Tổng quan luận án
Chấn thương hàm mặt là một cấp cứu ngoại khoa thường gặp trong thực hành lâm sàng. Sự gia tăng nhanh chóng của các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ trong những thập kỷ gần đây làm gia tăng đáng kể số lượng và mức độ phức tạp của các tổn thương xương hàm mặt, biểu hiện qua tình trạng gãy nhiều xương, gãy vụn và gãy nhiều tầng mặt đồng thời. Trong các hình thái tổn thương, gãy liên tầng mặt là thể gãy phức tạp nhất. Tổn thương này thường đi kèm vết thương rách nát mô mềm và thiếu hổng xương, dẫn đến những biến dạng nghiêm trọng sau chấn thương như sai lệch khớp cắn và biến dạng mặt lõm hình đĩa. Do hình thành từ lực tác động cơ học rất lớn, gãy liên tầng mặt thường phối hợp với các chấn thương nặng đe dọa tính mạng như chấn thương sọ não, chấn thương ngực, chấn thương bụng kín hoặc gãy xương chi thể. Việc phẫu thuật kết hợp xương vùng hàm mặt thường phải trì hoãn cho đến khi các thương tổn đe dọa tính mạng được hồi sức ổn định.
Về tần suất xuất hiện, các y văn quốc tế ghi nhận chấn thương gãy liên tầng mặt chiếm tỷ lệ khoảng 4% đến 10% tổng số các trường hợp chấn thương gãy xương hàm mặt theo công bố của William Curtis và cộng sự; tỷ lệ này được ghi nhận tại Hàn Quốc là khoảng 6,59%. Tại Việt Nam, trước thời điểm công trình này được thực hiện, chưa có nghiên cứu chính thức và toàn diện nào đánh giá cụ thể về đặc điểm lâm sàng, hình ảnh X-quang cũng như hiệu quả điều trị, biến chứng và di chứng của thể gãy liên tầng mặt. Xuất phát từ thực tế đó, luận án tiến sĩ chuyên ngành Răng – Hàm – Mặt (mã số 9720501) của nghiên cứu sinh Phan Duy Vĩnh tại Viện Nghiên cứu Khoa học Y Dược Lâm sàng 108, dưới sự hướng dẫn của PGS. Vũ Ngọc Lâm và TS. Nguyễn Quang Đức, đã được triển khai nhằm giải quyết hai mục tiêu cụ thể:
- Mô tả đặc điểm lâm sàng, X-quang chấn thương gãy liên tầng mặt.
- Đánh giá kết quả điều trị, đề xuất chiến thuật xử trí chấn thương gãy liên tầng mặt.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là toàn bộ bệnh nhân được chẩn đoán chấn thương gãy liên tầng mặt và được điều trị phẫu thuật tại Khoa Phẫu thuật Hàm mặt và Tạo hình thuộc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Phạm vi nghiên cứu về không gian được giới hạn tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108; phạm vi thời gian thu thập dữ liệu lâm sàng từ tháng 05/2017 đến tháng 05/2020, cùng thời gian theo dõi dọc đánh giá kết quả điều trị xa đến 6 tháng sau phẫu thuật.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các công trình nghiên cứu trên thế giới đã tiếp cận chấn thương gãy liên tầng mặt dưới nhiều góc độ phân loại và chiến thuật phẫu thuật:
- Phân loại học: Về mặt lý thuyết, phần lớn các tác giả định nghĩa gãy liên tầng điển hình là tổn thương đồng thời cả ba tầng mặt: tầng mặt trên, tầng mặt giữa và tầng mặt dưới (gồm gãy Le Fort, phức hợp mũi - sàng - ổ mắt, phức hợp gò má và xương hàm dưới). Follmar và Erdmann (2007) đã chia khối xương sọ mặt thành 4 vùng giải phẫu gồm vùng trán (F), tầng mặt giữa trên (U), tầng mặt giữa dưới (L) và tầng mặt dưới (M); từ đó định nghĩa gãy liên tầng là mô hình gãy liên quan đến ít nhất 3/4 vùng giải phẫu trên, phân thành 5 kiểu gãy: FULM, FUL, FUM, ULM và FLM. Khảo sát của Tang và cộng sự (2009) trên 68 bệnh nhân ghi nhận kiểu gãy ULM chiếm tỷ lệ cao nhất (52,94%). Seong Back Jang (2020) và Chengzhong Lin (2021) cũng ghi nhận thể ULM chiếm tỷ lệ cao nhất (47,47%), trong khi thể FUM chiếm tỷ lệ thấp nhất (1,01%).
