Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng kết quả phẫu thuật nội soi treo trực tràng ụ nhô điều trị sa trực tràng toàn bộ

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu đặc điểm lâm sàng kết quả phẫu thuật nội soi treo trực tràng ụ nhô điều trị sa trực, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng

Trường đại học

Học viện Quân Y

Chuyên ngành

Ngoại tiêu hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sỹ y học

2017

165
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Giải phẫu trực tràng và sàn chậu

1.2. Giải phẫu trực tràng

1.3. Giải phẫu đáy chậu

1.4. Bệnh sa trực tràng

1.5. Một số phương pháp phẫu thuật điều trị sa toàn bộ sa trực tràng

1.6. Phẫu thuật theo đường tầng sinh môn

1.7. Phẫu thuật theo đường bụng

1.8. Phẫu thuật nội soi điều trị STTTB

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.5. Thiết kế nghiên cứu. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.6. Phương tiện nghiên cứu

2.7. Các chỉ tiêu nghiên cứu

2.8. Phương pháp tiến hành. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung

3.2. Tuổi, giới và chỉ số khối cơ thể (BMI)

3.3. Đặc điểm tiền sử bệnh

3.4. Đặc điểm bệnh lý kèm theo

3.5. Thời gian từ khi bị bệnh đến lúc vào viện

3.6. Đặc điểm lâm sàng

3.7. Đặc điểm kỹ thuật PTNS khâu theo trực tràng ụ nhô

3.8. Phương pháp phẫu thuật. Phẫu thuật điều trị bệnh lý kèm theo

3.9. Thời gian phẫu thuật

3.10. Đánh giá kết quả sau phẫu thuật

3.11. Đánh giá kết quả sớm sau phẫu thuật

3.12. Kết quả theo dõi xa sau phẫu thuật

3.13. Đánh giá chung kết quả phẫu thuật treo trực tràng ụ nhô

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm lâm sàng bệnh sa trực tràng toàn bộ ở người lớn

4.2. Đặc điểm chung

4.3. Đặc điểm lâm sàng. Nhận xét chỉ định, kỹ thuật khâu treo trực tràng ụ nhô bằng PTNS

4.4. Đánh giá kết quả PTNS điều trị STTTB ở người lớn bằng phương pháp khâu treo trực tràng vào ụ nhô

4.5. Kết quả sớm sau phẫu thuật

4.6. Đánh giá kết quả xa sau phẫu thuật

4.7. Đánh giá kết quả chung của phương pháp phẫu thuật

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Đặc điểm lâm sàng

Nghiên cứu tập trung vào đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân mắc sa trực tràng toàn bộ. Các yếu tố như tuổi, giới tính, chỉ số khối cơ thể (BMI), tiền sử bệnh lý, và thời gian từ khi phát hiện bệnh đến khi điều trị được phân tích chi tiết. Kết quả cho thấy bệnh thường gặp ở nhóm tuổi trên 50, với tỷ lệ nữ giới cao hơn nam giới. Các triệu chứng lâm sàng phổ biến bao gồm táo bón, đại tiện không tự chủ, và sa trực tràng ra ngoài hậu môn. Nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan giữa các bệnh lý kèm theo như bệnh lý đại tràng dài và tình trạng sa trực tràng.

1.1. Đặc điểm nhân khẩu học

Phân tích nhân khẩu học cho thấy bệnh nhân mắc sa trực tràng toàn bộ chủ yếu thuộc nhóm tuổi trung niên và cao tuổi, với tỷ lệ nữ giới chiếm ưu thế. Chỉ số BMI trung bình của bệnh nhân nằm trong khoảng thừa cân, điều này có thể liên quan đến các yếu tố nguy cơ như táo bón mãn tính và suy yếu cơ sàn chậu.

1.2. Triệu chứng lâm sàng

Các triệu chứng lâm sàng phổ biến bao gồm sa trực tràng ra ngoài hậu môn, táo bón, và đại tiện không tự chủ. Nghiên cứu cũng ghi nhận sự hiện diện của các bệnh lý kèm theo như bệnh lý đại tràng dài, làm tăng nguy cơ tái phát sau phẫu thuật.

