Mở đầu (3trang, trang số 1-3) Chƣơng I: Tổng quan tài liệu(28 trang, từ trang số 4-32) Chƣơng II: Đối tƣợng, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu (8 tráng, trang số 33-41) Chƣơng III: Kết quả nghiên cứu và thảo luận (37 trang, từ trang số 42- 79) Kết luận và đề nghị (2 trang, trang số 80-81) Tài liệu tham khảo(5 trang, trang số 82-87) Phụ lục 4 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nguồn gốc, phân loại và giá trị dinh dƣỡng của cây dƣa chuột 1. Nguồn gốc Cây dƣa chuột : Bộ: Cucurbitales Họ: Cucurbitacea Chi: Cucumis Loài: C. sativus Tên tiếng Anh: Cucumber Tên khoa học: Cucumis sativus L.
Họ bầu bí: Cucurbitaceae Dƣa chuột là loại rau ăn quả trồng lâu đời nhất, đƣợc biết đến cách đây khoảng 5. Song cho đến nay vẫn có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc xuất xứ của loại cây này. Phần lớn các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng: Cây dƣa chuột (Cucummis sativus.L) có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới ẩm Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Nam Á, (Ấn Độ, Malaca, Nam Trung Quốc). Tuy nhiêntheo kết quả phân tích về di truyền phân tử của giáo sƣ thực vật học Susanne Renner cho thấynguồn gốc của các Giống dƣa và dƣa chuột là từ Châu Á.
Thêm vào đó, các nhà khoa học đã tìm thấy 25 giống cây thuộc cùng một họ tại Châu Á, Australia và các khu vực quanh Ấn Độ Dƣơng. Nhiều tài liệu cho rằng dƣa chuột có nguồn gốc từ chân dãy núi Hymalaya nơi có nhiều loài hoang dại có quan hệ chặt chẽ với loài Cucummis Hardi Wichil Royle. Dƣa chuột đã đƣợc trồng ở Ấn Độ cách đây 3000 năm và nó đƣợc biết ở Ai Cập cổ đại, Hy Lạp và Đế chế La Mã. Vào thế kỉ thứ VI, dƣa chuột đã đƣợc trồng nhiều ở Trung Quốc, Malaysia.
Từ đó đƣợc lan truyền khắp các nƣớc trên thế giới, đặc biệt là các nƣớc vùng nhiệt đới. Vì vậy, dƣa chuột là loại rau ƣa nhiệt độ 5 ấm áp và những vùng nhiệt đới mát mẻ. Nhiệt độ thích hợp để trồng dƣa chuột là 18 - 30oC[5]. Tuy nhiên, theo Vavilop (1926) thì khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam giáp Lào là nơi phát sinh cây dƣa chuột vì đây còn tồn tại các loại cây dƣa chuột hoang dại.
Trong quá trình giao lƣu buôn bán nó đƣợc trồng phổ biến sang Trung Quốc và từ đây nó đƣợc phát triển sang Nhật Bản và sang Châu Âu hình thành dạng dƣa quả dài, gai trắng màu xanh đậm. Nhóm thứ hai mang đặc trƣng của vùng nguyên sảnđƣợc phát triển sang lục địa Ấn Độ hơn 2000 năm trƣớc. Hiện nay dƣa chuột đƣợc trồng hầu nhƣ khắp nơi trên thế giới, từ vùng nhiệt đới Châu Á, Châu Phi đến tận 63 vĩ độ Bắc. Ngoài ra ở các vùng cực Bắc Châu Âu, dƣa chuột giữ vị trí hàng đầu trong số các cây trồng trong nhà kính (trích theo Nguyễn Văn Hiển, 2000).
Ở nƣớc ta, dƣa chuột đƣợc trồng từ bao giờ cho đến nay vẫn chƣa đƣợc rõ. Tài liệu sớm hơn cả có nhắc đến dƣa chuột là sách “Nam phƣơng thảo mộc trạng” của Kế Hàm có từ năm Thái Khang thứ 6 giới thiệu “… cây dƣa chuột hoa vàng, quả dài cỡ gang tay, ăn mát vào mùa hè”. Mô tả kỹ hơn cả là cuốn “ Phủ biên tạp lục” (năm 1775) Lê Quý Đôn đã ghi rõ tên dƣa chuột và vùng trồng là Đàng Trong (từ Quảng Bình đến Hà Tiên) và Bắc Bộ (Nguyễn Văn Hiển và cs. Sự phân bố ở Thế giới và Việt Nam Những năm cuối thế kỷ XX, cây dƣa chuột là loại cây chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất rau trên thế giới.