- Chiến thuật và trình tự phẫu thuật: Manson (1995) nhấn mạnh yêu cầu can thiệp sớm ngay khi có thể, ưu tiên chỉnh sửa khớp cắn đúng và áp dụng trình tự phẫu thuật "từ dưới lên trên", coi trình tự "từ trên xuống dưới" là phương án thay thế. Tulio (2000) can thiệp 9 bệnh nhân gãy liên tầng có kèm gãy lồi cầu ngoài bao khớp theo trình tự "từ dưới lên trên - từ ngoài vào trong", ghi nhận phục hồi khớp cắn và thẩm mỹ khuôn mặt. D. Rabbiosi (2012) phẫu thuật 10 bệnh nhân theo trình tự "từ dưới lên trên - từ ngoài vào trong", đạt sự cân đối khuôn mặt trên lâm sàng và X-quang. Yang và cộng sự (2012) nghiên cứu trên 107 bệnh nhân, áp dụng trình tự "từ dưới lên trên - từ ngoài vào trong" và chỉ rõ trình tự này không phù hợp khi xương hàm dưới có khuyết hổng xương lớn. Ramanujam (2013) nghiên cứu 15 bệnh nhân, thực hiện bộc lộ xương theo trình tự "từ dưới lên trên - từ trong ra ngoài" và cố định theo trình tự "từ dưới lên trên - từ ngoài vào trong". Degala và cộng sự (2015) so sánh 11 bệnh nhân nam điều trị theo hai hướng tiếp cận "từ dưới lên trên - từ trong ra ngoài" (5 bệnh nhân) và "từ trên xuống dưới - từ ngoài vào trong" (6 bệnh nhân), ghi nhận kết quả tương tự nhau giữa hai nhóm. Tổng quan hệ thống của Padmasree B Patowary và cộng sự từ 6 nghiên cứu can thiệp kết luận rằng trình tự "từ dưới lên trên - từ ngoài vào trong" là lựa chọn ưu tiên khi có gãy xương hàm dưới, trong khi hướng tiếp cận "từ trên xuống dưới" phù hợp hơn khi xương hàm dưới vỡ nát. Justin Pisano (2019) khẳng định mục tiêu cốt lõi là tái lập chiều cao, chiều rộng, độ nhô và sự cân xứng khuôn mặt dựa trên việc khôi phục hệ thống xà ngang và trụ dọc với sự hỗ trợ của chụp cắt lớp vi tính.
- Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam: Dương Ngọc Tuyển (2020) nghiên cứu phẫu thuật 30 bệnh nhân gãy kết hợp xương hàm trên và xương hàm dưới, áp dụng chiến thuật "từ trên xuống dưới" khi xương hàm trên gãy đơn giản hơn và "từ dưới lên trên" khi xương hàm dưới đơn giản hơn, đạt tỷ lệ kết quả tốt 88,89% sau 6 tháng.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết là sự thiếu vắng một công trình nghiên cứu lâm sàng hoàn chỉnh tại Việt Nam đánh giá hệ thống về đặc điểm thương tổn lâm sàng, giá trị của chụp cắt lớp vi tính đa dãy dựng hình không gian ba chiều, quy trình lựa chọn trình tự nắn chỉnh cố định xương, cũng như phân tích các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị gần, kết quả xa sau 6 tháng và các biến chứng, di chứng thường gặp ở bệnh nhân gãy liên tầng mặt.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng trên các cơ sở lý thuyết giải phẫu - cơ sinh học và phương pháp luận chẩn đoán hình ảnh:
- Cơ sở giải phẫu và cơ sinh học hệ xương sọ mặt: Khối xương mặt liên kết với khối sọ não qua các khớp bất động (ngoại trừ khớp thái dương hàm). Tầng mặt giữa cấu tạo từ các xương mỏng, được gia cố bởi hệ thống trụ dọc truyền lực nhai lên nền sọ (gồm trụ nanh, trụ gò má, trụ chân bướm - khẩu cái) và hệ thống xà ngang liên kết (gồm bờ trên ổ mắt, bờ dưới ổ mắt, xà sau nền sọ, mỏm huyệt răng và khẩu cái cứng). Các đường gãy thường đi qua các vùng xương yếu nằm xen kẽ giữa các xà và trụ. Xương hàm dưới là xương động duy nhất, đảm nhận chức năng chịu lực uốn cong nhờ lớp vỏ xương dày ở bờ dưới và vùng cằm, kết hợp với các mào xương truyền lực (mào cổ lồi cầu, mào thái dương, đường chéo ngoài, đường chéo trong).
