Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh trưởng của cây bương tại địa bàn xã púng bánh huyện sốp cộp tỉnh sơn la

Nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh trưởng của cây bương tại xã Púng Bánh, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, cung cấp thông tin quý giá cho bảo tồn.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Nông lâm kết hợp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2014

47
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu của đề tài

1.3. Ý nghĩa của đề tài

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Những nghiên cứu ở trên thế giới

2.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam

2.3. Điều kiện khu vực nghiên cứu

2.3.1. Điều kiện tự nhiên

2.3.2. Vị trí địa lí

2.3.3. Địa chất thổ nhưỡng - Đặc điểm địa hình

3. PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Phạm vi nghiên cứu

3.3. Về nội dung

3.4. Về địa điểm

3.5. Nội dung nghiên cứu

3.6. Phương pháp nghiên cứu

3.6.1. Phương pháp kế thừa số liệu

3.6.2. Phương pháp thu thập số liệu

3.6.3. Phương pháp điều tra theo tuyến ngẫu nhiên

3.6.4. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ PHÂN BỐ CÂY BƯƠNG TẠI XÃ PÚNG BÁNH – HUYỆN SỐP CỘP – TỈNH SƠN LA

4.1.1. Đặc điểm hình thái

4.1.2. Đặc điểm phân bố

4.2. ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA CÂY BƯƠNG TẠI XÃ PÚNG BÁNH – HUYỆN SỐP CỘP – TỈNH SƠN LA

4.3. TỔNG KẾT KINH NGHIỆM SỬ DỤNG VÀ GÂY TRỒNG BƯƠNG CỦA NGƯỜI DÂN

4.3.1. Giá trị sử dụng cây Bương tại địa phương

4.3.2. Gây trồng Bương

4.3.3. Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật phát triển cây Bương tại xã Púng Bánh – Huyện Sốp cộp – Tỉnh Sơn La

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Về đặc điểm phân bố

5.2. Đặc điểm cấu trúc

5.3. Về đặc điểm hình thái

5.4. Về giá trị sử dụng

5.5. Kỹ thuật gây trồng

5.6. Thời vụ trồng

5.7. Chăm sóc rừng trồng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Đặc điểm phân bố cây bương

Nghiên cứu đặc điểm phân bố của cây bương tại xã Púng Bánh, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La cho thấy loài cây này chủ yếu tập trung ở khu vực có độ cao từ 750m đến 1.700m so với mực nước biển. Đặc điểm phân bố của cây bương phụ thuộc vào điều kiện địa hình và thổ nhưỡng, với sự ưa thích đất trầm tích và khu vực có độ dốc vừa phải. Kết quả điều tra cho thấy cây bương phân bố rải rác trong các khu rừng hỗn giao, đặc biệt là ở những nơi có độ ẩm cao và ánh sáng vừa đủ. Điều này phản ánh sự thích nghi của cây bương với môi trường sống đặc thù của vùng núi Tây Bắc.

1.1. Phân bố theo địa hình

Cây bương được tìm thấy chủ yếu ở khu vực đồi núi thấp và trung bình, nơi có độ cao từ 750m đến 1.000m. Đây là khu vực có điều kiện thổ nhưỡng phù hợp, với đất giàu dinh dưỡng và độ ẩm cao. Sự phân bố này cho thấy cây bương có khả năng thích nghi tốt với địa hình đồi núi, đồng thời phản ánh tầm quan trọng của phân bố thực vật trong việc duy trì hệ sinh thái rừng.

1.2. Phân bố theo thổ nhưỡng

Nghiên cứu chỉ ra rằng cây bương ưa thích đất trầm tích, đặc biệt là khu vực có độ dốc vừa phải. Điều này giúp cây phát triển tốt và tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhân giống. Sự phân bố này cũng cho thấy tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường sống để duy trì sự phát triển bền vững của cây bương.

