CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sơ lược về hệ thống phân loại gà và một số đặc điểm của các giống gà nghiên cứu. Sơ lược về nguồn gốc và vị trí phân loại của gà nhà Hiện nay, gà là một trong những vật nuôi phổ biến và được nuôi ở nhiều vùng trên toàn thế giới. Tuy nhiên, nguồn gốc của gà nuôi hiện chưa được thống nhất và vẫn đang được tranh cãi giữa thuyết đơn nguyên và đa nguyên.
Thuyết đơn nguyên được khởi xướng dựa trên các nghiên cứu của Darwin (1868), cho rằng gà nhà có chung một nguồn gốc và xuất phát từ giống Gallus. Trong giống này có 4 loài gà rừng khác nhau, phổ biến rộng rãi nhất là loài Gallus bankiva hay còn có tên là Gallus gallus, thường gặp ở rừng Đông Nam Á, Ấn Độ, Myanmar, Malaysia và vài nước khác. Loài Gallus lapayette lesson gặp ở vùng rừng Seilon và còn có tên gọi là gà rừng Seilon. Loài thứ ba là Gallus sonerati, còn gọi là gà rừng màu xám, thường gặp ở vùng rừng núi Ấn Độ.
Một loài khác nữa là Gallus varius shaw, phổ biến ở Java nên còn gọi là gà rừng Java. Khi nghiên cứu nguồn gốc chung của gà nhà từ các loài này, Darwin đã khẳng định Gallus bankiva là tổ tiên chung nhất. Kết luận này càng được củng cố bởi nhiều đặc điểm tương đồng giữa giống Gallus và gà nhà về hình thái, cấu tạo giải phẫu các nội quan, về tiếng gáy cũng như tập tính hoạt động. Thuyết đa nguyên dựa trên những nghiên cứu gần đây về một số tính trạng của gà, cho rằng gà nhà ngày nay bắt nguồn từ các loại gà hoang khác nhau, một trong số đó là gà Gallus gallus.
Tuy nhiên, thuyết này xuất phát từ những nguồn thông tin mới, do đó cần phải thẩm định rõ ràng. Theo nhiều tài liệu, gà rừng được thuần hoá và nuôi dưỡng tại Ấn Độ khoảng 3200 năm trước Công nguyên và tại Trung Quốc, Ai Cập khoảng 1400 năm trước Công nguyên. Ban đầu, gà được nuôi chủ yếu để chọi hơn là vì mục đích thực phẩm. Sau khi được đưa sang Châu Âu vào khoảng thế kỷ XVIII - XIX, nhờ tiến bộ của công tác chọn giống, các giống gà bản địa của Châu Á đã được lai tạo thành những giống cho năng suất cao hơn.
Ở Việt Nam, gà rừng được thuần hoá và nuôi sớm nhất ở vùng Vĩnh Phú, Hà Bắc, Hà Tây … Từ giống gà nuôi ban đầu là tiền thân của giống gà Ri hiện nay, nhân dân ta đã tạo được nhiều giống gà: gà Mía, gà Ác, gà Ri, gà Tre, gà Đông Tảo … Theo Nguyễn Ân (1983) [3] và nhiều tác giả, trong hệ thống phân loại sinh giới, gà nhà có vị trí phân loại như sau: n 4 Giới Động vật (Animal) Ngành Động vật có xương sống (Chordata) Lớp Chim (Aves) Bộ Gà (Galliformes) Họ Trĩ (Phasianidae) Giống Gallus Loài Gallus gallus Phân loài Gallus gallus domesticus 1. Đặc điểm của các giống gà nghiên cứu * Giống gà Hồ: Là giống gà có nguồn gốc từ vùng Hồ, nay là làng Lạc Thổ, thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Chính nơi đây gà Hồ đã được tạo ra, tồn tại và phát triển qua nhiều thế kỷ. Sự hình thành và phát triển của gà Hồ gắn liền với tập quán cổ truyền, với nền văn hiến vùng quê Kinh Bắc cổ kính * Giống gà Mía: Là giống gà truyền thống được nuôi giữ nhiều đời ở xã Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội.
Gà Mía là giống gà thịt nổi tiếng từ xưa đến nay, là một trong các giống gà nội địa ở nước ta có khối lượng cơ thể thuộc loại hình to, nó phù hợp với tập quán nuôi gà to để cúng tế và có thể nói nuôi chăn thả tốt trong nông hộ. Sức kháng bệnh tốt cũng là một tính trạng quý của gà Mía nên được nhân dân địa phương thích nuôi. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Bản chất di truyền của tính trạng Tất cả các đặc điểm của giống như: Các đặc tính sinh học, ngoại hình, tính năng sản suất…đều là tính trạng di truyền số lượng và chất lượng.
Tính trạng chất lượng được quy định bởi một hay vài cặp gen có hiệu ứng lớn và ít chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường. Theo Nguyễn Văn Thiện và cs (1998) [35], đối với một số đặc điểm sinh học như: Màu lông, hình dáng cơ thể, hình dáng mào, thành phần và chất lượng thịt thuộc các tính trạng chất lượng di truyền tuân theo các đinh luật của Mendel. Các tính trạng số lượng đó là những tính trạng đo lường được, nó bao gồm những tính trạng như: Khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo, tốc độ tăng trọng, sản lượng trứng… Các tính trạng này được quy định bằng nhiều cặp gen có hiệu ứng nhỏ, chúng được di truyền cho đời sau theo các mức độ khác nhau. Sự biểu hiện kiểu hình của các tính trạng số lượng chịu sự tác động rất lớn của ngoại cảnh.
