Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CÁC CHỈ SỐ HÌNH THÁI VÀ NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ CÁC CHỈ SỐ HÌNH THÁI CỦA HỌC SINH MẦM NON 1. Các chỉ số hình thái cơ bản ở trẻ em Thể lực là một chỉ tiêu dùng để đánh giá sức khoẻ, tầm vóc, sự tăng trưởng, phát triển và khả năng học tập, lao động của con người.
Để đánh giá sự phát triển thể lực, người ta thường dùng các chỉ số về hình thái như chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu. Trong đó, ba chỉ số cơ bản là chiều cao đứng, cân nặng và vòng đầu đóng vai trò quan trọng nhất. Từ các chỉ số cơ bản này, người ta có thể suy ra các chỉ số tổng hợp khác như chỉ số pignet, BMI [7], [8]. Chiều cao của cơ thể là dấu hiệu được nhận xét sớm nhất trong hầu hết các lĩnh vực ứng dụng của nhân trắc học.
Chiều cao của mỗi người được quyết định bởi đặc điểm di truyền, giới tính và chịu ảnh hưởng nhất định của điều kiện sống [7], [10]. Ở trẻ em lứa tuổi mầm non, chiều cao phát triển rất nhanh, nhất là trong những năm đầu. Chiều cao của các em tăng trung bình 7cm/năm ở giai đoạn từ 1 đến 3 tuối, và tăng trung bình 6 cm/năm từ 3 đến 6 tuối [7], [8], [10]. Cùng với chiều cao, cân nặng cũng được coi là một chỉ số quan trọng để đánh giá sự phát triển của cơ thể.
Cân nặng biểu thị mức độ và tỷ lệ giữa hấp thụ với tiêu hao năng lượng của con người. So với chiều cao, cân nặng của cơ thể ít phụ thuộc vào yếu tố di truyền hơn mà có liên quan chủ yếu tới điều kiện dinh dưỡng [7], [8]. Thông thường ở cùng một lứa tuổi, những trẻ em cao hơn thường nặng cân hơn. Trong vòng ba năm đầu, khối lượng cơ thể của các em tăng rất nhanh.
Từ 3 đến 5 tuối, khối lượng cơ thể của các em tăng chậm hơn, tăng trung bình 1,5 kg/năm, nhưng tốc độ tăng tương đối đồng đều [8], [13]. 5 Vòng đầu của trẻ em cũng là những chỉ số có ý nghĩa khi đánh giá sự phát triến cơ thế. Vòng ngực và vòng đầu của trẻ em đều tăng nhanh ở giai đoạn từ 1 đến 3 tuổi, và tăng chậm hơn ở giai đoạn từ 3 đến 5 tuối. Vòng ngực nhỏ hơn vòng đầu lúc 1 tuối, sau đó đuối kịp và cao hơn [2].
Từ các chỉ số chiều cao đứng, cân nặng và vòng ngực có thể tính thêm được chỉ số pignet, BMI của cơ thể. BMI được dùng để đánh giá mức độ gầy hay béo của một người [13]. Từ chỉ số pignet, có thể đánh giá thể lực theo thang phân loại của Nguyễn Quang Quyền và cs [15]. Các nghiên cứu về các chỉ số hình thái trên thế giới Việc nghiên cứu về các chỉ số hình thái, sinh lý người trên thế giới đã được nhiều tác giả thực hiện.
Từ thời cổ đại, Hypocrate đã đưa ra những khái niệm đầu tiên về hình thái, sinh lý cơ thể người. Thế kỉ thứ XIII, Tenon [13] đã xem khối lượng cơ thể là một chỉ số quan trọng để đánh giá hình thái. Các nhà nhân trắc học như Ludman, Volansky, Mold,… cũng đã nghiên cứu mối quan hệ giữa hình thái và môi trường sống [32]. Nhân trắc học hiện đại được Rudofl Martin đặt nền móng qua hai tác phẩm nổi tiếng là “Giáo trình nhân trắc học” và “Kim chỉ nam đo đạc cơ thể và xử lý thống kê”.
