MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Cây Bương (họ tre nứa) còn có tên gọi khác như Mạy Púa, là một trong những loài tre có kích thước lớn nhất ở Việt Nam, chiều cao 15-20m, đường kính gốc 20-30cm, có vách dày chiều dài đốt từ 25-30cm, ít cành nhánh, khả năng cung cấp nguyên liệu cho công nghiêp chế biến rất cao. Thân Bương to lớn, dài chắc bền thường được dùng làm cột nhà, các dân tộc vùng cao dùng thân Bương làm máng dẫn nước cho sinh hoạt và phục vụ sản xuất, chế biến thay thế cho gỗ có hiệu qủa rất cao. Măng Bương ăn ngon có thể ăn tươi hoặc làm khô và măng chua được thị trường ưa chuộng do có vị đắng đặc biệt. Mặt dù là loài cây đa tác dụng, có giá trị kinh tế cao nhưng Bương vẫn chưa được quan tâm đúng mức.
Hiện nay diện tích rừng Bương tại xã Púng Bánh – Huyện Sốp Cộp – Tỉnh Sơn La đang bị thu hẹp, chất lượng giảm sút nghiêm trọng. Nguyên nhân do hiện tượng khai thác quá mức. Đặc biệt là việc khai thác măng với số lượng lớn vào mùa măng mọc. Mặt khác việc kinh doanh Bương chưa được chú trọng đầu tư nhiều vẫn theo hình thức quảng canh, dựa vào kinh nghiệm vốn có của người dân địa phương và điều kiện tự nhiên sẵn có nên năng suất không cao như giá trị vốn có của nó.
Đặc biệt việc phát triển và mở rộng diện tích trồng cây Bương rất khó khăn do nhân rộng giống bằng gốc và số lượng giống còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu nhân rộng mô hình. Đặc biệt ở vùng cao nhiều người ít biết đến giá trị của nó, họ sử dụng măng để làm thực phẩm cung cấp cho gia đình như những măng tre khác. Do vậy, không được chú trọng nhiều đến việc nhân giống để phát triển và mở rộng diện tích trồng. Nhiều hộ gia đình đã thay thế trồng bằng một loài tre khác là tre Đài Loan họ cho rằng nó cho năng suất cao.
Việc gây trồng n 2 Bương còn thiếu hướng dẫn kỹ thuật nhân giống để đáp ứng số lượng giống cho gây trồng nhân rộng. Tại khu vực chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về đặc điểm phân bố và sinh trưởng của cây Bương nhằm gây trồng và phát triển loài cây này, vậy nên em chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh trưởng của cây Bương tại xã Púng Bánh – Huyện Sốp Cộp – Tỉnh Sơn La”. Qua đó, góp phần hiểu biết về cây Bương và làm cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp kỹ thuật, cách chế biến và các chính sách hỗ trợ để phát triển loài cây này. Mục tiêu của đề tài 1.
Về lý luận - Xác định được đặc điểm phân bố và sinh trưởng của cây Bương 1. Về thực tiễn - Đề xuất được biện pháp kỹ thuật chăm sóc và phát triển của cây Bương tại xã Púng Bánh –Huyện Sốp cộp – Tỉnh Sơn La. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa lý luận: Nghiên cứu cơ sở lý luận về đặc điểm phân bố và sinh trưởng của cây Bương.
Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần hiểu biết về cây Bương và làm cơ sở khoa học để đề xuất giải pháp phát triển cây Bương. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Những nghiên cứu ở trên thế giới Cây Bương thuộc họ tre trúc. Tre là một tài nguyên Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) rất có giá trị, có tới hơn một nửa dân số thế giới liên quan với nhóm tài nguyên này.
Tre thuộc phân họ tre (Bambusoideae), họ Cỏ (Poaceae) với khoảng 1300 loài thuộc 70 chi phân bố trên toàn thế giới. Theo thống kê có 14 triệu ha rừng tre phân bố từ 51 độ vĩ Bắc đến 47 độ vĩ Nam đều có tre phân bố. Nhiều loài tre có đặc tính mọc thành rừng. Nước nhiều tre nhất là Trung Quốc với khoảng 50 chi và 500 loài và diện tích 7 triệu ha rừng tre.