- Các mốc giải phẫu cốt lõi trong nắn chỉnh (theo Michael Miloro và cộng sự): Bao gồm cung răng (định vị khớp cắn), xương hàm dưới (tái lập chiều cao và chiều rộng phía sau), đường khớp bướm - gò má (mốc định vị phức hợp gò má và ổ mắt) và vùng gian góc mắt trong (tái lập chiều rộng tầng mặt giữa).
- Cơ chế chấn thương: Luận án phân tích cơ chế gãy xương hàm trên theo Le Fort I, II, III; cơ chế vỡ sàn ổ mắt gián tiếp do tăng áp lực thủy tĩnh (Blow-out) hoặc trực tiếp do truyền lực theo thành xương; cơ chế chấn thương phức hợp gò má dựa trên cấu trúc 4 chân; cơ chế gãy lồi cầu xương hàm dưới theo 3 phân loại động học của Lindahl (1977).
- Khung phân loại: Ứng dụng tiêu chuẩn phân loại của Follmar và Erdmann chia mặt thành 4 vùng (F, U, L, M) và xác định gãy liên tầng khi thương tổn xuất hiện từ 3 vùng trở lên.
Về phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, can thiệp lâm sàng, theo dõi dọc không đối chứng.
- Cỡ mẫu và chọn mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, thu nhận toàn bộ bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn trong khoảng thời gian từ tháng 05/2017 đến tháng 05/2020 tại Khoa Phẫu thuật Hàm mặt và Tạo hình - Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Cỡ mẫu thu thập được là n = 48 bệnh nhân.
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân chấn thương gãy liên tầng mới (chưa qua xử trí can thiệp nắn chỉnh kết xương); tổn thương gãy xương ít nhất 3/4 vùng hàm mặt theo phân loại Follmar; các tổn thương phối hợp đe dọa tính mạng đã được điều trị ổn định; có hình ảnh chẩn đoán gãy liên tầng mặt trên phim chụp cắt lớp vi tính đa dãy; có chỉ định và đồng ý thực hiện phẫu thuật nắn chỉnh kết xương.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân được chỉ định điều trị bảo tồn do không đủ điều kiện phẫu thuật; hồ sơ bệnh án không đầy đủ dữ liệu nghiên cứu.
- Nguồn tư liệu và công cụ can thiệp: Hệ thống bệnh án lâm sàng; phim chụp cắt lớp vi tính đa dãy (CLVT đa dãy dựng hình không gian ba chiều, khảo sát trên các lát cắt ngang - axial, đứng ngang - coronal, đứng dọc - sagittal); bộ dụng cụ phẫu thuật hàm mặt chuyên dụng; hệ thống nẹp vít nhỏ (miniplate) cố định xương; cung móc và dây chun cố định liên hàm.
- Tiêu chí đánh giá: Đánh giá kết quả điều trị gần tại thời điểm ra viện và kết quả điều trị xa tại thời điểm 6 tháng sau phẫu thuật dựa trên các tiêu chí: giải phẫu xương trên phim X-quang, tương quan khớp cắn, biên độ há miệng, mức độ đối xứng và thẩm mỹ khuôn mặt, tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ, các di chứng chức năng - thẩm mỹ và tỷ lệ cần phẫu thuật thì hai.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này trình bày toàn diện các y văn về giải phẫu, cơ chế tổn thương, phân loại, triệu chứng học và chiến thuật điều trị chấn thương gãy liên tầng mặt:
- Phân tích chi tiết hệ thống sọ não, sọ mặt và đặc điểm cơ sinh học của hệ thống trụ dọc (trụ nanh, trụ gò má, trụ chân bướm - khẩu cái) cùng hệ thống xà ngang (bờ trên ổ mắt, bờ dưới ổ mắt, xà sau nền sọ, mỏm huyệt răng và khẩu cái cứng). Mô tả đặc điểm chịu lực của xương hàm dưới với cấu trúc vỏ xương dày ở bờ dưới và hướng sắp xếp đan chéo của các bè xương vùng cằm.