II. Sinh trưởng cây bương

Nghiên cứu về sinh trưởng cây bương tại xã Púng Bánh cho thấy loài cây này có tốc độ sinh trưởng nhanh, đặc biệt trong điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp. Cây bương đạt chiều cao trung bình từ 15-20m và đường kính gốc từ 20-30cm. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sinh trưởng cây bương phụ thuộc nhiều vào yếu tố môi trường, bao gồm độ ẩm, ánh sáng và chất lượng đất. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong nghiên cứu sinh trưởng để đảm bảo sự phát triển bền vững của loài cây này.

2.1. Yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng

Các yếu tố như độ ẩm, ánh sáng và chất lượng đất đóng vai trò quan trọng trong sinh trưởng cây bương. Nghiên cứu cho thấy cây bương phát triển tốt nhất ở khu vực có độ ẩm cao và ánh sáng vừa đủ. Điều này phản ánh sự cần thiết của việc duy trì môi trường sống phù hợp để đảm bảo sự phát triển bền vững của loài cây này.

2.2. Kỹ thuật chăm sóc

Việc áp dụng các kỹ thuật chăm sóc như tưới nước, bón phân và kiểm soát sâu bệnh giúp cải thiện đáng kể sinh trưởng cây bương. Nghiên cứu cũng đề xuất các biện pháp kỹ thuật cụ thể để tối ưu hóa quá trình chăm sóc, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của cây bương trong tương lai.

III. Giá trị và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu về cây bương không chỉ làm rõ đặc điểm sinh họcphân bố thực vật mà còn nhấn mạnh giá trị kinh tế và ứng dụng thực tiễn của loài cây này. Cây bương được sử dụng rộng rãi trong xây dựng, sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ và làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Măng cây bương cũng là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp phát triển và bảo tồn cây bương, góp phần nâng cao giá trị kinh tế và bảo vệ môi trường.

3.1. Giá trị kinh tế

Cây bương có giá trị kinh tế cao nhờ khả năng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xây dựng. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc phát triển cây bương có thể mang lại nguồn thu nhập ổn định cho người dân địa phương, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường.

3.2. Ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu đề xuất các biện pháp kỹ thuật để phát triển và bảo tồn cây bương, bao gồm nhân giống, chăm sóc và khai thác bền vững. Những giải pháp này không chỉ nâng cao giá trị kinh tế mà còn đảm bảo sự phát triển bền vững của cây bương trong tương lai.

09/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Cây Bương (họ tre nứa) còn có tên gọi khác như Mạy Púa, là một trong những loài tre có kích thước lớn nhất ở Việt Nam, chiều cao 15-20m, đường kính gốc 20-30cm, có vách dày chiều dài đốt từ 25-30cm, ít cành nhánh, khả năng cung cấp nguyên liệu cho công nghiêp chế biến rất cao. Thân Bương to lớn, dài chắc bền thường được dùng làm cột nhà, các dân tộc vùng cao dùng thân Bương làm máng dẫn nước cho sinh hoạt và phục vụ sản xuất, chế biến thay thế cho gỗ có hiệu qủa rất cao. Măng Bương ăn ngon có thể ăn tươi hoặc làm khô và măng chua được thị trường ưa chuộng do có vị đắng đặc biệt. Mặt dù là loài cây đa tác dụng, có giá trị kinh tế cao nhưng Bương vẫn chưa được quan tâm đúng mức.

Hiện nay diện tích rừng Bương tại xã Púng Bánh – Huyện Sốp Cộp – Tỉnh Sơn La đang bị thu hẹp, chất lượng giảm sút nghiêm trọng. Nguyên nhân do hiện tượng khai thác quá mức. Đặc biệt là việc khai thác măng với số lượng lớn vào mùa măng mọc. Mặt khác việc kinh doanh Bương chưa được chú trọng đầu tư nhiều vẫn theo hình thức quảng canh, dựa vào kinh nghiệm vốn có của người dân địa phương và điều kiện tự nhiên sẵn có nên năng suất không cao như giá trị vốn có của nó.

