Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa VTPQ VTPQ là bệnh lý viêm nhiễm cấp tính do siêu vi của các phế quản cỡ nhỏ và trung bình, xảy ra ở trẻ dưới 2 tuổi. Đặc trưng bởi hội chứng lâm sàng bao gồm: Ho, khò khè, thở nhanh, có thể co lõm lồng ngực [21]. Đặc điểm giải phẫu và sinh lý đường dẫn khí trẻ em Từ khí quản đến phế nang có 23 lần phân nhánh, tiểu phế quản được tính từ lần phân nhánh thứ 20.
Từ lần phân nhánh thứ 17 trở đi mới có chức năng trao đổi khí (trước đó chỉ có chức năng dẫn khí). Hệ cơ trơn đường dẫn khí, chịu tác động trực tiếp của Adrenalin và nor- adrenaline trong máu, gây giãn phế quản. Hệ thần kinh phó giao cảm, tác động thông qua dây thần kinh X, gây co cơ trơn. Đường dẫn khí, từ phế quản đến ống phế nang, tăng dần về độ dầy mô đàn hồi, cùng với sự xuất hiện của những vòng cơ trơn xung quanh đường dẫn khí, làm cho kháng lực ngày càng giảm.
Những vòng sụn bao quanh chu vi 5/6 khí quản, giữ cho khí quản không xẹp. Ở phế quản, vòng sụn ngắn hơn và biến mất hoàn toàn ở các tiểu phế quản. Cấu tạo từ vị trí này, chỉ là những vòng cơ trơn, càng xuống dưới chỉ còn vài sợi cơ trơn mỏng. Từ đoạn này trở đi, đường dẫn khí được mở thông qua áp lực làm mở phế nang nên rất dễ bị xẹp.
Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ trong mấy tháng đầu, vỏ não và trung tâm hô hấp chưa phát triển hoàn toàn nên trẻ dễ có cơn ngừng thở hoặc thở không đều, dễ bị suy hô hấp và kiệt sức khi bị nhiễm trùng phổi [16]. Cơ chế bảo vệ đường hô hấp Trước nguy cơ xâm hại của các tác nhân có hại hoặc gây bệnh, bộ máy hô hấp có cấu trúc giải phẫu và sinh lý thích hợp để tự bảo vệ. 4 - Màng lọc không khí: các lông mũi mọc theo hướng đan xen nhau, lớp niêm mạc ở mũi họng giàu mạch máu, với sự tiết nhày liên tục và sự vận động nhịp nhàng của nắp thanh môn theo chu kỳ. - Phản xạ ho: đẩy tống dị vật và các chất viêm xuất tiết ra khỏi đường thở.
- Hàng rào niêm mạc và hệ thống nhung mao: Niêm mạc khí quản, phế quản được bao phủ lớp tế bào biểu mô hình trụ có nhung mao, các nhung mao này liên tục di chuyển. - Hệ thống thực bào: Lớp tế bào biểu mô nằm trên bề mặt màng đáy thành phế nang, chứa các phế bào hạt typ 1 và typ 2. Phế bào typ 2 chứa fibronectin, globulin miễn dịch và các đại thực bào. Lòng tế bào phế nang chứa nhiều tế bào miễn dịch gồm đại thực bào phế nang, tế bào đơn nhân, lympho bào, các tế bào viêm như bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu ưa acid.
Lympho T sau khi nhận diện kháng nguyên sẽ hoạt hóa lympho B thành tương bào để sản xuất kháng thể đặc hiệu. Sản phẩm kháng thể được chuyển tới mô kẽ, lòng phế nang làm bất hoạt kháng nguyên. Các kháng thể có nhiều chức năng như: Opsonin hóa, tăng cường thực bào (đặc biệt IgG), hoạt hóa bổ thể trung hòa độc tố và ngưng kết vi khuẩn. Các globulin miễn dịch chủ yếu ở bề mặt phế nang là typ IgG, IgA còn hoạt hóa hệ thống bổ thể để tiêu diệt trực tiếp các vi khuẩn.