- Làm rõ vai trò định hướng của các mốc giải phẫu quan trọng: cung răng, xương hàm dưới, đường khớp bướm - gò má và khoảng cách gian góc mắt trong.
- Khảo sát các cơ chế tổn thương: cơ chế gãy Le Fort I, II, III; cơ chế vỡ sàn ổ mắt gián tiếp do tăng áp lực thủy tĩnh (Blow-out) và truyền lực trực tiếp; cơ chế tổn thương phức hợp gò má 4 chân; cơ chế gãy cằm, thân, góc hàm và lồi cầu xương hàm dưới theo Lindahl (1977).
- Hệ thống hóa triệu chứng lâm sàng: sưng nề, tụ máu, gián đoạn xương, biến dạng xương, cử động bất thường, gián đoạn cung răng, sai khớp cắn, há miệng hạn chế; các dấu hiệu tổn thương mắt (thâm tím mi mắt, tụ máu kết mạc, nhìn đôi, hạn chế vận nhãn, lồi/lõm mắt, giảm thị lực); các dấu hiệu chảy máu (mũi, miệng, tai); thương tổn thần kinh (thần kinh V2 dưới ổ mắt, thần kinh V3 răng dưới, thần kinh VII gây dấu hiệu Charles Bell dương tính, thần kinh I, II).
- Đánh giá giá trị các phương pháp chẩn đoán hình ảnh: phim Hirtz, Blondeau, mặt thẳng, toàn cảnh (Panorama) và phim chụp cắt lớp vi tính đa dãy (khảo sát chi tiết 4 nhóm tổn thương trên lát cắt axial, 2 nhóm trên lát cắt coronal, lát cắt sagittal và dựng hình 3D).
- Phân tích các nguyên tắc điều trị: cấp cứu hồi sức, kiểm soát đường thở (nội khí quản mũi, miệng, dưới cằm, mở khí quản), thời điểm phẫu thuật tối ưu (trong tuần đầu, tránh kéo dài quá 2 tuần); các đường rạch bộc lộ (đường Coronal, mi trên, mi dưới, ngách lợi trên/dưới, trước tai, sau hàm dưới); phân tích cơ sở và hạn chế của hai trình tự can thiệp kinh điển: "từ dưới lên trên - từ trong ra ngoài" và "từ trên xuống dưới - từ ngoài vào trong"; nhận diện cơ chế hình thành các biến chứng lép gò má, tăng chiều rộng mặt, lõm mắt và cắn hở răng trước.
- Điểm lại tình hình điều trị gãy liên tầng mặt qua các nghiên cứu của Manson (1995), Tulio (2000), Tang (2009), Yang (2012), D. Rabbiosi (2012), Ramanujam (2013), Degala (2015), Padmasree B Patowary, Justin Pisano (2019) và Dương Ngọc Tuyển (2020).
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả thiết kế và các bước triển khai nghiên cứu:
- Thiết kế nghiên cứu: Tiến cứu, can thiệp lâm sàng, theo dõi dọc không đối chứng trên 48 bệnh nhân tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 05/2017 đến tháng 05/2020.
- Tiêu chuẩn tuyển chọn dựa trên thương tổn gãy xương ít nhất 3/4 vùng theo Follmar, đã ổn định chức năng sống, có phim cắt lớp vi tính đa dãy và được phẫu thuật kết hợp xương. Tiêu chuẩn loại trừ gồm các trường hợp điều trị bảo tồn hoặc hồ sơ bệnh án không đầy đủ.
- Quy trình nghiên cứu: Bệnh nhân được khám lâm sàng toàn diện, đánh giá các tổn thương phối hợp, chụp cắt lớp vi tính đa dãy hàm mặt dựng hình 3D.
- Quy trình điều trị phẫu thuật: Thiết lập kiểm soát đường thở thích hợp; bộc lộ ổ gãy qua các đường rạch tương ứng; nắn chỉnh các đoạn xương gãy về đúng vị trí giải phẫu; thực hiện cố định cứng chắc bằng nẹp vít nhỏ dựa trên việc xác lập "khối vững chắc"; kiểm tra và tái lập tương quan khớp cắn đúng; phối hợp cố định hai hàm bằng cung móc và dây chun.