Đặc biệt việc phát triển và mở rộng diện tích trồng cây Bương rất khó khăn do nhân rộng giống bằng gốc và số lượng giống còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu nhân rộng mô hình. Đặc biệt ở vùng cao nhiều người ít biết đến giá trị của nó, họ sử dụng măng để làm thực phẩm cung cấp cho gia đình như những măng tre khác. Do vậy, không được chú trọng nhiều đến việc nhân giống để phát triển và mở rộng diện tích trồng. Nhiều hộ gia đình đã thay thế trồng bằng một loài tre khác là tre Đài Loan họ cho rằng nó cho năng suất cao.

Việc gây trồng n 2 Bương còn thiếu hướng dẫn kỹ thuật nhân giống để đáp ứng số lượng giống cho gây trồng nhân rộng. Tại khu vực chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về đặc điểm phân bố và sinh trưởng của cây Bương nhằm gây trồng và phát triển loài cây này, vậy nên em chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh trưởng của cây Bương tại xã Púng Bánh – Huyện Sốp Cộp – Tỉnh Sơn La”. Qua đó, góp phần hiểu biết về cây Bương và làm cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp kỹ thuật, cách chế biến và các chính sách hỗ trợ để phát triển loài cây này. Mục tiêu của đề tài 1.

Về lý luận - Xác định được đặc điểm phân bố và sinh trưởng của cây Bương 1. Về thực tiễn - Đề xuất được biện pháp kỹ thuật chăm sóc và phát triển của cây Bương tại xã Púng Bánh –Huyện Sốp cộp – Tỉnh Sơn La. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa lý luận: Nghiên cứu cơ sở lý luận về đặc điểm phân bố và sinh trưởng của cây Bương.

Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần hiểu biết về cây Bương và làm cơ sở khoa học để đề xuất giải pháp phát triển cây Bương. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Những nghiên cứu ở trên thế giới Cây Bương thuộc họ tre trúc. Tre là một tài nguyên Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) rất có giá trị, có tới hơn một nửa dân số thế giới liên quan với nhóm tài nguyên này.

Tre thuộc phân họ tre (Bambusoideae), họ Cỏ (Poaceae) với khoảng 1300 loài thuộc 70 chi phân bố trên toàn thế giới. Theo thống kê có 14 triệu ha rừng tre phân bố từ 51 độ vĩ Bắc đến 47 độ vĩ Nam đều có tre phân bố. Nhiều loài tre có đặc tính mọc thành rừng. Nước nhiều tre nhất là Trung Quốc với khoảng 50 chi và 500 loài và diện tích 7 triệu ha rừng tre.

Nước nhiều tre thứ 2 là Nhật Bản với 13 chi, trên 230 loài và diện tích 0,1 triệu ha rừng tre. Tiếp đó là các nước Ấn Độ, các nước Nam và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. [3] Tre phát triển chủ yếu ở các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và một số ít phát triển ở vùng ôn đới khu vực Đông Nam Châu Á bao gồm: Đông Nam và Tây Nam Trung Quốc, Đông Dương, Lục địa ấn Độ là nơi tập trung tre lớn nhất thế giới với diện tích lên tới 90% tổng diện tích rừng tre trên thế giới, khoảng 80% loài tre thế giới. Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ được đánh giá là những nước tốt nhất cho sản xuất và phát triển nguồn tài nguyên tre.