Ông đã đề xuất một số phương pháp và dụng cụ đo đạc các kích thước cơ thể mà cho đến ngày nay vẫn đang còn được sử dụng. Các đề xuất của ông sau này đã được bổ sung và hoàn thiện thêm bằng nhiều công trình ở nhiều quốc gia [5]. Song song với sự phát triển của các bộ môn khoa học như sinh lý học, toán học, di truyền học…việc nghiên cứu nhân trắc học ngày càng đa dạng và hoàn chỉnh hơn. Điều này thể hiện qua việc xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu của Tarosov, Tomner, G.
Pedron, Tomieuicz… Việc đi sâu nghiên cứu sự tăng trưởng về mặt hình thái đã cho thấy, cơ thể và các đại lượng có thể đo lường được bằng kĩ thuật nhân trắc. Công trình 6 nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này trên thế giới là của Christian Friedrich Jumpert (1754). Ông đã nghiên cứu về sự tăng trưởng của cơ thể một cách hoàn chỉnh ở các lớp tuổi từ 1 – 25 theo phương pháp cắt ngang. Cũng trong thời gian này, Philibert guenneau de Monbeilard đã tiến hành nghiên cứu về chiều cao theo phương pháp cắt dọc trên con trai mình trong 18 năm liên tục từ khi ra cho đến 18 tuổi (1759 - 1977).
Năm 1977, Hiệp hội Quốc tế của các nhà tăng trưởng học đã được thành lập, đánh dấu một bước phát triển mới trong lĩnh vực nghiên cứu vấn đề tăng trưởng của con người trên thế giới 1. Các nghiên cứu về các chỉ số hình thái ở Việt Nam Ở nước ta việc nghiên cứu về hình thái và sinh lý được bắt đầu từ những năm 30 của thế kỷ XX. Các kết quả nghiên cứu tuy còn khá đơn giản nhưng cũng đã đề cập đến sự tăng trưởng và phát triển của trẻ em ở lứa tuổi học đường.Huard và Bigot đã cho ra đời tác phẩm “Những đặc điểm nhân chủng và sinh học của người Đông Dương”.Huard và Đỗ Xuân Hợp đã cho ra đời tác phẩm “Hình thái học và giải phẩu thẩm mỹ học” vào năm 1943. Mặc dù số lượng chưa nhiều nhưng các tác phẩm này đã phần nào nêu lên được các đặc điểm nhân trắc của con người Việt Nam thời bấy giờ [12].
Từ năm 1954 trở về sau, các công trình điều tra về con người ở Việt Nam được thực hiện nhiều và tương đối toàn diện về mọi mặt, trong đó phải kể đến các tác giả điển hình như Đỗ Xuân Hợp, Nguyễn Quang Quyền, Nguyễn Thị Lệ, Chu Văn Tường, Trần Tích Cảnh…Các công trình này tập trung nghiên cứu các đặc điểm và sự phát triển qua các giai đoạn của người Việt Nam [33]. 7 Năm 1967 và 1972 đã tổ chức hội nghị về chuyên ngành sinh học người do Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ trì. Qua đây, đã tập hợp hàng trăm công trình nghiên cứu về nhân trắc và đã đánh giá được cơ bản về thực trạng sự phát triển thể lực của các lứa tuổi của người Việt Nam ở giai đoạn này. Năm 1975, cuốn sách “Những hằng số sinh học của người Việt Nam” của tập thể các tác giả đã được xuất bản.
Đây là một công trình khá hoàn chỉnh với các thông số về sinh học, sinh lý, hóa sinh của người Việt Nam ở mọi lứa tuổi. Mặc dù đây mới chỉ là các chỉ số sinh học của người Miền Bắc song nó thực sự là chỗ dựa cho các nghiên cứu trên người Việt Nam sau này. Năm 1980, 1982, 1987 Đoàn Yên và các cộng sự đã nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học của người Việt Nam từ 3 – 10 tuổi như chiều cao, cân nặng. Kết quả cho thấy, chiều cao và cân nặng trung bình của người Việt Nam nhỏ hơn so với người châu Âu, châu Mỹ ở mọi lứa tuổi, nhịp độ tăng trưởng chậm, thời kì tăng trưởng kéo dài và bước vào thời điểm tăng trưởng nhảy vọt cũng chậm hơn.