- Thu thập và theo dõi chỉ số: Ghi nhận thời gian chờ mổ, thời gian nằm viện, số lượng đường mổ, phương pháp cố định xương từng tầng mặt; đánh giá kết quả điều trị gần khi xuất viện và kết quả điều trị xa sau 6 tháng theo các tiêu chí giải phẫu, khớp cắn, vận động hàm và thẩm mỹ; kiểm soát các biến chứng, di chứng và tỷ lệ phẫu thuật thì hai; tuân thủ các quy định về đạo đức nghiên cứu y sinh học.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Nội dung kết quả nghiên cứu được tác giả trình bày qua hệ thống 29 bảng số liệu, 3 biểu đồ và các hình ảnh lâm sàng, X-quang:
- Đặc điểm chung và dịch tễ học: Đánh giá phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi và giới tính (nam giới chiếm đa số, tập trung ở độ tuổi lao động); nguyên nhân chấn thương hàng đầu là tai nạn giao thông; ghi nhận các chấn thương phối hợp thường gặp (chấn thương sọ não, chấn thương chi thể, chấn thương ngực, bụng); ghi nhận thời gian chờ mổ và thời gian nằm viện trung bình của bệnh nhân.
- Đặc điểm thương tổn lâm sàng và X-quang: Ghi nhận tỷ lệ các triệu chứng lâm sàng gồm sưng nề, biến dạng khuôn mặt, sai lệch khớp cắn, tê bì vùng mặt, gián đoạn bờ xương và chảy máu; phân loại bệnh nhân theo các thể gãy liên tầng Follmar (Biểu đồ 3.1) với tỷ lệ cao của thể ULM; thống kê số đường gãy tại từng tầng mặt (Biểu đồ 3.2); xác định đặc điểm gãy xương hàm dưới (vị trí cằm, góc hàm, cành ngang, lồi cầu), gãy tầng mặt giữa (xương hàm trên Le Fort I, II, III, gãy dọc khẩu cái, phức hợp gò má - cung tiếp, phức hợp mũi - sàng - ổ mắt) và gãy tầng mặt trên (thành trước, thành sau xoang trán, trần ổ mắt).
- Can thiệp phẫu thuật: Thống kê tỷ lệ áp dụng các trình tự điều trị (chủ yếu là trình tự "từ dưới lên trên - từ trong ra ngoài" hoặc "từ trên xuống dưới - từ ngoài vào trong"); tỷ lệ xác lập "khối vững chắc" tại xương hàm dưới hoặc xương hàm trên; thống kê số lượng và các loại đường mổ được sử dụng (đường rạch Coronal, ngách lợi, bờ mi); phương pháp cố định xương tầng mặt trên (Biểu đồ 3.3), tầng mặt giữa và tầng mặt dưới bằng hệ thống nẹp vít nhỏ; phương pháp và thời gian cố định hai hàm.
- Đánh giá kết quả điều trị và biến chứng: Đánh giá kết quả điều trị gần khi ra viện và kết quả điều trị xa sau 6 tháng theo các mức độ tốt, khá, trung bình, kém; phân tích mối liên quan giữa kết quả điều trị chung với phương pháp phẫu thuật và phương pháp cố định hàm; ghi nhận tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ; thống kê các di chứng chức năng và thẩm mỹ tại thời điểm ra viện và sau 6 tháng (lép gò má, cắn hở, sẹo xấu, hạn chế vận động hàm); xác định tỷ lệ bệnh nhân phải trải qua phẫu thuật thì hai.
Bảng tổng hợp các nhóm chỉ tiêu nghiên cứu chính của luận án:
| Nhóm nội dung |
Các chỉ tiêu và thông số được tác giả khảo sát |
| Đặc điểm dịch tễ và chấn thương |
Phân bố tuổi, giới tính; nguyên nhân chấn thương (tai nạn giao thông, sinh hoạt, lao động); tổn thương phối hợp (sọ não, chi thể, tạng); thời gian chờ mổ và thời gian nằm viện. |
| Hình thái gãy xương (lâm sàng và CLVT) |
Phân loại thể gãy liên tầng Follmar (FULM, FUL, FUM, ULM, FLM); số đường gãy mỗi tầng; đặc điểm gãy XHD, XHT (Le Fort, gãy dọc), GMCT, MSOM và tầng mặt trên. |
| Kỹ thuật can thiệp phẫu thuật |
Trình tự điều trị (dưới lên trên vs trên xuống dưới); xác định khối vững chắc; số lượng và loại đường rạch; phương pháp cố định nẹp vít các tầng; phương pháp và thời gian cố định hàm. |
| Đánh giá kết quả và biến chứng |
Kết quả gần (khi ra viện) và xa (sau 6 tháng); tỷ lệ liền xương giải phẫu, khớp cắn, thẩm mỹ; tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ; các di chứng chức năng - thẩm mỹ; tỷ lệ phẫu thuật thì 2. |
Chương 4: Bàn luận
Tác giả bàn luận sâu về các khía cạnh chuyên môn dựa trên sự đối chiếu giữa kết quả nghiên cứu và các y văn trong, ngoài nước:
- Bàn luận về dịch tễ và chấn thương phối hợp: Phân tích thực trạng tai nạn giao thông xe máy tại Việt Nam tạo ra các lực chấn thương đa hướng, phức tạp; bàn luận về việc ưu tiên xử trí ổn định chấn thương sọ não và huyết động trước khi tiến hành phẫu thuật nắn chỉnh xương hàm mặt.