Sự phân bố tre trên thế giới, căn cứ vào sự phân bố về mặt địa lí của tre, thì sự phân bố tre trên thế giới được chia thành 3 khu vực gồm: Châu Á – Thái Bình Dương, Châu Mỹ và Châu phi. Tre khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, đây là khu vực phân bố tre lớn nhất thế giới từ 42 độ Nam tới 51 độ Bắc, phía Đông kéo dài ra biển Thái Bình Dương, còn phía tây thi kéo dài ra Tây Nam của Ấn Độ Dương phân bố n 4 khoảng 50 chi và 900 loài tre, chiếm 80% diện tích rừng tre nứa trên toàn thế giới.[10] Tre Khu vực Châu Mỹ, từ 47 độ Nam thuộc miền nam argentina tới 40 độ Bắc thuộc Đông nước Mỹ, có khoảng 270 loài. [10] Tre Khu vực Châu Phi, khu vực này chiếm tỉ lệ nhỏ về tre, từ 22 độ nam thuộc miền nam nước Mozambique tới 16 độ Bắc thuộc miền Đông nước Sudan, có khoảng 13 chi và 40 loài. Khu lục địa châu phi có một số loài tre bản địa và Đông Phi có 11 chi và 40 loài.

[10] Về mặt phân loại, cho đến nay việc phân loại tre vẫn chưa thực sự chính xác, nguyên nhân là do tính đa dạng về loài, cũng như đặc tính ra hoa không thường xuyên của nhiều loài tre. Năm 1868 Munro lần đầu tiên đã đưa ra hệ thống phân loại tre với 120 loài thuộc 21 chi, chúng được chia làm 3 nhóm. Cơ sở của hệ thống phân loại này là số lượng nhị hoa và cấu trúc quả. Late Bentham (1883) đưa cơ sở vào hệ thống phân loại của Munro và bổ sung thêm một số tiêu chuẩn khác như: Cấu trúc bông hoa, cụm hoa cũng như kiểu phát sinh hoa, để xây dựng bảng phân loại tre của mình với 4 nhóm phụ là: Arundinarieae, Bambuseae, Dendrocalameae và Melocanneae.

Đây là hệ thống phân loại tre phổ thông nhất và đặt nền móng cho các bước phát triển hoàn thiện việc phân loại tre sau này. Bước sang thế kỷ 20, Holttum (1946,1956) đã mở rộng và xây dựng hệ thống phân loại tre, dựa trên cơ sở chủ yếu là cấu trúc bầu nhụy, ông đã chia các chi thành 4 nhóm: Schizostachyum, Oxytenanthera, Bambusa – Dendrocalamus và Arundinaria. Năm 1986, Clayton và Renvoize đã đưa ra bảng phân loại với 49 chi của Bambusoideae và được chia ra 3 nhóm phụ là: Arundinarinae Benth, Bambussinae Presl và Melocanninae Reichenb. Cơ sở của hệ thống phân loại này là dựa trên các đề nghị của Holttum (1956), mà tiêu chuẩn căn bản là cấu trúc của bầu nhụy và các phần phụ của nó.

[7] n 5 Năm 1987, Soderstrom và Ellis đã đề nghị một hệ thống phân loại, dựa trên cơ sở các đặc điểm về cấu tạo giải phẫu lá, cấu trúc bông hoa, kiểu hoa và quả. Hai ông đã đưa ra 54 chi tre được sắp xếp trong 9 nhóm phụ và 5 chi chưa xác định chính xác. Theo Huberman(1959) Tre là một quần hợp sống thành cụm ở rừng ẩm thường xanh, rừng ẩm và rừng khô rụng lá. Nhưng thực tế các loài tre có tầm quan trọng trong đời sống của nhiều triệu dân địa phương.

Ở nhiều vùng nhiệt đới của Châu Á mức độ quan trọng của tre được xếp ngay sau gạo. Công dụng của tre rất đa dạng từ việc thỏa mãn nhu cầu thức ăn cho con người, đến việc sử dung trong xây dựng và sản xuất giấy… Theo Wang, K và C. (1994) tóm lược các hiểu biết về sinh thái và môi trường sống của tre là yêu cầu cơ bản để phát triển phương thức lâm sinh và khai thác bền vững nguồn tài nguyên nay. Thêm vào đó thông tin về sinh thái và quần thể cung cấp cơ sở cho những cải thiện về lâm sinh.

