Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở nghiên cứu các đặc điểm ngoại hình và kích thước các chiều đo của gia cầm * Ngoại hình Các đặc điểm về ngoại hình của gia cầm là những biểu hiện đặc trưng cho phẩm giống, thể hiện khuynh hướng sản xuất và giá trị kinh tế của vật nuôi. Ngoại hình là một tính trạng chất lượng của gia cầm.
Đó là những đặc điểm bên ngoài của gia cầm có thể quan sát được như: màu lông, da, hình dáng, mào tích, … Các đặc điểm về ngoại hình của gia cầm đặc trưng cho giống, thể hiện khuynh hướng sản xuất và giá trị kinh tế của vật nuôi. Tính trạng ngoại hình - Sự phát triển của bộ lông: Lông là dẫn xuất của da, thể hiện đặc điểm di truyền của giống và có ý nghĩa quan trọng trong việc phân loại. Gà con mới nở có bộ lông tơ che phủ, trong quá trình phát triển lông tơ sẽ dần dần được thay thế bằng bộ lông cố định. - Tốc độ mọc lông là sự biểu hiện khả năng mọc lông sớm hay muộn, có liên quan chặt chẽ tới tốc độ sinh trưởng của gia cầm.
(1978) [4]), những gia cầm lớn nhanh thì có tốc độ mọc lông nhanh. (1978) [78], những alen quy định tốc độ mọc lông nhanh phù hợp với khả năng tăng trọng cao. và Cs (1970) [68], cho biết gà mái mọc lông đều hơn gà trống trong cùng một dòng và ảnh hưởng của hormone có tác dụng ngược với gen liên kết giới tính quy định tốc độ mọc lông. - Màu lông là do một số gen quy định phụ thuộc vào sắc tố chứa trong bào tương của tế bào.
Đặng Hữu Lanh và Cs (1999) [25] cho biết, màu sắc lông, da là mã hiệu của giống, đó là những tín hiệu để nhận dạng con giống. Màu sắc lông da là những chỉ tiêu trong chọn lọc gia cầm. Thông thường, màu sắc đồng nhất là giống thuần, trên cơ sở đồng nhất đó mà loang là không thuần, đã bị pha tạp. Màu sắc do một số ít gen kiểm soát nên có thể sử dụng để phân tích di truyền, dự đoán màu lông của đời sau trong chọn lọc.
Các giống gia cầm khác nhau có bộ lông khác nhau, sự khác nhau về màu sắc lông là do mức độ oxy hóa các chất tiền sắc tố melanin (Melanogene) trong các n 4 tế bào lông, nếu các chất sắc tố là nhóm lipocrom (Carotinoit) thì lông có màu vàng, xanh tươi hoặc màu đỏ. Nếu không có chất sắc tố thì lông có màu trắng. - Đầu: Cấu tạo của xương đầu được coi như có độ tin cậy cao nhất trong việc đánh giá đầu gia cầm. Da mặt và các phần phụ của đầu cho phép rút ra kết luận về sự phát triển của mô liên kết và mô đỡ.
Gà trống có ngoại hình đầu giống gà mái sẽ có tính sinh dục kém, gà mái có ngoại hình đầu của gà trống sẽ không cho năng suất cao, trứng thường không có phôi. - Mỏ và chân: + Mỏ là sản phẩm của da, được tạo thành từ lớp sừng (Stratumcorneum). Mỏ phải ngắn và chắc chắn. Gà có mỏ dài và mảnh thì khả năng sản xuất không cao.
Màu sắc của mỏ có nhiều loại: Vàng, đỏ, đen, hồng. Màu của mỏ thường phù hợp với màu của chân. Những giống gà da vàng thì mỏ cũng vàng, tuy nhiên ở gà mái thì màu sắc này có thể bị nhạt đi vào cuối thời kỳ đẻ trứng. + Chân: Những gà giống tốt phải có chân chắc chắn nhưng không được thô.
