PHẦN MỞ ĐẦU Rau là loại cây trồng có chứa nhiều chất dinh dưỡng và là thực phẩm không thể thiếu trong đời sống. Từ lâu nhân dân ta có câu “Cơm không rau như đau không thuốc” cho thấy giá trị của cây rau to lớn biết chừng nào. Đặc biệt khi lương thực và các loại thức ăn giàu đạm đã được đảm bảo thì nhu cầu sản xuất rau xanh lại gia tăng, như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ. Nghành sản xuất rau cung cấp cho chúng ta sản phẩm của các loại cây rau hàng năm, hai năm là một bộ phận quan trọng trong sản xuất nông nghiệp.
Dưa chuột (Cucumis sativus L.) là loại rau ăn quả với nhiều dinh dưỡng chất quý: Vitamin A, B1, B2, C, các chất khoáng K, Ca và P, được trồng rộng rãi trên khắp thế giới, là thực phẩm thông dụng của nhiều quốc gia, chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất, tiêu dùng và thương mại. Ở Việt Nam những năm gần đây, dưa chuột đã nhanh chóng trở thành mặt hàng xuất khẩu quan trọng. Các sản phẩm từ dưa chuột của nước ta thường được sản xuất vào thị trường các nước như: Trung Quốc, Đài Loan, Đức, Mỹ, Nga và Singapore (Tạ Thu Cúc,2007). Dưa chuột là cây có thời gian sinh trưởng ngắn, có thể trồng nhiều vụ trong năm và có năng suất cao so với các loại rau ăn quả khác.
Ở nước ta nó có thể trồng nhiều vụ trong năm, quả cho thu hoạch nhiều đợt. Quả dưa chuột, ngoài ăn tươi như một loại rau xanh còn được chế biến (muối chua, muối mặn, hỗn hợp xa lát…) cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Đây là sản phẩm rau xuất khẩu chủ lực hiện nay và những năm tiếp theo. Dưa chuột là thực phẩm quen thuộc trong bữa ăn hằng ngày của mỗi gia đình.
Dưa chuột có tính mát, giàu vitamin có lợi cho cơ thể như: chứa vitamin, khoáng chất tự nhiên bạn cần nạp vào cơ thể hàng ngày như vitamin C, chất xơ, vitamin B1, vitamin B2, 1 vitamin V3, vitamin B5, vitamin B6, folicacid, vitamin C, canxi, sắt, magie, phootpho, kali, kẽm. mà không loại thực phẩm nào cũng có được. Ngoài ra dưa chuột còn được sử dụng rộng rãi trong việc đắp mặt làm đẹp da cho chị em phụ nữ, giúp phòng ngừa ung thư rất hiệu quả, ổn định huyết áp, tốt cho răng miệng, đẩy lùi và cải thiện chứng táo bón, ợ chua, đầy hơi, khó tiêu, ợ nóng,. Trong những năm gần đây, dưa chuột được trồng phổ biến ở nước ta song năng suất và chất lượng còn thấp một phần do người dân sử dụng nhiều giống địa phương độ đồng đều không cao,năng suất thấp, mẫu mã quả kém không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.
Bên cạnh đó, các giống lai nhập nội mặc dù khắc phụ được những hạn chế so với giống địa phương, nhưng chúng có tính chống chịu yếu với sâu bệnh hại và môi trường bất thuận, giá hạt giống cao, không chủ động được về nguồn giống. Phân bón với cây trồng ở trên thế giới cũng như Việt Nam cho thấy: trong các biện pháp kỹ thuật trồng trọt (giống, làm đất, BVTV,.), thì bón phân luôn là biện pháp kỹ thuật có ảnh hưởng rất lớn, quyết định đến năng suất và sản lượng của cây trồng.Việc ứng dụng ồ ạt, thiếu chọn lọc các tiến bộ kỹ thuật về hóa học nông nghiệp đã làm tăng dư lượng hóa chất do các sản phẩm rau xanh cũng như dưa chuột, từ đó có thể gây ngộ độc cho người tiêu dùng. Ngược lại, phương thức canh tác hữu cơ chỉ sử dụng phân có nguồn gốc hữu cơ như: phân chuồng, phân hữu cơ vi sinh, các loại thuốc có nguồn gốc thảo mộc sẽ đáp ứng nhu cầu phát triển rau quả có chất lượng cao (Trần Khắc Thi,2011). Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi đã thực hiện đề tài: So sánh ảnh hưởng của phân bón hữu cơ và vô cơ đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng cây dưa chuột” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
Nội dung 2 - Phân hữu cơ và vô cơ đều chứa các chất dinh dưỡng quan trọng cung cấp cho cây trồng, giúp nâng cao năng suất và sản lượng thu hoạch. - Hoàn toàn có thể bón lót, bón thúc, phun trực tiếp lên lá. - Khi lạm dụng bừa bãi đề có nguy cơ gây tác động đến cây cối, môi trường thiên nhiên xung quanh. Mục đích và yêu cầu 2.