II. Kết quả phẫu thuật nội soi treo trực tràng ụ nhô

Phương pháp phẫu thuật nội soi treo trực tràng ụ nhô được đánh giá là hiệu quả trong điều trị sa trực tràng toàn bộ. Nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ thành công cao với tỷ lệ tái phát thấp (0-10%). Thời gian phẫu thuật trung bình và thời gian hồi phục sau phẫu thuật được cải thiện đáng kể so với các phương pháp truyền thống. Các biến chứng sau phẫu thuật như nhiễm trùng, chảy máu, và rối loạn chức năng đại tiện được kiểm soát tốt.

2.1. Kỹ thuật phẫu thuật

Phương pháp phẫu thuật nội soi treo trực tràng ụ nhô được thực hiện với sự hỗ trợ của các dụng cụ nội soi hiện đại. Kỹ thuật này giúp giảm thiểu xâm lấn, giảm đau đớn và rút ngắn thời gian nằm viện. Các bước phẫu thuật bao gồm phẫu tích mặt sau trực tràng, khâu treo trực tràng vào ụ nhô, và kiểm tra vị trí cố định.

2.2. Kết quả sau phẫu thuật

Kết quả sau phẫu thuật cho thấy tỷ lệ tái phát thấp (0-10%), thời gian hồi phục nhanh chóng, và cải thiện đáng kể các triệu chứng lâm sàng như táo bón và đại tiện không tự chủ. Các biến chứng sau phẫu thuật được kiểm soát tốt, với tỷ lệ nhiễm trùng và chảy máu thấp.

III. Đánh giá kết quả điều trị

Nghiên cứu đánh giá tổng thể kết quả điều trị của phương pháp phẫu thuật nội soi treo trực tràng ụ nhô. Kết quả cho thấy phương pháp này không chỉ hiệu quả trong việc điều trị sa trực tràng toàn bộ mà còn giảm thiểu các biến chứng và tái phát sau phẫu thuật. Các yếu tố như tuổi, BMI, và bệnh lý kèm theo được xem xét để tối ưu hóa kết quả điều trị.

3.1. Kết quả sớm sau phẫu thuật

Kết quả sớm sau phẫu thuật cho thấy sự cải thiện rõ rệt về các triệu chứng lâm sàng như táo bón và đại tiện không tự chủ. Thời gian nằm viện được rút ngắn, và bệnh nhân có thể trở lại sinh hoạt bình thường nhanh chóng.

3.2. Kết quả xa sau phẫu thuật

Theo dõi lâu dài cho thấy tỷ lệ tái phát thấp và sự cải thiện bền vững về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Các yếu tố như tuổi, BMI, và bệnh lý kèm theo được xem xét để đánh giá nguy cơ tái phát và tối ưu hóa kết quả điều trị.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng kết quả phẫu thuật nội soi treo trực tràng ụ nhô điều trị sa trực tràng toàn bộ

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Sa trực tràng (STT) là một bệnh lành tính, hiếm gặp, là hiện tượng trực tràng chui qua lỗ hậu môn ra nằm ở ngoài hậu môn. Bệnh thường xảy ra ở độ tuổi trên 50 tuổi [4], [9], [58], [64], [128], sa trực tràng ít có biến chứng nặng nề và không có diễn biến phức tạp, nhưng bệnh gây cho bệnh nhân (BN) nhiều phiền toái trong sinh hoạt và ảnh hưởng không ít đến khả năng lao động. Nguyên nhân phát sinh bệnh sa trực tràng đến nay vẫn còn chưa được hiểu biết rõ ràng và chính xác. Có hơn 200 phương pháp phẫu thuật điều trị sa trực tràng, Tuy mỗi phương pháp dựa trên cơ sở lý luận về nguyên nhân phát sinh bệnh sa trực tràng khác nhau nhưng mục đích chung vẫn là sự an toàn, hiệu quả của phương pháp và sự phục hồi lại những cấu trúc giải phẫu và sinh lý cho bệnh nhân, giảm tỉ lệ tái phát, giảm táo bón, giảm tình trạng đại tiện không tự chủ sau mổ.