Chân gia cầm có 4 ngón, rất ít 5 ngón (Trần Kiên và Trần Hồng Việt, 1998) [23]. Chân thường có vảy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân và da. Gà có chân hình chữ bát, các ngón chân cong, xương khuyết tật không nên sử dụng làm giống. Chân gà thường có vuốt và cựa, cựa có vai trò cạnh tranh và đấu tranh sinh tồn của loài.
Gà có chân cao thường cho thịt thấp và phát dục chậm. - Mào và tích là đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp nên có thể phân biệt trống mái. Mào rất đa dạng về hình dạng, kích thước, màu sắc, có thể đặc trưng cho từng giống gà. Mào là dẫn xuất của da.
Theo Phan Cự Nhân (1971) [34], khi có mặt gen Ab gà sẽ có dạng mào hoa hồng, khi có mặt gen aB gà sẽ có dạng mào nụ và khi có mặt gen ab thì gà sẽ có dạng mào cờ. Dựa vào hình dạng, người ta phân ra các loại mào: mào đơn (mào cờ), mào hạt đậu, mào hoa hồng, mào nụ (mào sít)… (Nguyễn Mạnh Hùng và Cs, 1994) [16]. Ở gà trống sự phát triển mào và tích phản ánh sự thành thục sinh dục sớm hay muộn, còn ở gà mái nếu mào, tích phát triển không rõ ràng là dấu hiệu có ảnh hưởng xấu tới khả năng sinh sản. * Hình dáng và kích thước các chiều đo của cơ thể: Tùy mục đích sử dụng, các giống gia cầm được chia làm 3 loại thể hình: Hướng trứng, hướng thịt và kiêm dụng.
Gà hướng thịt thường có hình dáng cân đối, n 5 ngực sâu, chân chắc, tiết diện hình vuông hay chữ nhật. Gà hướng trứng lại có kết cấu thanh gọn, tiết diện hình tam giác. Theo tài liệu của Champer J. (1990) [65] thì kích thước các chiều đo có tương quan với sức sản xuất của gà Broiler.
Tác giả cũng cho biết độ lớn góc ngực, dài chân, dài đùi và đường kính ống chân có tương quan với khối lượng cơ thể. và Cs (1978) [78] cho biết tương quan giữa độ lớn góc ngực và khối lượng cơ thể từ 0,4 - 0,68 trung bình là 0,42. Cơ sở khoa học về sức sống và khả năng kháng bệnh Sức sống và khả năng kháng bệnh ở gia cầm là những tính trạng di truyền đặc trưng cho từng loài, giống, dòng, cá thể và được xác định bởi khả năng chống chịu những ảnh hưởng của dịch bệnh và ngoại cảnh môi trường, nó là yếu tố quan trọng giúp chăn nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao. Trong cùng một giống, sức sống của mỗi dòng khác nhau là khác nhau, các cá thể khác nhau thì khác nhau nhưng vẫn nằm trong giới hạn của phẩm giống.
Theo Lê Viết Ly (1995) [29] cho biết, động vật thích nghi tốt thể hiện ở sự giảm khối lượng cơ thể thấp nhất khi bị stress, có sức sinh sản tốt, sức kháng bệnh cao, sống lâu và tỷ lệ chết thấp. Khavecman (1972) [20] cho biết, sức sống được thể hiện ở thể chất và được xác định bởi tính di truyền, có thể chống lại những ảnh hưởng bất lợi của môi trường, cũng như ảnh hưởng khác của dịch bệnh. Sự giảm sức sống ở giai đoạn hậu phôi có thể do tác động của các gen nửa gây chết, nhưng chủ yếu là do tác động của môi trường (Brandsch H. Sức sống của vật nuôi được xác định thông qua khả năng chống đỡ bệnh tật, khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh.
