CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Nghiên cứu về đặc điểm phân loại, đặc điểm lâm học Prosea (1998) nghiên cứu về chi Michelia đã thống kê có khoảng 30 loài: Michelia ×alba DC. Law Yuh-Wu (1984) cho rằng có tới 40 loài.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây các nhà thực vật học đã bổ sung thêm và cho biết có khoảng 80 loài chủ yếu phân bố ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Châu Á. Hiện nay nhiều nhà khoa học vẫn còn sự nhầm lẫn giữa 2 loài Giổi ăn hạt (Michelia tonkinensis A., 1918) và Giổi xanh (Michelia mediocris Dandy) do thiếu những dẫn liệu khoa học về loài, đặc biệt các dẫn liệu về phân loại thực vật; đa dạng di truyền và ADN mã vạch, hiện vẫn còn nhiều tranh cãi giữa hai loài do chúng có nhiều đặc điểm giống nhau. Các tác giả đã xác định các loài Michelia tongkinensis phân bố chủ yếu ở Trung Quốc và Việt Nam (Law.W, 1985; Sima & Yu, 2003; Dandy, 1928; Hộ, 1999; Bân, 2003). Ngoài ra, loài Michelia tongkinensis còn có tên khoa học là Magnolia hypolampra Dandy hoặc Magnolia gioi (A.
Chev) hoặc Michelia hedyosperma Y. Trên thế giới, Giổi (Michelia L.) là một chi thực vật thuộc họ Ngọc lan (Magnoliaceae) với khoảng 70 loài; thƣờng là cây gỗ vừa đến lớn, bao hoa chƣa phân hóa, có cuống nhụy phát triển, hoa và quả thường mọc ở nách lá. Vũ Quang Nam và cộng sự (2017). 3 Nghiên cứu đa dạng di truyền quần thể các loài Giổi cũng đã được quan tâm ở nhiều quốc gia, trong đó Trung Quốc gần như là nước tiên phong trong lĩnh vực này và đã có nhiều công bố về đa dạng di truyền của các quần thể Giổi (Zhao et al., 2009; Zhao et al., 2012; Sun et al., 2010; Sun et al.
Về sử dụng chỉ thị cpSSR để nghiên cứu cấu trúc di truyền, sự phong phú các dạng alen và sự phát tán hạt phấn của 9 quần thể Michelia maudiae ở Trung Quốc (Sun và cs, 2011). Các kết quả thu được đã giúp các nhà nghiên cứu hiểu biết về cấu trúc di truyền và lịch sử tiến hóa của loài cây này đồng thời cung cấp một cơ sở dữu liệu di truyền cho việc bảo tồn loài (Sun et al. Cũng theo hướng này, Zhao và cộng sự (2012) đã sử dụng chỉ thị SSR và ISSR để phân tích cấu trúc di truyền cho 3 quần thể Michelia coriacea còn sót lại ở phía Đông Nam tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Kết quả phân tích cho thấy loài giổi ăn hạt ở đây vẫn duy trì được mức độ đa dạng di truyền tương đối cao, nhưng lại có mức độ khác biệt di truyền giữa các quần thể lại tương đối thấp.
Từ các kết quả phân tích phân tử thu được kết hợp với việc điều tra hiện trạng quần thể, nhóm tác giả đã khẳng định loài đang bị khai thác loài quá mức và sự phá hủy môi trường sống là những nguyên nhân dẫn đến sự phân mảnh và cô lập của các quần thể M. Qua đó, nhóm tác giả cũng đã có những đề xuất cho công tác bảo tồn và quản lý nguồn gen M. coriacea nên tập trung vào việc duy trì mức độ đa dạng di truyền cao của loài thông qua bảo tồn nguyên vị và chuyển vị. Nghiên cứu về kỹ thuật trồng Trong những năm gần đây, một số công trình nghiên cứu về trồng, chăm sóc một số loài cây gỗ lớn bản địa trong đó có cây Giổi đã quan tâm, điển hình là các công trình nghiên cứu của Mosigil G.