Mục đích Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ và phân vô cơ đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng cây dưa chuột Xuân Yến vụ xuân tại Hà Nội. Từ đó tìm ra mức độ dinh dưỡng nào của từng loại phân phù hợp cho cây. Yêu cầu - Đánh giá sự ảnh hưởng của việc bổ sung dinh dưỡng hữu cơ, vô cơ đến sinh trưởng, phát triển của các bộ phận của cây như thân, lá, rễ cây dưa chuột. - Đánh giá mức độ ảnh hưởng việc bổ sung dinh dưỡng hữ cơ, vô cơ đến năng suất và chất lượng của dưa chuột.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về cây dưa chuột Dưa chuột (tên khoa học Cucumis sativus), thuộc loài (C.), miền Nam gọi là dưa leo, là một cây trồng phổ biến trong họ bầu bí (Cucurbitaceae) là loại rau ăn quả thương mại quan trọng, là cây rau truyền thống, nó được trồng lâu đời trên thế giới và trở thành thực phẩm không thể thiếu của nhiều nước. Những thập kỷ cuối thế kỷ XX, dưa chuột là cây rau chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất rau trên thế giới. Những nước dẫn đầu về diện tích gieo trồng và năng suất là: Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Hà Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Lan, Ai Cập và Tây Ban Nha.
Dưa chuột được trồng từ châu Á, châu Phi đến 63oC vĩ Bắc. Theo FAO (1993), diện tích dưa chuột trên thế giới là 1.000ha, năng suất: 15.56 tấn/ha và sản lượng đạt: 1. Ở nước ta những năm gần đây dưa chuột đã trở thành cây rau quan trọng trong sản xuất. Dưa chuột thuộc nhóm ưa nhiệt, nhiệt độ ngày thích hợp cho dưa tăng trưởng là 30 oC.
và nhiệt độ ban đêm 18-21oC. Dưa có phản ứng với độ dài ngày khác nhau tùy theo giống, thông thường ngày ngắn kích thích cây ra lá và trái. Vì vậy, điều kiện thời tiết vùng đồng bằng cho phép dưa leo ra hoa trái quanh năm. Yêu cầu về độ ẩm đất của dưa chuột rất lớn.
Dưa chịu hạn rất yếu, thiếu nước cây sinh trưởng kém và tích lũy chất cucurbitaxin làm trái trở nên đắng. Tuy nhiên, ẩm độ không khí cao lại giúp cho bệnh đốm phấn phát triển mạnh. Dưa chuột ưa ánh sáng mạnh, cường độ ánh sáng thích hợp cho dưa chuột sinh trưởng, phát triển, tăng hiệu suất quang hợp, tăng năng suất, chất lượng quả,. Dưa chuột là cây kém chịu hạn lại kém chịu úng.
Hai yếu tố ngoại cảnh: lượng mưa và độ ẩm cùng với nhiệt độ cao là nguyên nhân phát sinh các bệnh ở thân cành và lá. Một số đặc điểm nông sinh học của cây dưa chuột Rễ: dưa phát triển rất yếu, rễ chỉ phân bố ở tầng đất mặt 30-40 cm. Bộ rễ chính tương đối phát triển, phân bố chủ yếu ở tầng canh tác ở độ sâu từ 0 đến 30 cm, rộng 50 - 60 cm. Hệ rễ ưa ẩm, không chịu được khô hạn cũng như không chịu được ngập úng.
