡng cho đất. Các nhà khoa học đã khẳng định phân bón quyết định trên 50% việc tăng năng suất cây trồng (FAO, Tome, 1984) [16]. Mục đích của việc bón phân: - Nhằm làm cho cây trồng đạt năng suất cao, phẩm chất tốt. - Bổ sung các chất dinh dưỡng cho đất thỏa mãn đòi hỏi của các loại cây trồng có tiềm năng về năng suất.
- Khắc phục các điều kiện bất lợi hoặc duy trì các điều kiện thuận lợi cho trồng trọt. Tuy nhiên, tùy vào từng mục đích sử dụng mà người ta bón các loại phân khác nhau, vào từng thời điểm cho thích hợp với từng đặc điểm sinh lí của cây trồng. * Phân vô cơ: - Phân đạm và vai trò của đạm đối với cây trồng + Đạm trong cây: Tỷ lệ đạm trong cây biến động từ 1 - 3% trọng lượng vật chất khô. Tỷ lệ đạm ở bộ phận non lớn hơn bộ phận già.
Trong thời kỳ hình thành quả, đạm tập trung vào cơ quan sinh sản. Trong cây đạm ở dạng các protit đơn (các amino axit), protit kép (protein), các alcaloit và glucozit (Nguyễn Xuân Trường và cs, 2002) [33]. + Đạm trong đất: Tỷ lệ đạm trong đất dao động từ 0,02 - 0,4%. Trong tổng số đạm trong đất có khoảng 95% ở dạng hữu cơ, còn có 5% ở dạng vô cơ gồm: amoniac, nitrat, nitrit (NH3, NO3-, NO2-) và được gọi là đạm dễ tiêu vì cây hút đạm trong đất chủ yếu ở dạng này.
Chỉ tiêu đạm tổng số (NTS) thể hiện tổng số đạm có trong đất. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 4 NTS < 4,5 mg/100g đất - đất thiếu đạm trầm trọng. NTS = 4,5 - 6 mg/100g đất - đất trung bình về đạm. NTS > 6 mg/100g đất - đất giàu đạm.
Tỷ lệ đạm trong đất Việt Nam biến động từ 0,042% (đất bạc màu) đến 0,62% (đất lầy thụt) trung bình là 0,12% (đất phù sa sông Hồng). + Vai trò của đạm đối với cây trồng: Đạm nằm trong nhiều hợp chất cơ bản cần thiết cho sự phát triển của cây như diệp lục và các loại men. Các bazơ có đạm là thành phần cơ bản của axit nucleic và các thành phần khác của nhân tế bào, nơi dự trữ các thông tin di truyền, có vai trò trong quá trình sinh tổng hợp protein. Do vậy đạm là yếu tố cơ bản cần cho quá trình đồng hoá cacbon, kích thích sự phát triển của bộ rễ và việc hút các yếu tố dinh dưỡng khác.
Cây trồng được bón đủ đạm lá có màu xanh thẫm, sinh trưởng khoẻ mạnh, chồi búp phát triển nhanh, năng suất cao. Nếu bón quá nhiều đạm lá có màu xanh tối, thân lá mềm, tỷ lệ nước cao, bộ rễ kém phát triển còn phần trên mặt đất sẽ phát triển um tùm và yếu cây làm cho cây hay đổ lốp, dễ mắc sâu bệnh, thời gian sinh trưởng của cây bị kéo dài, chín muộn, phẩm chất nông sản giảm. Mặt khác nếu thừa đạm, nitrat bị kéo xuống tầng sâu làm ô nhiễm nước ngầm. Cây thiếu đạm lá có màu vàng, sinh trưởng phát triển kém, còi cọc, thậm chí rút ngắn thời gian tích luỹ, năng suất giảm.
- Phân lân và vai trò của lân đối với đời sống cây trồng Lân là loại phân bón cần thiết bậc nhất cho quá trình trao đổi chất của cây. Lân có tác dụng điều hoà phản ứng của cây khi điều kiện môi trường thay đổi đột ngột. Trong cây lân chủ yếu nằm dưới dạng hữu cơ: Nucleoprotit, Photphoprotit, Lexithin, Sacrophotphat, Photphatit và phần nhỏ nằm dưới dạng ion H2PO2-, HPO42-. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 5 Trong đất: Tỷ lệ lân biến động trong phạm vi từ 0,02 - 0,08%.
Lân ở lớp đất mặt thường cao hơn lân ở lớp đất dưới. Tỷ lệ lân trong đất biến đổi theo từng loại đất nhưng tỷ lệ này biến đổi không đáng kể. Nói chung người ta thường đánh giá sự giàu, nghèo lân tổng số trong đất như sau: Hàm lượng P2O5 < 0,01: đất rất nghèo lân. Hàm lượng P2O5 = 0,01 - 0,05: đất nghèo lân.
Hàm lượng P2O5 = 0,05 - 0,10: đất trung bình về lân. Hàm lượng P2O5 = 0,10 - 0,20: đất giàu lân. Hàm lượng P2O5 > 0,20: đất rất giàu lân + Vai trò của lân đối với đời sống cây trồng: Trong cây lân tồn tại ở 2 thể vô cơ và hữu cơ. Lân vô cơ đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành hệ thống đệm trong tế bào và là nguồn dự trữ cho việc tổng hợp lân hữu cơ.
Lân hữu cơ rất đa dạng, đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất, hút chất dinh dưỡng và vận chuyển các chất đó trong cây. + Tác dụng chủ yếu của lân thể hiện trên một số mặt sau đây: Phân chia tế bào, tạo chất béo và protein; Thúc đẩy việc ra hoa, hình thành quả và quyết định phẩm chất hạt giống; Hạn chế tác hại của việc bón thừa đạm; Thúc đẩy việc ra rễ đặc biệt là rễ bên và lông hút do vậy phân lân dùng bón lót sẽ có tác dụng tốt hơn là bón thúc. Làm thân cây ngũ cốc vững chắc, đỡ đổ. Cải thiện chất lượng sản phẩm đặc biệt là các loại rau và cỏ làm thức ăn gia súc.
Điều hoà sự thay đổi đột ngột về phản ứng với môi trường của cây. - Vai trò của kali đối với đời sống cây trồng. Bên cạnh đạm và lân, kali cũng có vai trò quan trọng trong đời sống của cây trồng như: Kali làm tăng vai trò quang hợp của lá, tăng cường sự tạo thành bó mạch làm cho cây cứng cáp, do đó nó tích cực góp phần vào việc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 chống đổ lốp. Kích thích sự hoạt động của men do đó làm tăng cường hoạt động trao đổi chất của cây, tăng cường sự tạo thành axit hữu cơ do đó làm cho cây tăng cường tổng hợp protit.