Kết quả nghiên cứu đã đề xuất một số biện pháp kỹ thuật cơ bản trồng và làm giàu rừng bằng một 4 số cây bản địa ở Malaysia. Đồng thời các tác giả khẳng định Giổi là loài phù hợp với đất còn tính chất đất rừng, nhất là đất rừng nghèo kiệt, rừng phục hồi. and et al (2010), Francis Goh (2000) đã nghiên cứu nhân giống vô tính loài Michelia champaca ở Malaysia bằng phương pháp giâm hom hoặc nuôi cấy mô tế bào từ phôi hạt giống trên môi trường MS trung bình với 2mgL-1 NAA, kết quả cho thấy tỷ lệ thành cây con đạt trên 43%. Nếu chế độ chăm sóc hợp lý, cây hom 4 tháng tuổi cũng đạt chiều cao ≥ 60cm và có thể đem trồng rừng.
Wang Xianpu (1995), khi nghiên cứu phục hồi hệ sinh thái rừng nhiệt đới bị suy thoái ở Trung Quốc cho rằng Giổi là loài cây sinh trưởng nhanh, việc gây trồng Giổi tương đối dễ dàng, nhưng cần phải lưu ý chọn đất cho phù hợp, rừng trồng sẽ sinh trưởng và phát triển nhanh hơn, đặc biệt Giổi sinh trưởng tốt trên đất thoái hoá đã được cải thiện ở độ cao khoảng 500m so với mực nước biển. Prosea (1998), Giổi là cây có khả năng sinh trưởng nhanh, phù hợp với nhiều loại đất, có thể trồng được theo nhiều phương thức. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu có thể mới chỉ ứng dụng trong phạm vi điều kiện nhất định nào đó. Trong khi đó, những thông tin quan trọng như nhu cầu ánh sáng ở từng giai đoạn sinh trưởng khác nhau của cây Giổi xanh thế nào? biện pháp kỹ thuật nào thì hợp lý? Điều này chưa được chỉ rõ trong các kết quả nghiên cứu.
Từ các kết quả nghiên cứu trên thế giới về chi Giổi cho thấy, hiện trên thế giới hầu như chưa có tác giả nào tập trung nghiên cứu về cây Giổi ăn hạt. Tuy nhiên, các thông tin về đặc điểm sinh thái, kỹ thuật nhân giống, trồng cây Giổi xanh cũng phần nào cung cấp các thông tin hữu ích khi nghiên cứu về cây Giổi ăn hạt. Đã có một số nghiên cứu về đặc điểm hình thái, phân loại, phân bố, sinh thái, đặc điểm vật hậu,….Đây là một trong các thông tin quan trọng là cơ sở cho các nghiên cứu sau này ở các vùng cụ thể. Tuy nhiên một 5 số nghiên cứu khác về loài này lại rất hạn chế như: nghiên cứu về ADN, chọn tạo giống, gây trồng, các nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng loài để làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp phát triển cây Giổi ăn hạt, vì vậy hướng nghiên cứu của đề tài đã phần nào giải quyết được vấn đề tồn tại đó.
Nghiên cứu tại Việt Nam Giổi ăn hạt là loài đặc hữu ở Việt Nam, các thông tin khoa học về loài hiện rất ít có các tài liệu trên thế giới mô tả. Có khá nhiều các công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh thái, đặc điểm nguồn gen, chọn và nhân giống, kỹ thuật trồng. đối với cây Giổi xanh (Michelia mediocris Dandy), nhưng hầu như chưa có nghiên cứu nào cho Giổi ăn hạt. Do cùng thuộc chi Giổi (Michelia), họ Mộc lan (Magnoliaceae) và có các đặc điểm hình thái, sinh thái rất giống với Giổi xanh nên việc tập hợp các nghiên cứu có liên quan tới loài Giổi xanh sẽ góp phần cung cấp nhiều thông tin khoa học hữu ích khi nghiên cứu về cây Giổi ăn hạt.
Nghiên cứu về phân loại và đặc điểm lâm học Các nghiên cứu về chi Giổi tại Việt Nam: Lecomte H. (1907) cho rằng họ Mộc lan gồm 4 chi: Talauma, Manglietia, Magnolia, Michelia, có hàng chục loài phân bố ở Việt Nam với những đặc điểm nguyên thuỷ nổi bật như bao hoa chưa phân hoá, nhị và nhuỵ nhiều. Lê Mộng Chân và cs (1976), Viện Điều tra và Quy hoạch rừng (1970) cho rằng chi Talauma có tới hơn 20 loài, gọi Talauma Gioi A. Chev là Giổi xanh.