Nước nhiều tre thứ 2 là Nhật Bản với 13 chi, trên 230 loài và diện tích 0,1 triệu ha rừng tre. Tiếp đó là các nước Ấn Độ, các nước Nam và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. [3] Tre phát triển chủ yếu ở các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và một số ít phát triển ở vùng ôn đới khu vực Đông Nam Châu Á bao gồm: Đông Nam và Tây Nam Trung Quốc, Đông Dương, Lục địa ấn Độ là nơi tập trung tre lớn nhất thế giới với diện tích lên tới 90% tổng diện tích rừng tre trên thế giới, khoảng 80% loài tre thế giới. Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ được đánh giá là những nước tốt nhất cho sản xuất và phát triển nguồn tài nguyên tre.
Sự phân bố tre trên thế giới, căn cứ vào sự phân bố về mặt địa lí của tre, thì sự phân bố tre trên thế giới được chia thành 3 khu vực gồm: Châu Á – Thái Bình Dương, Châu Mỹ và Châu phi. Tre khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, đây là khu vực phân bố tre lớn nhất thế giới từ 42 độ Nam tới 51 độ Bắc, phía Đông kéo dài ra biển Thái Bình Dương, còn phía tây thi kéo dài ra Tây Nam của Ấn Độ Dương phân bố n 4 khoảng 50 chi và 900 loài tre, chiếm 80% diện tích rừng tre nứa trên toàn thế giới.[10] Tre Khu vực Châu Mỹ, từ 47 độ Nam thuộc miền nam argentina tới 40 độ Bắc thuộc Đông nước Mỹ, có khoảng 270 loài. [10] Tre Khu vực Châu Phi, khu vực này chiếm tỉ lệ nhỏ về tre, từ 22 độ nam thuộc miền nam nước Mozambique tới 16 độ Bắc thuộc miền Đông nước Sudan, có khoảng 13 chi và 40 loài. Khu lục địa châu phi có một số loài tre bản địa và Đông Phi có 11 chi và 40 loài.
[10] Về mặt phân loại, cho đến nay việc phân loại tre vẫn chưa thực sự chính xác, nguyên nhân là do tính đa dạng về loài, cũng như đặc tính ra hoa không thường xuyên của nhiều loài tre. Năm 1868 Munro lần đầu tiên đã đưa ra hệ thống phân loại tre với 120 loài thuộc 21 chi, chúng được chia làm 3 nhóm. Cơ sở của hệ thống phân loại này là số lượng nhị hoa và cấu trúc quả. Late Bentham (1883) đưa cơ sở vào hệ thống phân loại của Munro và bổ sung thêm một số tiêu chuẩn khác như: Cấu trúc bông hoa, cụm hoa cũng như kiểu phát sinh hoa, để xây dựng bảng phân loại tre của mình với 4 nhóm phụ là: Arundinarieae, Bambuseae, Dendrocalameae và Melocanneae.
Đây là hệ thống phân loại tre phổ thông nhất và đặt nền móng cho các bước phát triển hoàn thiện việc phân loại tre sau này. Bước sang thế kỷ 20, Holttum (1946,1956) đã mở rộng và xây dựng hệ thống phân loại tre, dựa trên cơ sở chủ yếu là cấu trúc bầu nhụy, ông đã chia các chi thành 4 nhóm: Schizostachyum, Oxytenanthera, Bambusa – Dendrocalamus và Arundinaria. Năm 1986, Clayton và Renvoize đã đưa ra bảng phân loại với 49 chi của Bambusoideae và được chia ra 3 nhóm phụ là: Arundinarinae Benth, Bambussinae Presl và Melocanninae Reichenb. Cơ sở của hệ thống phân loại này là dựa trên các đề nghị của Holttum (1956), mà tiêu chuẩn căn bản là cấu trúc của bầu nhụy và các phần phụ của nó.