Hiện nay có 2 nhóm phẫu thuật được thực hiện là phẫu thuật theo đường tầng sinh môn và phẫu thuật theo đường bụng, việc áp dụng phẫu thuật nào cho từng nhóm bệnh nhân vẫn còn đang được nghiên cứu và áp dụng, vì mỗi phương pháp phẫu thuật đều có những ưu và nhược điểm riêng. Mặc dù có nhiều phương pháp phẫu thuật đã được áp dụng trên lâm sàng, nhưng tỉ lệ tái phát sa trực tràng sau mổ vẫn còn cao. Theo số liệu thống kê nghiên cứu của nhiều tác giả, phẫu thuật cố định trực tràng qua đường tầng sinh môn có tỉ lệ tái phát từ 10 - 60% [6], [94]. Phẫu thuật cố định trực tràng qua đường bụng có tỉ lệ tái phát ít hơn, khoảng 0 - 10% [5], [15], [22], [53], [56], [70], [92].

Với sự tiến bộ của khoa học, phẫu thuật nội soi đã ra đời và được áp dụng rộng rãi trên nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực phẫu thuật đại trực 2 tràng. Đây là một bước ngoặt lớn trong ngành ngoại khoa, giúp các bác sĩ phẫu thuật thực hiện các phương pháp mổ với sự xâm hại tối thiểu cho bệnh nhân với nhiều ưu điểm ít đau, phục hồi sớm, rút ngắn thời gian nằm viện. Năm 1992 Berman đã báo cáo những kết quả đầu tiên phẫu thuật cố định trực tràng qua nội soi ổ bụng. Từ đó đến nay, trên thế giới có nhiều nghiên cứu điều trị sa trực tràng bằng phương pháp phẫu thuật nội soi với tỉ lệ tái phát từ 0 – 10% [9], [30], [110].

Tình trạng đại tiện không tự chủ và táo bón sau mổ cũng giảm đáng kể. Theo số liệu báo cáo của một số nghiên cứu, tỉ lệ này được cải thiện từ 35 – 89% sau phẫu thuật nội soi điều trị sa trực tràng [9], [39], [69]. Ở Việt nam, các công trình nghiên cứu về phẫu thuật nội soi điều trị sa trực tràng còn quá ít. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, kết quả phẫu thuật nội soi treo trực tràng ụ nhô điều trị sa trực tràng toàn bộ” nhằm 2 mục tiêu: 1) Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng sa trực tràng toàn bộ ở người lớn.

2) Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi khâu treo trực tràng vào ụ nhô điều trị sa trực tràng toàn bộ ở người lớn. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu trực tràng và sàn chậu 1. Giải phẫu trực tràng Trực tràng dài 12-15 cm, chia làm hai đoạn.

Đoạn trên phình to là bóng trực tràng, dài 10 -12 cm, nằm trong tiểu khung. Đoạn dưới nhỏ là ống hậu môn, dài 2 - 3 cm, nằm trong đáy chậu. Trên đường đi từ trên xuống, trực tràng vẽ nên hai đường cong. Đường cong trên mở ra phía trước.

Đường cong dưới mở ra phía sau. Chỗ nối giữa hai đường cong là nơi gấp khúc của trực tràng, tạo một góc khoảng 900, mở ra sau. Nơi này tương ứng với đỉnh xương cụt. Chính nhờ sự gấp khúc này mà trực tràng không bị sa ra ngoài.

Túi cùng Douglas là nơi thấp nhất của ổ bụng. Ở bệnh nhân sa trực tràng, có khi túi cùng Douglas sa ra đến hậu môn và bên trong có thể chứa cả ruột non, đại tràng Sigma và mạc nối lớn. Theo các nhà giải phẫu học, ống hậu môn được giới hạn ở phía ngoài là lỗ hậu môn và ở phía trong là đường lược. Ống hậu môn của các nhà giải phẫu ngắn, chỉ 1,5 cm.