Mối quan hệ này được thể hiện trong biểu thức: n 5 P=G+E Trong đó: P: Giá trị kiểu hình của các tính trạng số lượng G: Giá trị kiểu gen E: Sai lệch môi trường Nói cách khác: Trong điều kiện môi trường nhất định thì các kiểu gen khác nhau sẽ cho những khả năng sản xuất khác nhau. Trái lại, cùng một kiểu gen nhưng trong những điều kiện môi trường khác nhau sẽ cho năng lực sản xuất khác nhau. Đặc điểm ngoại hình Theo Đặng Hữu Lanh và cs (1999) [14] màu sắc lông, da là mã hiệu của giống, một tín hiệu để nhận dạng con giống. Màu sắc da, lông là một chỉ tiêu cho chọn lọc.
Màu sắc do một số ít gen kiểm soát nên có thể sử dụng để phân tích di truyền dự đoán màu của đời sau trong chọn lọc. Bộ lông: Lông là dẫn xuất của da, thể hiện đặc điểm di truyền của giống và có ý nghĩa quan trọng trong việc phân loại. Khi mới nở, gia cầm có lông tơ che phủ, trong quá trình phát triển lông tơ dần dần được thay thế bằng lông khác. Màu lông do một số gen quy định phụ thuộc vào sắc tố chứa trong bào tương của tế bào.
Lông gia cầm có màu sắc khác nhau là do mức độ oxy hóa các chất tiền sắc tố Melanin trong các tế bào lông. Nếu các chất sắc tố là nhóm Lipocrom thì lông có màu vàng, xanh tươi hoặc đỏ, nếu không có chất sắc tố thì lông có màu trắng. Thông thường màu sắc đồng nhất là giống thuần, nếu gà có màu lông loang thì đã bị pha tạp, vì vậy màu sắc lông là chỉ tiêu chọn lọc giống. Chân: Gia cầm có 4 ngón, cổ và bàn.
Ngón chân thường có vẩy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân và da. Chân thường có vuốt và cựa. Cựa có vai trò cạnh tranh sinh sản và đấu tranh sinh tồn của loài. Mào: Là đặc điểm sinh dục thứ cấp nên có thể phân biệt trống, mái.
Mào gà rất đa dạng cả về hình dạng, kích thước, màu sắc, có thể đặc trưng cho từng giống. Theo hình dạng mào người ta phân biệt các loại: Mào cờ (mào đơn), mào hạt đậu, mào hoa hồng, mào nụ. Sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng 1. Khái niệm sinh trưởng Trần Đình Miên và cs (1975) [25] đã cho rằng: Đứng về phương diện sinh học thì sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa.
n 6 Theo Lee và Gatner (1898): Sự sinh trưởng, trước hết là kết quả của sự phân chia tế bào, tăng thể tích, tăng các chất ở mô tế bào để tạo nên sự sống, trong đó tăng số lượng và tăng thể tích tế bào là quan trọng nhất (trích theo Trần Đình Miên và cs 1992) [24] Mozan (1977) (trích theo Chamber, J. R, 1990) [47] đã định nghĩa: “Sinh trưởng là tổng hợp sự sinh trưởng của các bộ phận như thịt, xương, da. Những bộ phận này không những khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng”. Khái quát hơn, Trần Đình Miên và cs (1995) [26] đã định nghĩa đầy đủ như sau: “Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể của con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước”.
Cùng với quá trình sinh trưởng, các tổ chức và cơ quan của cơ thể luôn luôn phát triển hoàn thiện chức năng sinh lý của mình dẫn đến phát dục. Tóm lại sinh trưởng phải trải qua 3 giai đoạn đó là: - Phân chia để tăng khối lượng tế bào - Tăng thể tích tế bào - Tăng thể tích giữa các tế bào Về mặt sinh học, sinh trưởng của gia cầm là quá trình tổng hợp protein thu nhận từ bên ngoài chuyển hóa thành protein đặc trưng cho từng cơ thể của từng giống, dòng làm cho cơ thể tăng lên về khối lượng và kích thước. Ở cơ thể gia cầm, sự tăng trưởng được tính ở hai thời kỳ là thời kỳ hậu phôi và thời kỳ trưởng thành. Tất cả các đặc tính của gia cầm như ngoại hình, thể chất, sức sản xuất đều không phải sẵn có trong tế bào sinh dục hoặc trong phôi đã có đầy đủ khi hình thành mà chúng được hoàn chỉnh trong suốt quá trình sinh trưởng.
Các đặc tính ấy tuy là sự tiếp tục thừa hưởng đặc tính di truyền của bố mẹ nhưng chúng hoạt động manh hay yếu còn do tác động của môi trường. Khi nghiên cứu về sinh trưởng, không thể không nói đến phát dục. Phát dục là quá trình thay đổi về chất, tức là sự tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của các bộ phận của cơ thể. Các thí nghiệm cổ điển của Hammond (1959) đã chứng minh sự sinh trưởng của các mô cơ được diễn biến theo trình tự sau: - Hình thành hệ thống chức năng tiêu hóa - nội tiết - Hình thành hệ thống khung xương - Hình thành và phát triển hệ thống cơ bắp - Tích lũy mỡ Dựa vào kết quả nghiên cứu của Hammond, thông qua chăn nuôi gia súc, gia cầm, ta thấy được rằng: Trong giai đoạn đầu của sinh trưởng, thức ăn dinh dưỡng được n 7 dùng tối đa cho sự phát triển của xương, mô cơ và một phần rất ít tạo nên mỡ.
Đến giai đoạn cuối của sự sinh trưởng, nguồn dinh dưỡng vẫn tiếp tục sử dụng nhiều để cấu tạo hệ thống xương, cơ, nhưng lúc này hai hệ thống này đã giảm bớt tốc độ phát triển. Càng ngày con vật càng già và chất dinh dưỡng chuyển sang tích lũy mỡ.