Những nƣớc dẫn đầu về diện tích và năng suất là: Trung Quốc,Liên Xô, Nhật Bản, Tây Ban Nha. Theo FAO năm 2018, diện tích gieo trồng dƣa chuột trên thế giới năm 2014 lên đến 2.651 ha, năng suất trung bình là 30,87 tấn và sản lƣợng đạt 65. Ở nƣớc ta những năm gần đây dƣa chuột đƣợc trồng với diện tích rất lớn và phân bố trên khắp cả nƣớc, ở thành phố Hồ Chí Minh hằng năm có diện tích trồng dƣa chuột lên đến hàng trăm hecta ở hai huyện Củ Chi và Hóc Môn. Ở đồng bằng Sông Cửu Long dƣa chuột đƣợc trồng rất phổ biến đặc 6 biệt là vùng Sóc Trăng và An Giang.
Riêng ở khu vực Tây Nguyên diện tích gieo trồng dƣa chuột cao tập trung chủ yếu ở các tỉnh Gia Lai, Đăk Nông và cao nhất là tỉnh Lâm Đồng với sản lƣợng dƣa chuột trồng trong nhà lƣới cung cấp rau sạch cho các thành phố lân cận. Phân loại a) Dựa vào nguồn gốc Dƣa chuột (dƣa leo), họ bầu bí Cucurbitaceae, chi Cucumis, loài CucumisSativus L. Đã có nhiều nhà khoa học tiến hành phân loại dƣa chuột, trong đó có nhà thực vật học A.Trên cơ sở nghiên cứu về tiến hoá sinh thái ông đã đƣa ra bảng phân loại chính xác. Ông xếp dạng hoang dại vào một trong các loài phụ ssp.
Agrostis gab, còn lại các dạng khác là trồng trọt và tập trung vào các loài phụ sau: + Ssp. Europaeo – americanus Fil. Loài phụ Âu – Mỹ là loài phụ lớn nhất về địa bàn phân bố. Occidentali – asiticus Fil.Loài phụ Tây Á phân bố rộng rãi tại các vùng khô hạn Trung và Tiểu Á, Iran, Afganistan và Azecbaizan với các đặc tính chịu nóng.Loài phụ Trung Quốc đƣợc sử dụng phổ biến để trồng trong nhà kính ở Châu Âu gồm các giống quả ngắn cần thụ phấn và quả dài không qua thụ phấn.
Indico – japonicas Fil. Loài phụ Nhật - Ấn đƣợc phân bố tại khu vực nhiệt đới và Á nhiệt đới với lƣợng mƣa lớn. b) Dựa vào đặc điểm sinh trƣởng (thời gian chín) Đặc điểm chín sớm tức là tính từ lúc mọc đến thu quả đầu tiên, các giống dƣa chuột ở nƣớc ta chia làm 3 nhóm: + Nhóm các giống chín sớm có thời gian 30 - 35 ngày trong vụ Đông và 35 - 40 ngày trong vụ Xuân. Các giống dƣa chuột Việt Nam ở dạng sinh thái đồng bằng đều thuộc nhóm này.
7 + Nhóm chín trung bình có thời gian 35- 40 ngày trong vụ Đông và 40 - 45 ngày trong vụ Xuân. + Nhóm giống chín muộn có thời gian 40 - 45 ngày trở lên. Các giống dƣa chuột Việt Nam ở miền núi thuộc nhóm này. c) Dựa vào đặc điểm kích thƣớc quả + Nhóm quả rất nhỏ (hay dƣa chuột bao tử): Nhóm này cho sản phẩm để chế biến là 2 - 3 ngày tuổi.
Khối lƣợng trung bình nhỏ. Phần lớn các giống thuộc nhóm này là dạng cây 100% hoa cái (Gynoecious) nhƣ Marinda, F1 Dunja, F1 Levina (Hà Lan) và một số giống của Mỹ. Một khó khăn lớn của sản xuất nhóm quả bao tử là quả dễ bị sâu bệnh, chủ yếu bị bệnh sƣơng mai từ trung bình đến nặng. + Nhóm quả nhỏ: Đƣờng kính 2,5 - 3,5cm, nhóm này có thời gian sinh trƣởng ngắn (65 - 80 ngày tùy vụ trồng).
Năng suất khoảng 15 - 20 tấn/ ha (7 - 8 tạ/ sào Bắc Bộ). Ngoài ăn tƣơi loại này chủ yếu là chế biến đóng hộp nguyên quả. Đại diện cho nhóm này là giống Tam Dƣơng (Vĩnh Phú) và Phú Thịnh (Hải Dƣơng). + Nhóm quả trung bình: Gồm hầu hết các giống địa phƣơng trong nƣớc và giống F1(giống lai tạo).