- Bàn luận về giá trị chẩn đoán: Khẳng định tính ưu việt của chụp cắt lớp vi tính đa dãy và dựng hình 3D trong việc nhận diện chính xác các đường gãy vụn, gãy lún thành xoang hàm, sàn ổ mắt, phức hợp mũi - sàng - ổ mắt và lồi cầu xương hàm dưới mà phim X-quang quy ước không thể khảo sát đầy đủ.
- Bàn luận về chiến thuật và trình tự điều trị: Phân tích cơ chế và ưu nhược điểm của trình tự "từ dưới lên trên - từ trong ra ngoài". Trình tự này lấy xương hàm dưới làm mốc nền tảng để tái tạo khớp cắn và tầng mặt giữa, đòi hỏi phải nắn chỉnh và cố định vững chắc toàn bộ các đường gãy xương hàm dưới (bao gồm cả lồi cầu). Ngược lại, trình tự "từ trên xuống dưới - từ ngoài vào trong" lấy nền sọ và xương trán làm mốc, thích hợp cho các trường hợp xương hàm dưới gãy nát, có khuyết hổng xương lớn hoặc khi có chấn thương lồi cầu trong bao khớp cần điều trị bảo tồn.
- Bàn luận về kỹ thuật cố định xương và đường mổ: Đánh giá vai trò của việc tái lập "khối vững chắc", việc sử dụng nẹp vít nhỏ cố định trực tiếp tại các trụ dọc tầng mặt giữa và bờ dưới xương hàm dưới; phân tích ưu điểm bộc lộ phẫu trường rộng của đường rạch Coronal, đường rạch bờ mi và đường rạch ngách lợi trong miệng.
- Bàn luận về kết quả và kiểm soát biến chứng: Phân tích các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị sau 6 tháng; giải thích nguyên nhân gây biến chứng lép gò má (do không nắn chỉnh xoay đỉnh gò má lên trên ra trước và di lệch cung tiếp), cắn hở răng trước (do tháo cố định hàm sớm hoặc nén xương hàm trên), di lệch nhãn cầu và lõm mắt (do tăng thể tích hốc mắt); bàn luận về chỉ định can thiệp phẫu thuật thì hai nhằm sửa chữa di chứng thẩm mỹ và chức năng.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã đóng góp các kết quả nghiên cứu mới về mặt lý luận khoa học và thực tiễn lâm sàng:
- Đóng góp về mặt lý luận và khoa học:
- Hệ thống hóa các đặc điểm lâm sàng và hình ảnh cắt lớp vi tính đa dãy dựng hình không gian ba chiều của chấn thương gãy liên tầng mặt tại Việt Nam dựa trên khung phân loại quốc tế Follmar.
- Làm sáng tỏ mối quan hệ cơ sinh học giữa hệ thống xà ngang, trụ dọc tầng mặt giữa và khung xương hàm dưới trong việc phục hồi kích thước không gian ba chiều (chiều cao, chiều rộng và độ nhô) của khối xương sọ mặt.
- Đóng góp về mặt thực tiễn lâm sàng:
- Đề xuất chiến thuật xử trí phẫu thuật gãy liên tầng mặt phù hợp với từng hình thái thương tổn: Xác định rõ chỉ định áp dụng trình tự "từ dưới lên trên - từ trong ra ngoài" khi xương hàm dưới có thể nắn chỉnh hoàn chỉnh làm mốc định vị; hoặc trình tự "từ trên xuống dưới - từ ngoài vào trong" khi xương hàm dưới vỡ nát hoặc khuyết hổng lớn.