Theo các nhà phẫu thuật, ống hậu môn được giới hạn ở phía ngoài cũng là lỗ hậu môn như các nhà giải phẫu học, nhưng ở phía trong thì lại khác. Ở phía trong là đường hay vòng hậu môn-trực tràng cao hơn đường lược 1,5 cm. Như vậy ống hậu môn của các nhà phẫu thuật dài 3 cm. Giới hạn ống hậu môn Nguồn: theo Nguyễn Đình Hối (2002) [6] 1.

Mạc treo trực tràng Trong phần liên quan của trực tràng với các cấu trúc vùng chậu xung quanh, gần đây người ta nhấn mạnh đến vai trò của mạc treo trực tràng. Đây là điểm mà trước đây các sách giải phẫu học chưa nhấn mạnh. Mạc treo trực tràng là phần tiếp nối của mạc treo đại tràng chậu hông từ trên xuống, bao gồm các cấu trúc mỡ bao quanh trực tràng. Trong lớp mỡ này có các bạch huyết của trực tràng và các động tĩnh mạch trực tràng trên và giữa.

Ở đoạn trực tràng trên, khi mạc treo đại tràng chậu hông ngắn lại và biến mất, mạc treo trực tràng có hình bán nguyệt trên lát cắt ngang. Ở đoạn trực tràng giữa, ngay dưới nếp phúc mạc (ngang mức túi tinh hoặc phần trên âm đạo), mạc treo trực tràng có dạng gần hình tròn trên lát cắt ngang với bóng trực tràng lệch tâm về phía trước. Xuống đoạn trực tràng thấp, vào khoảng giữa hai cơ nâng hậu môn, mạc treo trực tràng mỏng dần và biến mất ở chỗ nối với ống hậu môn. Thiết đồ đứng dọc qua giữa ống hậu môn Nguồn: Nguyễn Đình Hối (2002) [6] 1.

Cấu tạo mô học * Trực tràng Cũng như các đoạn khác của đường tiêu hóa, thành trực tràng gồm 4 lớp: niêm mạc, dưới niêm mạc, cơ, thanh mạc. Lớp cơ trực tràng có hai lớp, lớp trong là cơ vòng và lớp ngoài là cơ dọc. Phúc mạc chỉ phủ đoạn trên của trực tràng. Đoạn dưới trực tràng không có phúc mạc che phủ.

Bóng trực tràng được chia làm hai đoạn là đoạn trong phúc mạc và đoạn ngoài phúc mạc. Đoạn trong liên quan nhiều tới ổ bụng, đoạn ngoài liên quan nhiều tới đáy chậu. 6 * Ống hậu môn: Ống hậu môn được chia thành ba phần: đoạn cột, đoạn trung gian, đoạn da. Ống hậu môn có hai cơ vòng là cơ thắt trong, cơ thắt ngoài và một cơ dọc là cơ dọc kết hợp.

Các cơ vùng hậu môn có tác dụng nâng và thắt ống hậu môn. Cơ thắt trong thuộc hệ cơ trơn. Nó chính là cơ vòng của thành ruột, đi liên tục từ trên xuống, đến hậu môn thì dầy lên, to ra để tạo nên cơ thắt trong. Giới hạn trên không rõ vì liên tục với cơ vòng của thành ruột.

- Cơ thắt ngoài thuộc hệ cơ vân. Đó là cơ riêng của vùng này. - Cơ dọc kết hợp: cơ dọc của thành ruột đi từ trên xuống, đến đây hòa lẫn với các sợi của cơ nâng hậu môn và các mô sợi đàn hồi tạo nên cơ dọc kết hợp. Cơ dọc kết hợp chạy từ trên xuống, nằm giữa cơ thắt trong và cơ thắt ngoài.

Khi tới phía dưới nó phát sinh các sợi xơ-cơ. Mạch máu và thần kinh * Động mạch: Động mạch trực tràng trên: là nhánh tận của động mạch mạc treo tràng dưới. Động mạch trực tràng trên đi từ trên xuống, tới đầu trên của trực tràng thì chia hai nhánh nằm hai bên trực tràng và tận cùng ngay trên đường lược. Trên đường đi, nó cho các nhánh xuyên qua cơ đến lớp niêm mạc của vùng trên đường lược.