Trong chăn nuôi người ta thường lấy tỷ lệ nuôi sống để đánh giá sức sống của vật nuôi trong giai đoạn khảo nghiệm, như giai đoạn nuôi từ sơ sinh đến khi giết mổ hoặc loại thải. (1990) [67] khi nghiên cứu về sức sống của gia cầm cho biết: sức sống được thể hện ở thể chất và được xác định trước hết bởi khả năng có tính di truyền ở cơ thể động vật chống lại những ảnh hưởng bất lợi của môi trường cũng như ảnh hưởng khác của dịch bệnh. Tỷ lệ nuôi sống phụ thuộc rất lớn vào yếu tố dinh dưỡng, giống, kỹ thuật, chăm sóc nuôi dưỡng, thời tiết khí hậu, mùa vụ,… Ngoài các yếu tố trên thì vấn đề nhiễm bệnh của gia cầm cũng là yếu tố cơ bản dẫn đến thất bại trong chăn nuôi. Gia n 6 cầm rất mẫn cảm với dịch bệnh, khi mắc bệnh thường lây lan nhanh và dẫn đến tỷ lệ chết cao, dễ kế phát các bệnh khác, đặc biệt bệnh truyền nhiễm.
và Cs (1954) [69]; Bransd H. Tuy nhiên, theo Lerner J. (1938) [74], hệ số di truyền về sức sống của gà là 0,13; còn theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [42] lại cho rằng hệ số di truyền về sức sống của gà là 0,33. Khi điều kiện sống thay đổi (thức ăn, thời tiết, khí hậu, quy trình chăm sóc nuôi dưỡng…) gà lông màu có khả năng thích nghi tốt với môi trường sống (Phan Cự Nhân và Trần Đình Miên, 1998) [35].
và Cs (1954) [69] đã tính được hệ số di truyền của sức sống là 0,66. (1990) [67] cho rằng, hệ số di truyền của sức kháng bệnh là 0,25. Theo Trần Long và Cs (1996) [27], tỷ lệ nuôi sống của gà Ri giai đoạn gà con (0 - 6 tuần tuổi) đạt 93,3 %. Nguyễn Đăng Vang và Cs (1997) [58] cho biết tỷ lệ nuôi sống của gà Ri giai đoạn gà con (0 - 9 tuần tuổi); gà hậu bị (10 - 18 tuần tuổi) và gà sinh sản (19 - 23 tuần tuổi) đạt tương ứng là 92,11 %; 96 - 97,22 % và 97,25 %.
Sức đề kháng ở các loài giống, thậm chí là các cá thể khác nhau là khác nhau. Theo kết quả nghiên cứu của Trần Đình Miên và Cs (1992) [30], Lê Thị Nga và Cs (2000) [34], ở giai đoạn 1 - 16 tuần tuổi; tỷ lệ nuôi sống của gà Ri là 96,5 - 100 %; của gà Ác là 88,28 %; của gà Mía là 92,33 - 93,9 %. (1996) [72] cho rằng: tỷ lệ nuôi sống và sức kháng bệnh phụ thuộc vào giống, dòng, tính biệt. Con trống có sức đề kháng mạnh hơn con mái do có sự tác động khác nhau của hormone.
Nêu ra mối quan hệ giữa các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu đối với sức sống và năng suất của gà, Ngô Giản Luyện (1994) [28] đã xác định được, ở gà Hybro nuôi tại Việt Nam thì những gà mái có số lượng bạch cầu cao ở độ tuổi 60 và 110 ngày sẽ tương ứng với sức sống và sản lượng trứng cao. Lê Xuân Đồng, Nguyễn Thượng Trữ (1988) [10] cho rằng sức sống và khả năng kháng bệnh còn phụ thuộc vào thức ăn, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng cũng như tuổi của gia cầm. n 7 Trong chăn nuôi, để nâng cao tỷ lệ nuôi sống, sức đề kháng, giảm tổn thất do bệnh tật gây ra, bên cạnh việc cần tiến hành các biện pháp phòng bệnh thú y và chăm sóc, nuôi dưỡng phù hợp với từng loại vật nuôi thì một vấn đề hết sức quan trọng là cần chọn nuôi giống vật nuôi có khả năng thích nghi cao. Vấn đề này chỉ có thể xác định được thông qua các thử nghiệm trong thực tế.