Tre có 2 loại thân rễ chính là thuộc theo cụm hoặc mọc đơn. Thân rễ là cấu trúc tự nhiên bền vững được sử dụng để phân loại tre. Tre nhiệt đới hầu hết thuộc hệ thống cụm và tre ôn đới thường mọc đơn dựa vào tiêu chí này tác giả phân rừng tre ở Yunnan Trung Quốc thành 3 dạng rừng tre ôn đới, rừng tre Á nhiệt đới và nhiệt đới. [7] Theo công bố về hiện trạng rừng toàn quốc của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn năm 2009, diện tích rừng gỗ là 8.

Như vậy, trong năm 2009 đã có thêm 29.202ha diện tích rừng này so với năm 2008. Tuy nhiên, diện tích rừng tre nứa bị thay đổi trong năm 2009 là : 11. Với diện tích như vậy sẽ là thách thức lớn cho việc cung cấp nguyên liệu cho khoảng 200 nhà máy như: Nhà máy giấy Bãi Bằng, nhà máy giấy Lửa Việt ở Phú Thọ, nhà máy giấy Sơn La, nhà máy giấy Sông Lam Nghệ An, nhà máy giấy Thái Nguyên… Ngày 21-2 Chính phủ đã ban hành chính sách khuyến khích phát triển ngành mây tre, trong đó có biện pháp n 6 miễn giảm thuế sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư đầu tư trồng rừng nguyên liệu mây, tre và áp dụng thuế suất nhập khẩu 0% đối với máy móc, thiết bị chuyên dùng cho sản xuất hàng mây tre trong nước chưa sản xuất được theo danh mục do Bộ Công thương ban hành. Quyết định này cũng nêu rõ việc hỗ trợ 100% kinh phí từ ngân sách nhà nước để thực hiện việc điều tra trữ lượng, diện tích các giống mây tre, ứng dụng công nghệ sinh học vào các khâu bảo quản, chế biến.Những nghiên cứu ở Việt Nam Việt Nam đứng thứ 4 thế giới sau Trung Quốc, Ấn Độ và Mianma về diện tích tre nứa.

Tre nứa bao gồm các loài thuộc phân họ tre (Bambusoideae), họ Hòa thảo (Poaceae).Với 194 loài thuộc 26 chi, trong đó có 80 loài đã tạm thời được định danh, còn các loài chưa có tên hoặc có các loài /phân loài mới. Theo dự đoán nếu được thống kê đầy đủ số loài tre của Việt Nam có thể lên 200-250 loài. Năm 2001 theo công bố của Chương trình Tổng kiểm kê rừng toàn quốc, Việt Nam có 789.221 ha rừng tre thuần loại, 702.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh trưởng cây bương tại xã Púng Bánh, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phân bố và sự phát triển của cây bương trong khu vực này. Nghiên cứu không chỉ giúp hiểu rõ hơn về đặc điểm sinh thái của cây bương mà còn chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của nó. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên rừng, đồng thời hỗ trợ các nhà quản lý trong việc xây dựng các chiến lược phát triển lâm nghiệp hiệu quả.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến lâm nghiệp và sinh thái, hãy tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp nghiên cứu cấu trúc rừng phục hồi sau khoanh nuôi tại xã Tà Hộc, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, nơi bạn có thể tìm hiểu về cấu trúc rừng và sự phục hồi của nó. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp nghiên cứu phản ứng của tếch Tectona grandis đối với khí hậu ở Định Quán, tỉnh Đồng Nai sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự thích nghi của cây trồng với biến đổi khí hậu. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp nghiên cứu đặc điểm tái sinh và lựa chọn phương pháp điều tra tái sinh rừng tự nhiên tại xã Đú Sáng, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình sẽ cung cấp thêm thông tin về tái sinh rừng tự nhiên, một khía cạnh quan trọng trong quản lý tài nguyên rừng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực lâm nghiệp và sinh thái.