Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây dừa (Cocos nucifera L.) là cây công nghiệp lấy dầu quan trọng trên thế giới, được canh tác tại 93 quốc gia thuộc vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Tại Việt Nam, dừa xếp thứ tư trong nhóm cây công nghiệp lâu năm về diện tích (sau cao su, hồ tiêu và điều) với khoảng 175.000 ha, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long chiếm gần 80% diện tích cả nước. Tỉnh Bến Tre được coi là trung tâm sản xuất dừa lớn nhất với diện tích niên vụ 2019 - 2020 đạt 73.997 ha, sản lượng hơn 64.488 tấn và kim ngạch xuất khẩu đạt 346,91 triệu USD (chiếm 26,69% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh).

Tuy nhiên, từ tháng 07/2020, loài sâu đầu đen (Opisina arenosella Walker, họ Xyloryctidae) xuất hiện lần đầu tại huyện Bình Đại và Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Loài sâu ngoại lai này tấn công ăn biểu bì và trung bì lá dừa, tạo đường hầm bằng chất thải và tơ để ẩn nấp, gây thiệt hại trên 70% số lá và làm suy giảm tới 80% năng suất dừa. Tính đến tháng 06/2021, diện tích dừa bị sâu đầu đen gây hại tại Bến Tre đã lên tới 547 ha, trong đó 42% diện tích bị hại nặng, khó phục hồi. Biện pháp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học gặp nhiều hạn chế do tập tính ẩn nấp của sâu, chi phí cao và nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng.

Kết quả điều tra của Lê Khắc Hoàng và cộng sự (2022) ghi nhận 10 loài thiên địch ký sinh và ăn mồi trên sâu đầu đen tại Bến Tre, trong đó ong ký sinh Bracon hebetor (Say, 1836) thuộc họ Braconidae xuất hiện với tần suất cao, thể hiện tiềm năng kiểm soát sinh học lớn. Mặc dù loài ong này đã được nghiên cứu tại Ấn Độ và Thái Lan, nhưng tại Việt Nam chưa có công trình nào xác định đầy đủ các chỉ số hình thái và sinh học của ong trên ký chủ O. arenosella. Do đó, khóa luận tốt nghiệp được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học phục vụ quản lý sinh học loài dịch hại này.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định gồm hai nội dung:

  1. Mô tả các chỉ tiêu cơ bản về đặc điểm hình thái giúp nhận diện ong Bracon hebetor ký sinh trên ấu trùng sâu đầu đen tuổi 6.
  2. Xác định thời gian phát triển các pha và khả năng đẻ trứng của ong Bracon hebetor ký sinh trên ấu trùng sâu đầu đen tuổi 6.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Ong ký sinh Bracon hebetor và ký chủ sâu đầu đen Opisina arenosella (ấu trùng tuổi 6).
  • Không gian nghiên cứu: Phòng thí nghiệm Côn trùng Bộ môn Bảo vệ Thực vật, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh đặt tại Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật tỉnh Bến Tre (thu mẫu ngoài đồng tại tọa độ 106.2084° N).
  • Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 05/2022 đến tháng 11/2022 (giai đoạn thực nghiệm từ tháng 05/2022 đến tháng 10/2022).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu dựa trên cơ sở lý thuyết về côn trùng học nông nghiệp và đấu tranh sinh học, tập trung vào mối quan hệ ký sinh - ký chủ giữa loài ngoại ký sinh (ectoparasitoid) Bracon hebetor và ấu trùng sâu hại bộ Cánh vẩy (Lepidoptera). Cơ chế làm tê liệt ký chủ của B. hebetor được thực hiện thông qua việc bơm nọc độc chứa các polypeptit (BrhTX I, II, IV) và protein (A-MTX, B-MTX), ức chế quá trình xuất bào của túi trước synap thần kinh cơ, làm ngừng hoạt động vận động nhưng không gây chết tim ở nồng độ cực thấp (0,005 ppm). Cơ chế xác định giới tính của B. hebetor thuộc dạng đơn bội - lưỡng bội (arrhenotoky): trứng không thụ tinh phát triển thành cá thể đực đơn bội; trứng thụ tinh mang kiểu gen dị hợp tử phát triển thành cá thể cái lưỡng bội; cá thể mang kiểu gen đồng hợp tử phát triển thành cá thể đực lưỡng bội bất thường (thường chết tới 95% ở giai đoạn phôi/ấu trùng).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được triển khai theo các bước chuẩn hóa:

  • Phương pháp nhân nguồn ký chủ và ong ký sinh: Sâu đầu đen thu thập ngoài đồng được nhân nuôi bằng lá dừa tươi (từ tàu lá số 1 đến số 10) trong hộp nhựa (25 x 15 x 8,5 cm), thay lá 2 ngày/lần để thu thế hệ sâu F1. Ong B. hebetor được nhân nuôi trong hộp có nắp lưới với mật độ 50 ấu trùng sâu đầu đen tuổi 6 và 50 thành trùng ong (tỷ lệ 35 cái : 15 đực) đã giao phối trong 24 giờ, bổ sung mật ong 30%, thu thế hệ F2 để tiến hành thí nghiệm.
  • Thí nghiệm xác định đặc điểm hình thái và sinh học: Cho 30 cặp ong B. hebetor đã giao phối tiếp xúc với 50 ấu trùng tuổi 6 sâu đầu đen trong 24 giờ. Sau đó gắp từng ấu trùng đã bị ký sinh sang hộp nhựa tròn 120 mL và chỉ giữ lại 1 trứng ong/ấu trùng. Bố trí theo dõi lặp lại 50 lần (mỗi lần lặp lại là một cá thể ong). Thiết bị quan sát và đo đạc là kính lúp soi nổi KTST-978PRO KTECK (Đài Loan, độ phóng đại 17x - 110x). Các chỉ tiêu theo dõi gồm hình dạng, màu sắc, kích thước (dài, rộng) của các pha trứng, ấu trùng (1, 2, 3 ngày tuổi), tiền nhộng (1, 2 ngày tuổi), nhộng (1, 2 ngày tuổi), thành trùng đực/cái, sải cánh, đốt chày chân sau, thời gian phát dục từng pha, tỷ lệ hóa nhộng, tỷ lệ vũ hóa và tỷ lệ giới tính đực/cái.
  • Thí nghiệm xác định khả năng ký sinh, đẻ trứng và tuổi thọ: Cho 1 cặp ong B. hebetor 1 ngày tuổi tiếp xúc với 3 ấu trùng sâu đầu đen tuổi 6 trong hộp nhựa tròn 120 mL có nắp lưới. Thay mới ấu trùng sâu đầu đen hằng ngày và bổ sung mật ong 30% cho đến khi ong chết. Thí nghiệm lặp lại 10 lần (mỗi lần lặp lại là một cặp thành trùng). Các chỉ tiêu gồm số trứng đẻ hằng ngày, thời gian đẻ trứng, thời gian sau đẻ trứng và tuổi thọ thành trùng.
  • Điều kiện thí nghiệm đồng nhất: Nhiệt độ phòng thí nghiệm duy trì ở 28 ± 2°C, độ ẩm không khí 70 ± 5%, chế độ chiếu sáng 12 giờ sáng : 12 giờ tối.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Tính toán các giá trị trung bình (TB) và độ lệch chuẩn (SD) bằng phần mềm Microsoft Excel 2010.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 hệ thống hóa các tư liệu nghiên cứu trong và ngoài nước về ba nhóm nội dung chính:

  • Tình hình sản xuất dừa: Tổng hợp số liệu diện tích và sản lượng dừa toàn cầu (Indonesia, Philippines, Ấn Độ chiếm hơn 70% sản lượng thế giới) và thực trạng canh tác dừa tại Việt Nam, đặc biệt là vai trò kinh tế mũi nhọn của cây dừa tại Bến Tre với 182 doanh nghiệp chế biến xuất khẩu đi hơn 90 quốc gia.
  • Sâu đầu đen Opisina arenosella: Lịch sử phân bố từ Ấn Độ (phát hiện năm 1907), Sri Lanka lan rộng ra 16 quốc gia châu Á. Tổng quan đặc điểm hình thái qua các giai đoạn (thành trùng sải cánh 20 - 25 mm, trứng hình elip 0,7 x 0,5 mm, ấu trùng trải qua 5 - 6 tuổi kéo dài khoảng 31 ngày, nhộng 8,3 - 11,7 ngày ở 28°C) và tập tính cắn phá lớp biểu bì tạo đường hầm tơ gây cháy lá dừa. Thành phần thiên địch trên thế giới ghi nhận 38 loài ký sinh, 23 loài ăn mồi, 6 loài gây bệnh (nổi bật là Goniozus nephantidis, Bracon brevicornis, Bracon hebetor).
  • Ong ký sinh Bracon hebetor: Tổng quan nguồn gốc (24 danh pháp đồng danh), phân bố địa lý, phổ ký chủ rộng trên 130 loài côn trùng bộ Cánh vẩy (như Plodia interpunctella, Ephestia kuehniella, Corcyra cephalonica, Helicoverpa armigera). Trình bày cơ chế sinh lý dinh dưỡng, enzym tiêu hóa (alpha-amylase, serine protease), cấu trúc thể mỡ dự trữ năng lượng, nọc độc polypeptit BrhTX, cơ chế di truyền giới tính và các yếu tố ngoại cảnh (nhiệt độ, ẩm độ, mật độ ký chủ) chi phối sự phát triển của ong.

Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết quy trình tổ chức thực nghiệm tại Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật tỉnh Bến Tre:

  • Thiết lập danh mục trang thiết bị, dụng cụ thu mẫu và nuôi cấy côn trùng (lồng lưới 50 x 50 x 50 cm, hộp nhựa 25 x 15 x 8,5 cm, hộp nuôi cá thể 120 mL, kính lúp soi nổi KTST-978PRO KTECK).
  • Quy chuẩn hóa quy trình nhân nuôi nguồn sâu đầu đen F1 từ lá dừa tươi tầng lá 1 - 10 và nhân nuôi ong B. hebetor F2 từ nguồn thu tự nhiên tại Bến Tre.
  • Thiết lập phương pháp bố trí hai hệ thống thí nghiệm định lượng: Thí nghiệm 1 khảo sát hình thái - sinh học (50 lần lặp lại cá thể) và Thí nghiệm 2 khảo sát khả năng sinh sản - tuổi thọ (10 lần lặp lại theo cặp), đồng thời xác định phương pháp ghi nhận kích thước vi phẫu (râu đầu, sải cánh, đốt chày, máng đẻ trứng, dương cụ) và phân tích thống kê mô tả.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày các phát hiện thực nghiệm thông qua các số liệu đo đạc và phân tích sinh học:

  • Đặc điểm hình thái các pha phát dục của B. hebetor:
    • Pha trứng: Trứng mới đẻ màu trắng mờ đục, vỏ nhẵn mỏng, chuyển sang trắng trong sau 20 - 30 giờ; chiều dài trung bình 0,7 ± 0,07 mm, chiều rộng trung bình 0,2 ± 0,03 mm.
    • Pha ấu trùng: Thuộc dạng không chân, không mắt, miệng gặm nhai với 2 gai cứng trên đầu; thân gồm 13 đốt (3 đốt ngực, 9 đốt bụng, 1 đốt hậu môn). Ấu trùng không bài tiết phân trong suốt giai đoạn, kích thước tăng nhanh từ 1,1 mm (1 ngày tuổi) lên 3,5 mm (3 ngày tuổi).
    • Pha tiền nhộng và nhộng: Tiền nhộng dệt kén tơ trắng ngà trong 1 - 2 ngày, bắt đầu thải phân tạo điểm đen ở đầu kén, kích thước trung bình 3,1 - 3,2 mm. Nhộng thuộc dạng nhộng trần, chuyển từ màu vàng nhạt sang nâu đen, kích thước trung bình 3,0 - 3,1 mm chiều dài và 1,2 mm chiều rộng.
    • Pha thành trùng: Cơ thể màu vàng nâu xen kẽ mảng đen, phủ lông tơ ngắn. Con đực dài 3,0 ± 0,18 mm, rộng 0,8 ± 0,07 mm; con cái dài 3,2 ± 0,17 mm, rộng 0,8 ± 0,10 mm.
Pha phát dục Số mẫu theo dõi (N) Chiều dài biến động (mm) Chiều dài TB ± SD (mm) Chiều rộng biến động (mm) Chiều rộng TB ± SD (mm)
Trứng 50 0,53 - 0,83 0,7 ± 0,07 0,16 - 0,26 0,2 ± 0,03
Ấu trùng 1 ngày tuổi 50 0,44 - 1,67 1,1 ± 0,28 0,15 - 0,57 0,4 ± 0,11
Ấu trùng 2 ngày tuổi 50 1,26 - 4,06 2,9 ± 0,70 0,48 - 1,88 1,0 ± 0,25
Ấu trùng 3 ngày tuổi 50 3,14 - 3,92 3,5 ± 0,21 1,09 - 1,39 1,2 ± 0,09
Tiền nhộng 1 ngày tuổi 48 2,83 - 3,79 3,2 ± 0,22 1,04 - 1,39 1,2 ± 0,09
Tiền nhộng 2 ngày tuổi 48 2,83 - 3,47 3,1 ± 0,21 1,01 - 1,31 1,2 ± 0,10
Nhộng 1 ngày tuổi 47 2,70 - 3,38 3,1 ± 0,17 0,98 - 1,38 1,2 ± 0,09
Nhộng 2 ngày tuổi 47 2,41 - 3,31 3,0 ± 0,20 1,03 - 1,40 1,2 ± 0,08
Thành trùng đực 26 2,60 - 3,31 3,0 ± 0,18 0,66 - 0,91 0,8 ± 0,07
Thành trùng cái 21 2,76 - 3,50 3,2 ± 0,17 0,68 - 0,99 0,8 ± 0,10
  • Hình thái phân biệt giới tính và cấu trúc vận động:
    • Râu đầu: Dạng sợi chỉ; thành trùng đực có râu dài hơn với 17 - 20 đốt hình chữ nhật thuôn; thành trùng cái có 11 - 14 đốt hình vuông.
    • Sải cánh và chân: Sải cánh con đực đạt 5,6 ± 0,28 mm; con cái đạt 5,9 ± 0,35 mm. Đốt chày chân sau con đực dài 0,8 ± 0,08 mm; con cái dài 0,9 ± 0,07 mm.
    • Bộ phận sinh dục: Con cái có máng đẻ trứng và ống đẻ trứng (dẫn nọc độc) kéo dài ở đốt bụng thứ 5; con đực có dương cụ dạng phiến dẹt nằm trong đốt bụng thứ 5.
Giới tính Sải cánh biến động (mm) Sải cánh TB ± SD (mm) Đốt chày biến động (mm) Đốt chày TB ± SD (mm)
Thành trùng đực (N=26) 5,10 - 6,21 5,6 ± 0,28 0,64 - 0,93 0,8 ± 0,08
Thành trùng cái (N=21) 4,82 - 6,29 5,9 ± 0,35 0,72 - 0,99 0,9 ± 0,07
  • Đặc điểm sinh học và khả năng sinh sản của B. hebetor:
    • Thời gian phát dục: Pha trứng trung bình 1,7 ± 0,45 ngày; pha ấu trùng 2,2 ± 0,43 ngày; pha tiền nhộng 1,3 ± 0,45 ngày; pha nhộng 4,5 ± 0,51 ngày.
    • Thời gian tiền đẻ trứng: 0,5 ± 0,51 ngày (biến động 0 - 1 ngày).
    • Vòng đời: Thành trùng đực hoàn thành vòng đời trong 9,9 ± 0,86 ngày (biến động 8 - 11 ngày); thành trùng cái là 10,0 ± 0,92 ngày (biến động 8 - 11 ngày).
    • Tỷ lệ sống và giới tính: Tỷ lệ hóa nhộng đạt 97,9%, tỷ lệ vũ hóa đạt 100%, tỷ lệ đực/cái là 1,24.
    • Khả năng đẻ trứng và tuổi thọ: Thành trùng cái đẻ trung bình 36,0 trứng/ngày, số ngày đẻ trứng liên tục là 24,8 ngày, giai đoạn đẻ rộ tập trung từ ngày thứ 4 đến ngày thứ 14 sau vũ hóa; tuổi thọ trung bình của thành trùng cái đạt 25,4 ngày.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đạt được các kết quả định lượng cụ thể trên ký chủ sâu đầu đen Opisina arenosella trong điều kiện 28 ± 2°C, độ ẩm 70 ± 5%:

  • Xác định đầy đủ kích thước và thời gian phát dục của 4 pha sinh trưởng của ong B. hebetor: trứng (1,7 ngày), ấu trùng (2,2 ngày), tiền nhộng (1,3 ngày), nhộng (4,5 ngày), tổng vòng đời dao động 8 - 11 ngày (trung bình 9,9 ngày ở con đực và 10,0 ngày ở con cái).
  • Ghi nhận tỷ lệ phát triển cao với tỷ lệ hóa nhộng 97,9%, tỷ lệ vũ hóa 100%, tỷ lệ giới tính đực/cái là 1,24.
  • Làm rõ tiềm năng sinh sản của thành trùng cái: đẻ trung bình 36,0 trứng/ngày, thời gian đẻ trứng kéo dài 24,8 ngày (giai đoạn đẻ nhiều nhất từ ngày thứ 4 đến ngày thứ 14), tuổi thọ thành trùng cái đạt 25,4 ngày.

Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:

  • Khai thác loài ong ký sinh bản địa Bracon hebetor làm tác nhân sinh học chủ lực trong các chương trình quản lý tổng hợp sâu đầu đen (IPM) hại dừa tại tỉnh Bến Tre và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Ứng dụng quy chuẩn thời gian phát dục (vòng đời ngắn 10 ngày) và nhịp điệu sinh sản (tập trung ngày thứ 4 đến 14) để tối ưu hóa quy trình nhân nuôi số lượng lớn trong phòng thí nghiệm phục vụ thả ngoài đồng.

Đóng góp khoa học:

  • Đây là công trình đầu tiên tại Việt Nam mô tả hình thái chi tiết và xác định hệ thống chỉ tiêu sinh học định lượng của loài ong Bracon hebetor khi ký sinh trực tiếp trên đối tượng dịch hại mới xâm nhập là sâu đầu đen Opisina arenosella.
  • Cung cấp dữ liệu đối sánh quan trọng với các nghiên cứu quốc tế về hiệu suất ký sinh của B. hebetor trên các loài ký chủ bộ Cánh vẩy khác nhau.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận xác định một số hạn chế dựa trên phạm vi nghiên cứu thực tế:

  • Thí nghiệm chỉ được thực hiện trong phạm vi phòng thí nghiệm ở điều kiện nhiệt độ (28 ± 2°C) và ẩm độ (70 ± 5%) cố định, chưa phản ánh đầy đủ tác động của các yếu tố vi khí hậu biến động ngoài đồng ruộng.
  • Nghiên cứu chỉ tập trung đánh giá trên ấu trùng sâu đầu đen tuổi 6, chưa khảo nghiệm đối với các pha tuổi khác của sâu non (tuổi 3, 4, 5).
  • Thời gian thực hiện giới hạn trong 6 tháng (tháng 05/2022 đến tháng 10/2022).

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Đánh giá khả năng ký sinh, lựa chọn ký chủ và tỷ lệ giới tính của ong Bracon hebetor trên các tuổi ấu trùng sâu đầu đen khác nhau (tuổi 3 đến tuổi 5).
  • Thử nghiệm nhân nuôi sinh khối ong B. hebetor trên các ký chủ nhân tạo thay thế trong kho bảo quản (như Corcyra cephalonica hoặc Ephestia kuehniella) nhằm giảm giá thành sản xuất.
  • Khảo nghiệm khả năng phân tán, tỷ lệ ký sinh và hiệu quả kiểm soát mật độ sâu đầu đen khi phóng thích ong B. hebetor trên các vườn dừa thực địa tại Bến Tre.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn cho các đối tượng và mục đích sau:

  • Sinh viên, học viên, nghiên cứu viên: Chuyên ngành Bảo vệ Thực vật, Nông học, Côn trùng học ứng dụng và Sinh học thực nghiệm tham khảo phương pháp bố trí thí nghiệm côn trùng học cá thể và kỹ thuật nuôi ký sinh - ký chủ.
  • Cán bộ kỹ thuật và cơ quan quản lý nông nghiệp: Cán bộ tại Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật, Trung tâm Khuyến nông các tỉnh trồng dừa sử dụng các dữ liệu về vòng đời, tập tính đẻ trứng và tỷ lệ giới tính để xây dựng quy trình nhân sinh khối thiên địch và lịch phóng thích ong ký sinh ngoài đồng.
  • Phần nội dung giá trị nhất: Quy trình nhân nguồn F1 sâu đầu đen và F2 ong ký sinh tại Chương 2; hệ thống bảng số liệu hình thái vi phẫu (Bảng 3.1, Bảng 3.2) và dữ liệu sinh học vòng đời, sức đẻ trứng tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Làm thế nào để phân biệt hình thái giữa thành trùng ong Bracon hebetor đực và cái?
Thành trùng cái có kích thước lớn hơn (dài 3,2 ± 0,17 mm), râu đầu ngắn hơn gồm 11 - 14 đốt hình vuông và có máng đẻ trứng cùng ống đẻ trứng màu đen kéo dài ở cuối bụng. Thành trùng đực có kích thước nhỏ hơn (dài 3,0 ± 0,18 mm), râu đầu dài hơn gồm 17 - 20 đốt hình chữ nhật thuôn, không có máng đẻ trứng, cơ quan sinh dục ngoài là dương cụ dạng phiến dẹt nằm trong đốt bụng thứ 5.

2. Thời gian phát dục từng pha và tổng vòng đời của ong Bracon hebetor trên ấu trùng sâu đầu đen tuổi 6 là bao nhiêu ngày?
Trong điều kiện 28 ± 2°C và ẩm độ 70 ± 5%, thời gian phát dục trung bình của pha trứng là 1,7 ngày, pha ấu trùng là 2,2 ngày, pha tiền nhộng là 1,3 ngày, và pha nhộng là 4,5 ngày. Tổng vòng đời biến động từ 8 đến 11 ngày (trung bình con đực là 9,9 ngày; con cái là 10,0 ngày).

3. Tiềm năng sinh sản và tuổi thọ của thành trùng cái Bracon hebetor đạt mức nào trong nghiên cứu?
Sau giai đoạn tiền đẻ trứng kéo dài trung bình 0,5 ngày, thành trùng cái đẻ trung bình 36,0 trứng/ngày và duy trì đẻ trứng liên tục trong 24,8 ngày. Giai đoạn đẻ trứng rộ nhất diễn ra từ ngày thứ 4 đến ngày thứ 14 sau khi vũ hóa. Tuổi thọ trung bình của thành trùng cái là 25,4 ngày.

4. Tỷ lệ hóa nhộng, vũ hóa và tỷ lệ giới tính của ong Bracon hebetor ký sinh trên sâu đầu đen đạt kết quả ra sao?
Nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ hóa nhộng của ấu trùng ong đạt 97,9%, tỷ lệ thành trùng vũ hóa từ nhộng đạt 100%, và tỷ lệ giới tính đực/cái của thế hệ con xuất hiện là 1,24.

5. Cơ chế làm tê liệt ký chủ của ong Bracon hebetor diễn ra như thế nào?
Thành trùng cái dùng ống đẻ trứng chích và bơm nọc độc chứa các polypeptit BrhTX và protein A-MTX, B-MTX vào cơ thể ấu trùng ký chủ. Nọc độc ức chế quá trình dẫn truyền thần kinh cơ ở mức synap, làm ấu trùng sâu đầu đen bị tê liệt hoàn toàn và không hồi phục trong vòng 15 phút ở nồng độ cực thấp (0,005 ppm), trong khi tuần hoàn tim vẫn duy trì để cung cấp dịch tươi cho ấu trùng ong phát triển.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Lưu đã mô tả toàn diện đặc điểm hình thái và xác định chính xác các chỉ số sinh học của ong ký sinh Bracon hebetor trên ấu trùng sâu đầu đen Opisina arenosella hại dừa tại tỉnh Bến Tre. Với vòng đời ngắn (khoảng 10 ngày), tỷ lệ vũ hóa tuyệt đối (100%), sức đẻ trứng cao (36,0 trứng/ngày) và khả năng làm tê liệt ký chủ nhanh chóng, B. hebetor được chứng minh là loài thiên địch có giá trị ứng dụng thực tiễn cao. Kết quả thực nghiệm này là luận cứ khoa học quan trọng phục vụ việc thiết lập quy trình nhân nuôi hàng loạt và triển khai biện pháp kiểm soát sinh học sâu đầu đen hại dừa tại Việt Nam.