Nguyễn Bá Chất (1984, 1998) cho rằng loài Giổi xanh thuộc chi Giổi (Michelia) có tên khoa học là Michelia tonkinnensis A. Triệu Văn Hùng (1991); Nguyễn Tiến Nghênh (1984) cho rằng ở Việt Nam chi Giổi (Michelia) có hơn 30 loài. Võ Văn Chi (1999), Phạm Hoàng Hộ (1999), Nguyễn Tích, Trần Hợp (1971) lại cho rằng ở Việt Nam chi Giổi (Michelia) chỉ có 19 loài. Gần đây, Nguyễn Tiến Bân (2003), Bộ NN&PTNT (2000); 6 Nguyễn Bá Chất (2002), DA LSNG (2007), Hồ Đức Soa (2006), Hoàng Xuân Tý, Nguyễn Đức Minh (2000), Viện KHLN và JICA (2002), Viện KHLN Việt Nam (2010), FIPI (2009), T.
Lim (2012) cho rằng là chi Giổi (Michelia) ở Việt Nam có tới hơn 30 loài, trong đó có loài Giổi xanh hay còn gọi là Giổi tanh có tên khoa học là Michelia mediocris Dandy. Vũ Quang Nam và cộng sự (2009, 2010), khẳng định ở Việt Nam chi Giổi (Michelia) khoảng 21 loài. Vũ Quang Nam và cộng sự (2017), ở Việt Nam, chi Giổi có khoảng 25 loài, phân bố rộng khắp đất nước; đa số các loài được dùng lấy gỗ, làm cảnh; đặc biệt hạt của một số loài được nhân dân dùng làm gia vị và làm thuốc. Có 02 loài giổi có hạt dùng làm gia vị và làm thuốc tạ Việt Nam, đó là: Giổi ăn hạt (Michelia tonkinensis) và Giổi xanh quả to (Michelia citrata).
Tên khoa học của loài Giổi ăn hạt thông dụng ở Việt Nam được xác định - Michelia tonkinensis A. Các tên đồng nghĩa (synonym) của loài này được xác định là Talauma gioi A.) Sima & Hong Yu, Michelia hypolampra Dandy, Magnolia hypolampra (Dandy) Figlar và Michelia hedyosperma Y. Giổi ăn hạt có tên khoa học là Michelia tonkinensisA.Chev thuộc chi Giổi (Michelia), họ Mộc lan (Magnoliaceae). Vị trí của loài Giổi ăn hạt trong hệ thống phân loại được thể hiện như sau: Giới: Plantae Ngành: Mognoliophyta Lớp: Magnoliopsida Họ: Magnoliaceae Chi: Michelia Loài: tonkinensis Nghiên cứu về đặc điểm phân bố (Lê Mộng Chân, 2000; Hoàng Văn Sâm, 2009; Hoàng Thanh Lộc, 2016) các tác giả đều khẳng định Giổi ăn hạt 7 là loài cây đặc hữu của Việt Nam.
Các tác giả (Hoàng Văn Sâm, 2009) cho rằng Giổi ăn hạt phân bố từ Lào Cai đến các tỉnh Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên, tập chung nhiều ở các tỉnh như: Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Phú Thọ, Nghệ An. Kết quả nghiên cứu “Bảo tồn nguồn gen cây Giổi ăn hạt tại huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình” cho thấy Giổi ăn hạt tập trung nhiều ở tỉnh Hòa Bình (Hoàng Thanh Lộc, 2016). Tóm lại, Giổi ăn hạt có phân bố rộng, tập trung ở nhiều tỉnh phía Bắc, Đông bắc,Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên, đây là cơ sở để nghiên cứu khảo nghiệm một số xuất xứ Giổi ăn hạt (Michelia tonkinensis A.) có năng suất, chất lượng cao tại tỉnh Cao Bằng. Lê Đình Phương và Đỗ Anh Tuân (2013) khi nghiên cứu về đặc điểm nơi mọc của Giổi ăn hạt tại Vườn quốc gia Bến En.
Kết quả điều tra theo tuyến và trong các ô tiêu chuẩn cho thấy Giổi ăn hạt chỉ phân bố ở vùng núi đất, tập trung chủ yếu ở các sinh cảnh thung lũng, nơi đất khá chua, hàm lượng mùn và đạm tổng số trung bình. Trong quần xã, Giổi ăn hạt thuộc nhóm loài cây ưu thế chiếm tầng tán trên và thường mọc cùng các loài Ngát vàng, Trường sâng, Giổi bà, và Vàng anh.