Tóm lại, hệ hô hấp có rất nhiều cơ chế bảo vệ khác nhau nhưng chúng quan hệ rất mật thiết và hoạt động hỗ trợ nhau để đạt được hiệu quản quan trọng, nhất là chức năng bảo vệ [14]. Dịch tễ học VTPQ, lần đầu tiên được sử dụng như một thuật ngữ chẩn đoán vào năm 1940, nói lên những phát hiện mô học đặc biệt và ý nghĩa này được công nhận một cách hợp thức. 5 Phần lớn các trường hợp VTPQ do nhiễm RSV nên dịch tễ học của bệnh VTPQ gần tương tự dịch tễ học của nhiễm trùng RSV. RSV phổ biến khắp nơi trên thế giới và gây ra những vụ dịch theo mùa.
Tại những vùng có khí hậu ôn đới, các vụ dịch VTPQ xảy ra vào cuối thu sang đông thường do nhiễm RSV. Tại phía nam bán cầu, các vụ dịch mùa đông xuất hiện từ tháng 5 tới tháng 9, có đỉnh vụ dịch vào tháng 5, 6, 7. Ở các nước nhiệt đới và nửa nhiệt đới, các vụ dịch thường gắn liền với mùa mưa. VTPQ điển hình gặp ở trẻ nhỏ dưới 2 tuổi, chủ yếu vào mùa đông [38], [54].
VTPQ là nguyên nhân nhập viện hàng đầu ở trẻ em. Trên toàn thế giới, 95% các trường hợp xảy ra ở các nước đang phát triển, theo Lucian K. M, John Udeani et al (2014), Bronchiolitis. Theo số liệu thống kê từ bệnh viện quốc gia Hoa Kỳ từ 1980- 1996: khoảng 1,65 triệu ca nhập viện vì VTPQ dưới 5 tuổi.
Trong đó, trẻ nhỏ dưới 1 tuổi và dưới 6 tháng chiếm 81% và 57% số ca nhập viện. Tỷ lệ nhập viện đã tăng gấp 2 trong giai đoạn nghiên cứu từ 13 đến 31 trong số 1000 trẻ em dưới 1 tuổi, từ 1,3 đến 2,3 trong số 1000 trẻ từ 1- 4 tuổi. Tỷ lệ nhập viện vì VTPQ đã tăng gấp 3 trong cùng giai đoạn này, từ 5,4 - 16,4% số trẻ nhập viện [29], [56], [58]. Tuy nhiên ở các nước đang phát triển dễ bị bội nhiễm vi trùng Ở Việt Nam, theo một số thống kê chưa đầy đủ, cho thấy đây cũng là bệnh phổ biến trẻ dưới 2 tuổi, hay gặp nhất là trẻ dưới 6 tháng, chiếm con số ước tính khoảng 40% số ca bệnh nhi nhập viện vì bệnh lý hô hấp [5].
Tỷ lệ tử vong do VTPQ thay đổi theo từng tác giả. Bệnh lây lan do tiếp xúc trực tiếp với những giọt nước mũi, đờm bay ra khi ho hoặc gián tiếp qua tay người chăm sóc, nhân viên y tế và đồ chơi của trẻ. RSV sống 30 phút trên da và 6-7 giờ trên đồ vật hoặc quần áo, vài ngày trong giọt chất tiết lớn [2], [3]. Nguyên nhân - Engels và Newns (Anh-1940), Adams (Mỹ-1941) là những người đầu tiên phát hiện nguyên nhân gây VTPQ là do virus.
- Virus hợp bào hô hấp (Respiratory syncitial virus: RSV): chiếm tỉ lệ 50-75%. Chanock và Finberg đã phân lập RSV từ 2 trẻ bệnh đường hô hấp dưới năm 1957. Trong một nghiên cứu về “Tác nhân gây bệnh đơn độc trong VTPQ: Có vai trò của các tác nhân khác ngoài virus hợp bào hô hấp hay không?” (2010) của Miron, Dan MD, Srugo cho thấy khoảng 1/3 trẻ VTPQ cấp có tình trạng đồng nhiễm. RSV là tác nhân gây bệnh đơn độc thường gặp nhất [28], [37], [40], [53], [54].
- Influenza (5%) - Adenovirus (10%): là tác nhân hiếm gặp nhưng thường gây bệnh cảnh nặng và kéo dài. Sinh lý bệnh - Virus RSV sau khi xâm nhập và nhân lên ở đường hô hấp trên, virus đến cố định và tiếp tục phát triển trên tế bào biểu mô tiểu phế quản gây ra: + Hoại tử lớp biểu mô hô hấp. Viêm tiểu phế quản ở trẻ em [62] 7 + Phá hủy tế bào nhung mao. + Thâm nhiễm tế bào viêm.
