Đặt vấn đề Chăn nuôi là một ngành cung cấp thực phẩm không thể thiếu trong đời sống con người như: thịt, trứng, sữa, bơ, phomat. Trong các ngành chăn nuôi gia súc trên thế giới cũng như ở nước ta thì chăn nuôi lợn chiếm một ví trí rất quan trọng, đó là một nguồn cung cấp thực phẩm với tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho con người như thịt, mỡ và các sản phẩm chế biến từ thịt. Theo thống kê của FAO (2007) thì sản lượng thịt trên toàn thế giới là 217,159 triệu tấn; năm 2008 là 217 triệu tấn trong đó 92,992 triệu tấn là thịt lợn và dự tính đến năm 2010 sản lượng thịt lợn là 101,9 triệu tấn. Sản lượng thịt trung bình trên thế giới đạt 42 kg/người/năm.
Việt Nam là một trong những nước nuôi nhiều lợn và có ngành chăn nuôi lợn phát triển mạnh, con lợn được coi là non vật truyền thống của nước ta. Theo thống kê sơ bộ của cục Khuyến nông - Khuyến lâm - Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn năm 2002 đàn lợn nước ta có 23,146 triệu con, năm 2004 tăng lên 26,144 triệu con, đến 2005 là 27,435 triệu con, năm 2008 là 26,7 triệu con và năm 2009 là 26,8 triệu con. Trong giai đoạn từ 1990 - 2002, đàn lợn tăng bình quân 6,84%/ năm, đàn nái tăng 2,6%, tổng sản lượng thịt hơi tăng 16,75%. Bình quân khối lượng xuất chuồng tăng 2,75% và bình quân thịt hơi trên đầu người tăng 8,34%.
Sản lượng thịt tăng lên 1,653 triệu tấn vào năm 2002, và năm 2005 sản lượng thịt lợn bình quân 28 kg/người/năm; đến 2008 là 32 kg/người/năm. Mục tiêu đến năm 2010, chỉ tiêu tăng đàn đạt 2,6%/năm, số lượng đầu lợn đạt trên 32,811 triệu con với yêu cầu chất lượng đàn lợn thịt có tỷ lệ nạc cao trên 50%, sản xuất thịt lợn đạt 35kg thịt lợn hơi/người/năm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http//: www.vn 2 Chương trình quốc gia định hướng năm 1999 - 2005 đã xác định: Vai trò con giống giữ vị trí quan trọng trong việc cải thiện đặc tính di truyền, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm trong chăn nuôi. Để thực hiện chương trình đó chúng ta đã áp dụng nhiều chương trình về công tác giống lợn như “Móng cái hoá” đàn nái, chương trình “nạc hoá” đàn lợn thịt, nhập nội giống lợn có năng suất cao để lai tạo với lợn nội và đã cho những kết quả nhất định.
Năm 1981, Viện chăn nuôi đã tạo được giống lợn ĐBI - 81, (Hoàng Gián và cs, 1985) [9]: Edel x Lang Hồng cho tỷ lệ nạc 43,14%. Bên cạnh đó chúng ta vẫn tiến hành song song công tác giống lợn nội, tận dụng, phát huy tối đa các ưu thế của các giống lợn này. Phát triển ngành chăn nuôi bền vững dựa trên cơ sở quản lý và bảo tồn giống nội, hướng sự thay đổi của kỹ thuật và tổ chức sao cho đảm bảo và thoả mãn được nhu cầu của con người hiện tại và trong tương lai. Tuy nhiên, sự thách thức đối với các giống có giá trị thấp là sự thay thế giống và sự lai giống.
Các kỹ thuật di truyền đã có đóng góp to lớn vào việc cải tiến về mặt số lượng và chất lượng, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Đó là mặt tích cực, còn mặt trái của nó thì sao? Đó là sự xói mòn các giống nuôi địa phương có năng suất thấp nhưng rất hợp với vùng sinh thái địa phương. Hiện nay ở các cộng đồng dân cư Việt Nam vẫn có nhiều giống lợn tốt như: Lợn Mẹo ở vùng Tây Nghệ An, lợn Ba Xuyên ở Nam Bộ, lợn Mường Khương ở Lào Cai, lợn Đen do một số cộng đồng dân tộc ở vùng Tây Bắc nuôi. Các giống lợn này đều có đặc điểm chung là thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên, chịu đựng kham khổ tốt, thành thục sớm, ăn tạp, khéo nuôi con.
Đàn lợn Đen nuôi trên địa bàn tỉnh Yên Bái là một giống lợn bản địa được nuôi nhiều ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số như Mông, Thái. trong đó Trạm Tấu một huyện miền Tây của tỉnh Yên Bái nuôi khá phổ biến. Đây là một giống lợn nội tốt, tầm vóc trung bình, khả năng cho thịt tốt, chất lượng thịt và mỡ thơm ngon, lại có khả năng chịu đựng kham khổ cao và thích ứng tốt với tập quán chăn nuôi còn lạc hậu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http//: www.vn 3 Tuy nhiên, cho đến nay các số liệu điều tra cơ bản về đàn lợn Đen nuôi trên địa bàn các tỉnh Tây Bắc đã có nhưng chưa nhiều, số lượng đàn lợn Đen hiện nay đang có xu hướng tăng lên và trở thành một con vật nuôi không thể thiếu trong các gia đình đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc nhưng vẫn chưa được công bố là một giống lợn chính thức.