- Khẳng định giá trị của kỹ thuật xác định "khối vững chắc", phối hợp các đường mổ bộc lộ giải phẫu (đường rạch Coronal, bờ mi, ngách lợi) và sử dụng hệ thống nẹp vít nhỏ kết hợp cố định hai hàm trong việc phục hồi giải phẫu, chức năng ăn nhai và thẩm mỹ khuôn mặt.
- Cung cấp số liệu lâm sàng thực chứng về hiệu quả điều trị gần (khi ra viện) và xa (sau 6 tháng), tỷ lệ liền xương, phục hồi khớp cắn và tỷ lệ các biến chứng, di chứng thường gặp sau phẫu thuật chấn thương gãy liên tầng mặt tại một trung tâm phẫu thuật hàm mặt tuyến cuối.
- Kiến nghị và giải pháp:
- Cần ưu tiên hàng đầu việc kiểm soát đường thở và điều trị ổn định các chấn thương đe dọa tính mạng (đặc biệt là chấn thương sọ não) trước khi tiến hành phẫu thuật nắn chỉnh kết xương.
- Bắt buộc chỉ định chụp cắt lớp vi tính đa dãy và dựng hình 3D để chẩn đoán chính xác và lập kế hoạch phẫu thuật chi tiết.
- Khuyến nghị tiến hành phẫu thuật sớm trong tuần đầu sau chấn thương khi điều kiện toàn thân cho phép, tránh kéo dài quá hai tuần nhằm hạn chế tình trạng can xương sớm và sẹo xơ mô mềm gây khó khăn cho việc nắn chỉnh giải phẫu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án ghi nhận một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu được thực hiện trên cỡ mẫu thuận tiện gồm 48 bệnh nhân tại một cơ sở điều trị duy nhất là Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, chưa mang tính chất đại diện đa trung tâm.
- Thiết kế nghiên cứu tiến cứu can thiệp lâm sàng theo dõi dọc không có nhóm đối chứng ngẫu nhiên.
- Thời gian theo dõi đánh giá kết quả xa dừng lại ở mốc 6 tháng sau phẫu thuật, chưa đánh giá được các biến đổi chức năng lâu dài của khớp thái dương hàm hoặc các biến chứng tiêu xương muộn quanh nẹp vít sau nhiều năm.
Các hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ luận án:
- Mở rộng quy mô nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn nhằm chuẩn hóa phác đồ điều trị cho từng phân nhóm gãy liên tầng mặt.
- Ứng dụng các công nghệ kỹ thuật số tiên tiến như lập kế hoạch phẫu thuật ảo (Virtual Surgical Planning), in 3D máng hướng dẫn phẫu thuật và nẹp kết hợp xương cá thể hóa để tối ưu hóa độ chính xác nắn chỉnh giải phẫu.
- Kéo dài thời gian theo dõi bệnh nhân từ 1 đến 3 năm sau mổ để đánh giá toàn diện sự ổn định của khớp cắn, chức năng ăn nhai và cấu trúc khớp thái dương hàm.
Giá trị tham khảo
Công trình luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng chuyên môn:
- Bác sĩ chuyên khoa Phẫu thuật Hàm mặt và Tạo hình: Cung cấp tài liệu tham khảo thực chứng về chỉ định đường mổ, kỹ thuật nắn chỉnh các trụ chịu lực, phương pháp cố định xương bằng nẹp vít nhỏ và kinh nghiệm dự phòng các biến chứng lép gò má, cắn hở sau mổ.
- Học viên sau đại học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Răng – Hàm – Mặt: Cung cấp phương pháp luận nghiên cứu can thiệp lâm sàng, quy trình áp dụng phân loại Follmar và hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả điều trị gần - xa.
- Bác sĩ Hồi sức Cấp cứu, Phẫu thuật Thần kinh và Ngoại Chấn thương: Giúp nhận diện mức độ phức tạp của chấn thương gãy liên tầng mặt, hỗ trợ phối hợp liên chuyên khoa trong kiểm soát đường thở và xác định thời điểm can thiệp hàm mặt thích hợp.
- Phần đáng tham khảo nhất của luận án: Chương 1 (phần cơ chế tổn thương, các mốc giải phẫu cốt lõi và chiến thuật phẫu thuật theo hai trình tự) cùng phần phân tích lựa chọn "khối vững chắc" và phối hợp đường mổ trong Chương 2 và Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Định nghĩa chấn thương gãy liên tầng mặt được áp dụng trong luận án dựa trên tiêu chuẩn nào?