Khả năng sinh trưởng mạnh, yếu phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt độ, độ ẩm và thời gian bảo quản hạt giống,. và ảnh hưởng trực tiếp đến các bộ phận của cây trên mặt đất. Thân: thảo hằng niên, thân dài, có nhiều tua cuốn để bám khi bò. Chiều dài thân tùy điều kiện canh tác và giống, các giống canh tác ngoài đồng thường chỉ dài từ 0.
Thân trên lá mầm và lóng thân trong điều kiện ẩm độ cao có thể thành lập nhiều rễ bất định. Thân tròn hay có góc cạnh, có lông ít nhiều tùy giống. Trên thân chính có khả năng phân cành cấp 1 và cấp 2 trong kỹ thuật tỉa cành lưu trữ thân chính và 1-2 cành cấp 1, tùy theo điều kiện cụ thể. Lá: to mọc cách trên thân, dạng lá hơi tam giác (hình chân vịt 5 cạnh) 2 mặt phiến lá đều có lông, với cuống lá dài 5-15 cm; rìa nguyên hay có răng cưa.
Lá trên cùng cây cũng có kích thước và hình dáng thay đổi. Người trồng dưa thường quan tâm tới độ lớn, sự cân đối và thời gian duy trì lá mầm trên cây dài hay ngắn. Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng 2 lá mầm là chất lượng giống, chất dinh dưỡng trong đất, nhiệt độ và độ ẩm đất, nhiệt độ quá thấp sẽ làm cho lá bị co rút lại. Hoa: hoa cái mọc ở nách lá thành đôi hay riêng biệt; hoa đực mọc thành cụm từ 5-7 hoa; dưa leo cũng có hoa lưỡng tính; có giống trên cây có cả 3 loại hoa và có giống chỉ có 1 loại hoa trên cây.
Hoa có màu vàng, đường kính từ 2- 3cm, thụ phấn nhờ côn trùng, bầu noãn của hoa cái phát triển rất nhanh ngay 5 trước khi hoa nở. Sự xuất hiện hoa cái sớm hay muộn phụ thuộc vào nhiệt độ, chế độ chiếu sáng, chất dinh dưỡng đầy đủ và nồng độ CO2 thích hợp. Quả: Lúc còn non có gai xù xì, khi trái lớn gai từ từ mất đi. Trái từ khi hình thành đến khi thu hoạch có hình thuôn dài, màu xanh đậm, xanh nhạt, có hay không có hoa văn (sọc, vệt, chấm), khi chín trái chuyển sang màu vàng sậm, nâu hay trắng xanh.
Đường kính quả là chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng và giá trị sử dụng. Hạt: Trái chứa hạt màu trắng ngà, trung bình có từ 200-500 hạt/trái. Phân loại Dưa chuột thuộc chi Cucumis, loài C. đã có nhiều tác giả tiến hành phân loại dưa chuột, trong đó Teachenk (1967) đã phân loại Cucumis ativusl.
Thành 3 thứ dưa: dưa chuột thường, dưa chuột lưỡng tính và dưa chuột hoang dại, v.B Libner Nonneck (1989) thì Cucumis ativus L. chỉ là một dạng hình của dưa chuột, là cây rau thương mại quan trọng. Những cây khác cũng được gọi là dưa chuột như: C.anguria L ; dưa chuột tròn C.prophetarum; dưa chuột trắng Trung Quốc Var.conomon hoặc dưa chuột sao: Sicyos angulatus. George (1989) dưa chuột có nhiều hình dạng, hình dạng và kích cỡ quả phong phú.
Loài trồng trọt có thể chia thành 4 nhóm chín: + Dưa chuột sản xuất ngoài đồng với đặc điểm nổi bật là gai trắng hoặc đen. 6 + Dưa chuột trồng trong nhà kính hoặc như giống dưa chuột Anh. Những dạng hình này quả dài, không có gai, có thể sản xuất quả đơn tính. + Giống Sik Kim nguồn góc ở Ấn Độ, quả có màu hơi đỏ hoặc vàng da cam.
+ Dưa chuột quả nhỏ dùng dầm dấm, muối chua.