Các đặc điểm sinh vật học và các chỉ tiêu sản xuất như khả năng sinh trưởng, sinh sản của đàn lợn này ra sao? Nhiều vấn đề khoa học và thực tiễn về đàn lợn này vẫn là những vấn đề cần làm sáng tỏ. Mặt khác trong xu thế tiêu dùng hiện nay thịt lợn nội nói chung, lợn Đen nói riêng đang rất được ưa chuộng và trở thành “đặc sản” có giá trên thị trường bởi ưu thế về chất lượng, nhất là trong các dịp lễ tết cuối năm. Yên Bái là một tỉnh miền núi phía Bắc của nước ta có diện tích đất đai rộng lớn thuận lợi cho ngành chăn nuôi phát triển. Tuy nhiên dân cư nơi đây chủ yếu là dân tộc ít người, trình độ dân trí còn thấp nên việc tuyên truyền mở rộng chăn nuôi theo hướng bán công nghiệp và chăn nuôi giống lợn lai hay lợn ngoại là thực sự khó khăn và chưa thể phù hợp.
Do đặc điểm tập quán chăn nuôi vẫn còn lạc hậu, thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật. Vì vậy, muốn đẩy nhanh sự phát triển chăn nuôi lợn tại đây, mà lại phù hợp với điều kiện thực tại của địa phương là điều khó khăn. Xuất phát từ thực trạng trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sức sản xuất và chất lƣợng thịt của đàn lợn Đen nuôi tại huyện Trạm Tấu tỉnh - Yên Bái”. Kết quả của đề tài sẽ góp phần định hướng phát triển ngành chăn nuôi lợn cho một số khu vực ở Yên Bái nói riêng và miền núi phía Bắc nói chung đang có ngành chăn nuôi chậm phát triển.
Mục tiêu của đề tài - Đánh giá một số đặc điểm sinh học, sức sản xuất và chất lượng thịt của đàn lợn Đen nuôi tại Yên Bái. - Trên cơ sở đó đề ra biện pháp chăn nuôi lợn Đen trong điều kiện tại địa phương. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http//: www. Ý nghĩa khoa học của đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu khoa học tiếp theo về đàn lợn Đen.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http//: www.vn 5 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Theo Nguyễn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc (1997) [41]: Tổ tiên xa xưa của tất cả các loài vật nuôi hiện nay đều là các động vật hoang dã được con người thuần hoá, chọn lọc và nhân giống mà thành. Giống (breed) là một quần thể vật nuôi đủ lớn trong cùng một loài, có một nguồn gốc chung, có một số đặc điểm chung về hình thái và ngoại hình, sinh lý và năng suất, sinh vật học và có khả năng chống đỡ bệnh tật, đồng thời có thể truyền đạt các đặc điểm đó cho đời sau.
Như vậy đặc điểm của một giống thường được xác định qua 3 tính trạng: - Tính trạng hình thái học hoặc ngoại hình: màu sắc lông da, hình dạng đầu, sừng. - Tính trạng sinh lý và năng suất: đó là các tính trạng phản ánh khả năng sản xuất của con vật như khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt. - Tính trạng sinh vật học và bệnh học như nhóm máu, các gen chống đỡ bệnh tật. Nguồn gốc và sự thuần hóa giống lợn Nguồn gốc lợn nhà hiện nay là do lợn rừng tiến hoá mà thành và bắt nguồn từ hai nhóm lợn rừng hoang dại.
Đó là lợn rừng Châu Âu (Sus scrofa ferus) và lợn rừng Châu Á (Sus orientalis, Sus cristatus sus vittatus) được con người thuần hoá trong thời gian dài mà thành. Căn cứ vào hình dáng của tai mà người ta chia cả hai nhóm lợn nguyên thuỷ Châu Âu và Châu Á thành hai loại: Lợn tai dài và lợn tai ngắn. Giống lợn cổ đại là do giống lợn nguyên thuỷ Châu Âu và nguyên thuỷ Châu Á tạp giao mà thành. Giống lợn này được nuôi chủ yếu tại các nước dọc theo Địa Trung Hải.
Trong đó, lấy giống lợn lông xoăn La Mã và lợn ở bán đảo Ban Căng lai với lợn Trung Quốc là giống lợn thành thục sớm, phẩm chất thịt ngon, mềm, ở đời sau cho tự giao và hình thành giống lợn lai Cổ Đại. Các giống lợn nhà nuôi hiện nay là do các giống lợn Cổ đại trước kia thông qua các phương pháp tạp giao cải lương khác nhau mà dần hình thành nên, (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [25]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http//: www.vn 6 Trong quá trình thuần hoá lợn rừng, do điều kiện tự nhiên của các vùng khác nhau, điều kiện lịch sử và trình độ phát triển sản xuất không giống nhau dẫn đến việc hình thành giống lợn khác nhau. Để giải quyết nhu cầu về thịt, con người đã cải thiện các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và tạo nên giống lợn nguyên thuỷ Châu Á từ lợn rừng Châu Á có đặc điểm dễ béo, sớm thành thục.
Ở Châu Âu, cũng do điều kiện tự nhiên đã hình thành nên các giống lợn nguyên thuỷ Châu Âu có đặc điểm như thành thục muộn, khả năng chịu đựng kham khổ cao. Theo Nguyễn Thiện và cs (2005) [39] cho biết khi đã được thuần hoá, lợn hoang đã có nhiều thay đổi. Điều trông thấy rõ nhất là thân hình bé hẳn đi, nên các loại lợn nhà nguyên thuỷ đều bé nhỏ. ë Châu Âu, mãi đến cuối thời kỳ Trung Cổ mới có các loại lợn to lớn, có những đặc điểm bên ngoài như tai rủ, mãi về sau này do lai tạo có ý thức nên khối lượng lợn mới đa dạng hơn về hình dáng dần và dài thêm, cao chân, móng phát triển.
Vào thế kỷ 20, ở Việt Nam chúng ta đã nhập nhiều giống lợn cao sản từ nhiều nơi trên thế giới trong từng thời kỳ khác nhau.