Tác giả cũng đã cho thấy, đa số các kích thước của nam lớn hơn của nữ, các kích thước này tăng dần theo lứa tuổi và đạt giá trị lớn nhất ở lứa tuổi 26-40 (nam) và 18-25 (nữ) [39]. Từ năm 1980 – 1990, Thẩm Thị Hoàng Điệp đã nghiên cứu dọc trên 101 học sinh ở Hà Nội ở lứa tuổi từ 6-17 tuổi với 31 chỉ tiêu nhân trắc học. Tác giả đã rút ra kết luận: chiều cao phát triển mạnh nhất lúc 11-12 tuổi ở nữ và 13-15 tuổi ở nam. Còn cân nặng phát triển mạnh nhất ở nữ lúc 13 tuổi, ở nam lúc 15 tuổi.
Tác giả nhận thấy, có sự gia tăng về chiều cao và cân nặng ở người Việt Nam. Quy luật phát triển các giai đoạn chỉ phù hợp với quy luật phát triển về chiều cao, con quy luật phát triển kích thước các vòng gần giống với quy luật phát triển về cân nặng. Năm 1991, Đào Huy Khuê đã nghiên cứu 36 chỉ tiêu về kích thước, sự tăng trưởng và phát triển của cơ thể của 1478 học sinh từ 6-17 tuổi ở thị xã Hà 8 Đông. Tác giả cho rằng, hầu hết các thông số hình thái đều tăng dần theo tuổi và nhịp độ tăng không đều, tốc độ phát triển các thông số tối đa của nam thường ở lứa tuổi từ 14- 16 tuổi; ở nữ là 11-15 tuổi [16].
Năm 1991-1995 khi nghiên cứu trên 13747 học sinh ở các địa phương là Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thái Bình, nhóm tác giả Trần Văn Dần và các cộng sự đã cho rằng so với dẫn liệu trong cuốn “Hằng số sinh học của người Việt Nam” thì sự tăng chiều cao của trẻ em từ 6-16 tuổi tốt hơn, đặc biệt là với trẻ em ở thành phố, thị xã. Tuy nhiên, sự tăng cân nặng chỉ thấy rõ ở trẻ em Hà Nội. Còn ở khu vực nông thôn chưa thấy có sự thay đổi đáng kể. So với các kết quả nghiên cứu trước, tác giả nhận thấy sau hơn một thập kỉ, học sinh Hà Nội có sự khác biệt rõ về chiều cao và cân nặng, còn học sinh Vĩnh Phúc thì chỉ có sự khác biệt rõ về chiều cao [10], [11].
Năm 1993, Đoàn Yên và các cộng sự đã nghiên cứu trên trẻ em người Kinh và người Mường ở Hà Tây. Tác giả nhận thấy, ở độ tuổi 12-13 các kích thước cơ thể như chiều cao, khối lượng, chỉ số pignet…của nam lớn hơn của nữ [39]. Năm 1994, Nguyễn Đức Hồng đã nghiên cứu “đặc điểm nhân trắc của người Việt Nam ở lứa tuổi lao động giai đoạn 1981-1985” trên 13223 người thuộc cả ba miền đã kết luận, người Việt Nam trong độ tuổi lao động có chiều cao trung bình 163cm ở nam và 153cm ở nữ [13]. Năm 1996, Trần Đình Long và cộng sự đã nghiên cứu đặc điểm cơ thể học sinh phổ thông tại một số trường ở Hà Nội.
Ông cho rằng từ 6-17 tuổi có sự phát triển cơ thể ở cả hai giới đều chậm rõ rệt và chững lại. Cũng vào năm này, Thẩm Thị Hoàng Điệp và cộng sự đã nghiên cứu về chiều cao, vòng đầu, vòng ngực của trên 8000 người Việt Nam từ 1-55 tuổi ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Các tác giả nhận thấy, chiều cao của nam tăng nhanh đến 18 tuổi và của nữ tăng nhanh đến 14 tuổi [21].