Luận án áp dụng tiêu chuẩn phân loại của Follmar và Erdmann (2007), chia khối xương sọ mặt thành 4 vùng giải phẫu gồm vùng trán (F), tầng mặt giữa trên (U), tầng mặt giữa dưới (L) và tầng mặt dưới (M). Bệnh nhân được chẩn đoán gãy liên tầng mặt khi có tổn thương gãy xương thuộc ít nhất 3/4 vùng giải phẫu nêu trên, bao gồm 5 kiểu gãy: FULM, FUL, FUM, ULM và FLM.
2. Hai trình tự nắn chỉnh và cố định xương cơ bản trong điều trị gãy liên tầng mặt có đặc điểm gì khác nhau?
Trình tự "từ dưới lên trên - từ trong ra ngoài" sử dụng xương hàm dưới đã được nắn chỉnh vững chắc làm nền tảng để tái lập khớp cắn thông qua cố định liên hàm, sau đó nắn chỉnh tầng mặt giữa và tầng mặt trên. Ngược lại, trình tự "từ trên xuống dưới - từ ngoài vào trong" lấy nền sọ và xương trán làm mốc định vị để nắn chỉnh phức hợp gò má, ổ mắt, tầng mặt giữa rồi mới tới xương hàm dưới; trình tự này được chỉ định khi xương hàm dưới vỡ nát hoặc có khuyết hổng xương lớn.
3. Vai trò của chụp cắt lớp vi tính (CLVT đa dãy) trong chẩn đoán gãy liên tầng mặt được luận án đánh giá ra sao?
CLVT đa dãy cho phép khảo sát toàn diện các cấu trúc xương và mô mềm trên các bình diện ngang (axial), đứng ngang (coronal) và đứng dọc (sagittal), đặc biệt là hình ảnh tái tạo không gian 3 chiều. Kỹ thuật này giúp phát hiện chính xác mức độ di lệch, tình trạng vỡ vụn tại các vùng sâu khó phát hiện trên phim X-quang quy ước như thành sau xoang hàm, thành trong và sàn ổ mắt, phức hợp mũi - sàng - ổ mắt và gồi cầu xương hàm dưới.
4. Nguyên nhân kỹ thuật chính gây ra biến chứng lép gò má và tăng chiều rộng mặt sau phẫu thuật là gì?
Biến chứng lép gò má và tăng chiều rộng mặt xảy ra do không nắn chỉnh chính xác đường khớp bướm - gò má và cung tiếp. Khi nắn chỉnh, phẫu thuật viên bỏ qua việc xoay bờ dưới đỉnh gò má theo hướng lên trên và ra trước, khiến đỉnh gò má bị di lệch tụt xuống dưới và ra sau, làm phẳng vùng gò má và bè rộng kích thước ngang của khuôn mặt.
5. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân vào nhóm nghiên cứu của luận án gồm những điều kiện nào?
Bệnh nhân được lựa chọn phải đáp ứng 4 tiêu chuẩn: là chấn thương gãy liên tầng mới chưa qua xử trí nắn chỉnh xương hàm mặt; có tổn thương gãy xương ít nhất 3/4 vùng mặt theo phân loại Follmar; các chấn thương đe dọa tính mạng kèm theo đã được điều trị ổn định; có hình ảnh chẩn đoán trên phim CLVT đa dãy và được thực hiện phẫu thuật nắn chỉnh kết xương.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phan Duy Vĩnh là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Răng – Hàm – Mặt, giải quyết trọn vẹn hai mục tiêu mô tả đặc điểm lâm sàng, X-quang và đánh giá kết quả điều trị chấn thương gãy liên tầng mặt trên 48 bệnh nhân tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Nghiên cứu đã làm rõ đặc điểm giải phẫu cơ sinh học, khẳng định vai trò của chụp cắt lớp vi tính đa dãy 3D và chuẩn hóa việc lựa chọn trình tự phẫu thuật ("từ dưới lên trên" hoặc "từ trên xuống dưới") kết hợp nẹp vít nhỏ và cố định hai hàm. Kết quả theo dõi dọc sau 6 tháng cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng có giá trị tham khảo khoa học và lâm sàng cao cho các phẫu thuật viên hàm mặt và các chuyên ngành ngoại khoa liên quan tại Việt Nam.