Quả có kích thƣớc 13 - 20 x 3,5 - 4,5cm. Thời gian sinh trƣởng 75 - 85 ngày. Năng suất 22 - 25 tấn/ha. Một số giống trong nhóm này (Yên Mỹ, Nam Hà) có thể sử dụng để chẻ nhỏ đóng lọ thủy tinh.
+ Nhóm quả to: Gồm các giống lai F1 của Đài Loan và Nhật Bản. Các giống Đài Loan có kích thƣớc 25 - 30 x 4,5 - 5cm, quả hình trụ màu xanh nhạt, gai trắng, vỏ quả xanh đậm. Những giống thuộc nhóm này có năng suất khá cao, trung bình đạt 30 - 35 tấn/ha, nếu thâm canh tốt có thể đạt 50 tấn/ha. Phần lớn các giống này đƣợc sản xuất theo đơn đặt hàng của các công ty nƣớc ngoài[33].
Giá trị dinh dưỡng Quả dƣa chuột có các loại chất dinh dƣỡng khác nhau. Dƣa chuột là loại rau ăn quả có giá trị dinh dƣỡng cao, đƣợc sử dụng phổ biến trong các 8 bữa ăn hằng ngày của nhiều dân tộc trên thế giới dƣới nhiều hình thức khác nhau nhƣ: ăn tƣơi, nấu chín, muối,.Quả dƣa chuột có hàm lƣợng nƣớc thấp hơn các loại quả khác thuộc họ bầu bí nhƣng lại có hàm lƣợng Protein cao. Quả dƣa chuột chín có 85% phần ăn đƣợc. Ngoài ra, dƣa chuột là loại rau ăn quả có thời gian sinh trƣởng ngắn, năng suất cao.
Vì vậy, trong những năm gần đây, dƣa chuột là loại cây trồng đã đƣợc một số địa phƣơng mạnh dạn đƣa vào sản xuất và đạt hiệu quả kinh tế cao.Ngoài ra, dƣa chuột còn là nguyên liệu cho ngành chế biến và là mặt hàng xuất khẩu thu ngoại tệ lớn.Điều này đƣợc thể hiện rõ ở bảng 1. Thành phần dinh dƣỡng trong dƣa chuột (Trong 100 g ăn đƣợc) Thành Hàm Thành Hàm Thành Hàm lƣợng phần lƣợng phần lƣợng phần Nƣớc 95 g Canxi 23mg Caroten 90mcg Năng lƣợng 16kcal Kali 169mg vitaminB1 0,03mg Protein 0,8g Phosphor 27mg Vitamin C 5,0mg Gluxit 3,0g Sắt 1mg Chất xơ 0,7g Natri 13mg (Nguồn: Bảng thành phần phẩm của Việt Nam),[13]. Về mặt Y học, dƣa chuột có hàm lƣợng nƣớc cao, vị ngọt và có tính lạnh nên có công dụng giải khát. Mặt khác, do đặc điểm giàu các nguyên tố khoáng nhƣ Kali và ít Natri nên dƣa chuột kích thích sự lƣu thông nƣớc trong cơ thể, có tác dụng lợi tiểu[7].
Về mặt thẩm mỹ, dƣa chuột có công dụng cung cấp nƣớc và vitamin C cho da, là sản phẩm đƣợc chị em phụ nữ rất hay sủ dụng vì dễ mua mà giá thành không cao, công dụng rất tốt và là nƣớc uống giảm cân với tác dụng rất 9 cao vì hàm lƣợng calo rất thâp. Giá trị kinh tế của cây dưa chuột Ngoài giá trị dinh dƣỡng, thì về mặt kinh tế dƣa chuột là cây rau ăn quả quan trọng cho nhiều vùng chuyên canh mang lại hiệu quả kinh tế cao.Dƣa chuột là một loại mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Trƣớc đây dƣa chuột đƣợc sử dụng nhƣ một loại quả tƣơi để giải khát. Đến khi thị trƣờng trong nƣớc và thế giới đƣợc mở rộng, nhu cầu ngƣời tiêu dùng phong phú thì đa dạng hoá cách sử dụng.
Ngày nay dƣa chuột đƣợc sử dụng dƣới nhiều hình thức khác nhau: ăn sống, trộn salat,… Bên cạnh đó dƣa chuột là cây rau quả quan trọng cho nhiều vùng chuyên canh mang lại hiệu quả kinh tế cao, thời gian sinh trƣởng tƣơng đối ngắn, chi phí đầu tƣ thấp có thể mở rộng trên nhiều vùng kinh tế khác nhau.