Động mạch trực tràng trên cấp máu cho bóng trực tràng. Động mạch trực tràng giữa xuất phát từ động mạch chậu trong, là một trong những nhánh trong chậu hông của động mạch chậu trong. Động mạch này đi từ trên xuống, khi tới thành trước bên của phần giữa trực tràng thì cho các nhánh nối với động mạch trực tràng trên và động mạch trực tràng dưới. Động mạch trực tràng giữa cấp máu cho phần dưới bóng trực tràng và phần trên ống hậu môn.

Động mạch trực tràng dưới xuất phát từ động mạch thẹn trong. Động mạch thẹn trong là một trong những nhánh ngoài chậu hông của động mạch 7 chậu trong. Động mạch trực tràng dưới cho các nhánh nuôi cơ thắt ngoài và cơ thắt trong. Nhánh tận cấp máu cho ống hậu môn và da quanh hậu môn.

Động mạch cùng giữa xuất phát từ mặt sau của động mạch chủ bụng, trên chỗ chia đôi thành hai động mạch chậu gốc chừng 1,5 cm. Động mạch này đi trước các đốt sống thắt lưng 4 và 5, xương cùng, xương cụt và đi sau tĩnh mạch chậu gốc trái, thần kinh trước cùng và các mạch máu trực tràng trên. Động mạch cùng giữa cấp máu cho phần thấp của trực tràng, xương cùng, xương cụt. Động mạch này dễ chảy máu trong thì bóc tách trực tràng trong phẫu thuật đại - trực tràng.

Cung cấp máu cho hậu môn, trực tràng Nguồn: theo Nguyễn Đình Hối (2002) [6] 8 * Thần kinh chi phối vùng chậu: Bóng trực tràng thuộc hệ tiêu hóa, trong khi đó ống hậu môn thuộc đáy chậu. Đại trực tràng được chi phối bởi các sợi giao cảm và phó giao cảm. Cơ vòng ngoài và niêm mạc ống hậu môn được chi phối bởi các thần kinh sống. Hệ thần kinh sống: Có dây thần kinh hậu môn, tách từ dây cùng S3 và S4.

Dây này vận động cơ thắt hậu môn và cảm giác vùng quanh lỗ hậu môn. Hệ thần kinh thực vật: Các nhánh giao cảm xuất phát từ các hạch giao cảm thắt lưng ở khoanh ngực lưng, hợp lại phía trước động mạch chủ bụng, ngay dưới nguyên ủy động mạch mạc treo tràng dưới tạo đám rối mạc treo tràng dưới, sau đó đi xuống dưới tạo thành đám rối hạ vị trên ngay phía trước chỗ chia đôi của động mạch chủ bụng. Các sợi giao cảm này chạy xuống dưới sang hai bên thành các nhánh hạ vị. Các nhánh phó giao cảm có hai nguồn: - Các nhánh tận cùng của dây thần kinh X, qua đám rối mạc treo tràng dưới, qua dây thần kinh cùng trước và dây hạ vị đi xuống.

Các nhánh này vận động và chỉ huy việc tiết dịch trực tràng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả phẫu thuật nội soi treo trực tràng ụ nhô điều trị sa trực tràng toàn bộ" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân bị sa trực tràng toàn bộ và hiệu quả của phương pháp phẫu thuật nội soi trong điều trị. Nghiên cứu này không chỉ giúp các bác sĩ hiểu rõ hơn về tình trạng bệnh lý mà còn cung cấp thông tin quý giá về kết quả phẫu thuật, từ đó nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến bệnh lý và phương pháp điều trị, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận án nghiên cứu hiệu quả điều trị và dự phòng nhồi máu não của aspirin kết hợp cilostazol, nơi cung cấp thông tin về các phương pháp điều trị khác trong y học. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân bệnh động mạch chi dưới mạn tính có đái tháo đường týp 2 cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh lý. Cuối cùng, tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu chức năng thất trái trước và sau điều trị tái đồng bộ tim crt ở bệnh nhân suy tim nặng bằng siêu âm đánh dấu mô sẽ cung cấp thêm thông tin về các phương pháp điều trị tim mạch, mở rộng kiến thức của bạn trong lĩnh vực y học.