[7] n 5 Năm 1987, Soderstrom và Ellis đã đề nghị một hệ thống phân loại, dựa trên cơ sở các đặc điểm về cấu tạo giải phẫu lá, cấu trúc bông hoa, kiểu hoa và quả. Hai ông đã đưa ra 54 chi tre được sắp xếp trong 9 nhóm phụ và 5 chi chưa xác định chính xác. Theo Huberman(1959) Tre là một quần hợp sống thành cụm ở rừng ẩm thường xanh, rừng ẩm và rừng khô rụng lá. Nhưng thực tế các loài tre có tầm quan trọng trong đời sống của nhiều triệu dân địa phương.
Ở nhiều vùng nhiệt đới của Châu Á mức độ quan trọng của tre được xếp ngay sau gạo. Công dụng của tre rất đa dạng từ việc thỏa mãn nhu cầu thức ăn cho con người, đến việc sử dung trong xây dựng và sản xuất giấy… Theo Wang, K và C. (1994) tóm lược các hiểu biết về sinh thái và môi trường sống của tre là yêu cầu cơ bản để phát triển phương thức lâm sinh và khai thác bền vững nguồn tài nguyên nay. Thêm vào đó thông tin về sinh thái và quần thể cung cấp cơ sở cho những cải thiện về lâm sinh.
Tre có 2 loại thân rễ chính là thuộc theo cụm hoặc mọc đơn. Thân rễ là cấu trúc tự nhiên bền vững được sử dụng để phân loại tre. Tre nhiệt đới hầu hết thuộc hệ thống cụm và tre ôn đới thường mọc đơn dựa vào tiêu chí này tác giả phân rừng tre ở Yunnan Trung Quốc thành 3 dạng rừng tre ôn đới, rừng tre Á nhiệt đới và nhiệt đới. [7] Theo công bố về hiện trạng rừng toàn quốc của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn năm 2009, diện tích rừng gỗ là 8.
Như vậy, trong năm 2009 đã có thêm 29.202ha diện tích rừng này so với năm 2008. Tuy nhiên, diện tích rừng tre nứa bị thay đổi trong năm 2009 là : 11. Với diện tích như vậy sẽ là thách thức lớn cho việc cung cấp nguyên liệu cho khoảng 200 nhà máy như: Nhà máy giấy Bãi Bằng, nhà máy giấy Lửa Việt ở Phú Thọ, nhà máy giấy Sơn La, nhà máy giấy Sông Lam Nghệ An, nhà máy giấy Thái Nguyên… Ngày 21-2 Chính phủ đã ban hành chính sách khuyến khích phát triển ngành mây tre, trong đó có biện pháp n 6 miễn giảm thuế sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư đầu tư trồng rừng nguyên liệu mây, tre và áp dụng thuế suất nhập khẩu 0% đối với máy móc, thiết bị chuyên dùng cho sản xuất hàng mây tre trong nước chưa sản xuất được theo danh mục do Bộ Công thương ban hành. Quyết định này cũng nêu rõ việc hỗ trợ 100% kinh phí từ ngân sách nhà nước để thực hiện việc điều tra trữ lượng, diện tích các giống mây tre, ứng dụng công nghệ sinh học vào các khâu bảo quản, chế biến.Những nghiên cứu ở Việt Nam Việt Nam đứng thứ 4 thế giới sau Trung Quốc, Ấn Độ và Mianma về diện tích tre nứa.
Tre nứa bao gồm các loài thuộc phân họ tre (Bambusoideae), họ Hòa thảo (Poaceae).Với 194 loài thuộc 26 chi, trong đó có 80 loài đã tạm thời được định danh, còn các loài chưa có tên hoặc có các loài /phân loài mới. Theo dự đoán nếu được thống kê đầy đủ số loài tre của Việt Nam có thể lên 200-250 loài. Năm 2001 theo công bố của Chương trình Tổng kiểm kê rừng toàn quốc, Việt Nam có 789.221 ha rừng tre thuần loại, 702.