+ Lớp dưới niêm mạc phù nề nhưng không có sự hủy hoại sợi collagen và sợi đàn hồi. - Tổn thương chính là tắc lòng các tiểu phế quản do các nút nhầy (tạo ra do các mảnh vỡ tế bào và sợi fibrin) gây ứ khí phế nang. Nếu tắc lòng phế quản hoàn toàn sẽ gây xẹp phổi. Một số trường hợp nặng có thể tổn thương cả biểu bì các phế nang.
- Những tổn thương trên không đồng đều và lan tỏa khắp 2 phổi gây những vùng xẹp phổi và những vùng ứ khí. - Cơ học hô hấp bất thường do thể tích cuối thì thở ra gia tăng, sức đàn hồi của phổi giảm, kháng lực đường thở tăng, chủ yếu thì thở ra gây tăng công hô hấp. - Rối loạn trao đổi khí do tắc nghẽn hô hấp và xẹp phổi gây: + PaCO2 tăng, PaO2 giảm. + Bất cân xứng giữa thông khí và tưới máu.
+ Toan hô hấp, dẫn đến toan chuyển hóa [2]. Đặc điểm lâm sàng 1. Khởi phát - Vài ngày trước đó (3-4 ngày) thường biểu hiện bằng viêm đường hô hấp trên như: Ho khan, hắt hơi, sổ mũi, kém ăn. Đôi khi ho cơn kéo dài kiểu ho gà.
Một số trường hợp xảy ra đột ngột trong vài giờ với ho, khó thở, vật vã. Toàn phát - Trẻ khó thở, thở nhanh, nhịp thở 60-80 lần/phút co kéo các khoảng liên sườn, cánh mũi phập phồng. - Nghe phổi: âm phổi ồn ào, nghe được rales ẩm nhỏ hạt, rale rít, rale ngáy hai bên phổi. 8 - Biểu hiện suy hô hấp cấp: khó thở nhanh, co lõm các cơ hô hấp phụ, tím môi và đầu chi.
- Trẻ có thể mất nước do thở nhanh hoặc sốt và rối loạn tiêu hóa (nôn, ỉa lỏng). - Thể nặng: lồng ngực căng phồng rale rít ở hai phổi giảm hay mất, phế âm không còn nghe được, lơ mơ, tím nặng: giai đọan kiệt sức như vã mồ hôi, chân tay lạnh, tím tái. - Cùng với các triệu chứng trên, trẻ thường có sốt 38-39 độ C, sốt có thể duy trì trong suốt thời gian bị bệnh và chỉ giảm khi bệnh đã tiến triển tốt. - Các triệu chứng khác : + Nhịp tim nhanh.
+ Gan to do suy tim cấp. - Nếu không giúp trẻ thở kịp thời trẻ có thể chết do các biến chứng: + Tràn khí màng phổi và trung thất do vỡ phế nang. + Suy tim do khí phế thũng. Ngừng thở do toan khí quá cao.
+ Phù phổi cấp do tăng tính thấm màng phế nang mao mạch [3], [22]. Cận lâm sàng 1. X Quang phổi Theo các tác giả thì hình ảnh X quang không đặc hiệu, có thể thấy các dấu hiệu sau: + Trường hợp nhẹ: X-quang ít thay đổi, hình ảnh ứ khí với phổi sáng hơn bình thường. + Trường hợp nặng: hình ảnh phổi ứ khí, cơ hoành hạ thấp; 2 phế trường tăng sáng, rốn phổi đậm, có nhiều nốt mờ rải rác do xẹp cục bộ các phân thùy phổi.
Có khi xẹp cả phân thùy phổi do bít tắc [42]. Xét nghiệm huyết học Công thức máu: số lượng bạch cầu ít thay đổi, bạch cầu đa nhân trung tính không tăng hoặc chủ yếu tăng lympho. Thiếu máu không hằng định [42]. Xét nghiệm sinh hóa - Khí máu: cần thiết trong những trường hợp nặng 9 + PaO2 giảm, PaCO2 tăng trên 50 mmHg, + pH máu giảm [20].