Đặt vấn đề Giảo cổ lam còn gọi là Sắp dạ, Phéc dạ, Dền toòng (tiếng Tày), Mang - đi - a (tiếng Mông), Cam trà vạn, Thất diệp đởm, Ngũ diệp sâm, Trường sinh thảo hay Nhân sâm phương nam. Đây là loại thảo dược quý đã được phát hiện và sử dụng ở nước ta [3]. Giảo cổ lam mọc ở các khu vực có độ cao 200 – 2.000 m trong các khu rừng thưa và ẩm ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và một số nước châu Á. Ở nước ta, Giảo cổ lam được phát hiện tại Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Tuyên Quang và một số địa phương thuộc vùng núi phía Bắc [6].
Năm 1997, Phạm Thanh Kỳ đã phát hiện ra Giảo cổ lam ở nước ta, từ đó có nhiều công trình nghiên cứu về tác dụng của Giảo cổ lam trong chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho con người [8]. Hoạt chất chính trong cây Giảo cổ lam là các nhóm flavonoid và nhóm saponin. Hàm lượng của nhóm saponin trong Giảo cổ lam nhiều gấp 3 – 4 lần so với Nhân sâm. Ngoài ra trong cây Giảo cổ lam còn có một số Vitamin và các khoáng chất như: Kẽm, Sắt, Mangan, Photpho.
Trong những năm gần đây, Giảo cổ lam đã được người dân thu hái để làm rau ăn, làm trà uống; đặc biệt Viện Dược liệu Trung ương và công ty Tuệ Linh đã chế biến Giảo cổ lam thành các sản phẩm hàng hóa như trà lọc, cao, thực phẩm chức năng có tác dụng tốt trong bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho mọi người. Hiện nay việc sử dụng các sản phẩm từ Giảo cổ lam ngày càng phổ biến, cùng với đó, việc khai thác Giảo cổ lam trong tự nhiên với khối lượng lớn, khai thác theo kiểu tận thu đã làm giảm nguồn Giảo cổ lam trong tự nhiên. Giảo cổ lam đã được người dân sử dụng từ lâu đời với tên gọi rau n 2 đắng, phéc dạ, sắp dạ; người dân ở xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể đã sử dụng Giảo cổ lam như một loại rau truyền thống trong các đám cưới, đám hỏi và sử dụng làm trà uống. Trong những năm gần đây, khu vực này là nơi tham quan du lịch nên nhu cầu mua bán loài thảo dược này ngày càng tăng, do đó công tác nghiên cứu đặc điểm hình thái, nhân giống và gây trồng Giảo cổ lam là rất cần thiết, trong đó sử dụng phương pháp giâm hom là một trong những phương pháp nhân giống vô tính Giảo cổ lam để nâng cao hiệu quả trong nhân giống, gây trồng, chế biến phục vụ nhu cầu xã hội là rất cần thiết.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm hình thái phân bố và kỹ thuật nhân giống bằng hom cây Giảo cổ lam 7 lá tại xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn” vừa có cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Mục tiêu nghiên cứu Xác định được đặc điểm hình thái, phân bố và kỹ thuật nhân giống cây Giảo cổ lam bằng phương pháp giâm hom phục vụ công tác gây trồng và bảo tồn loài tại khu vực nghiên cứu. Ý nghĩa của đề tài 3. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học để nghiên cứu, phân loại và tuyển chọn loài Giảo cổ lam trong sản xuất.
Đồng thời bổ sung hoàn thiện kỹ thuật nhân giống loài Giảo cổ lam bằng phương pháp giâm hom. Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ xung thêm tài liệu cho công tác nghiên cứu khoa học, tài liệu giảng dạy, tài liệu tham khảo về cây Giảo cổ lam. Ý nghĩa thực tiễn - Về kinh tế: Nhu cầu sử dụng các loại thảo dược để chữa bệnh, nâng cao sức khỏe hiện nay ngày càng tăng. Quỹ đất trồng và nguồn lao động miền núi n 3 rất lớn, đây là cơ hội để người dân miền núi sản xuất cây Giảo cổ lam theo hướng hàng hóa, cải thiện và phát triển kinh tế hộ gia đình.
- Về xã hội: Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, phân biệt được loài Giảo cổ lam với các loài có đặc điểm tương đồng không sử dụng được hoặc ít sử dụng. Đồng thời xác định kỹ thuật nhân giống thích hợp góp phần nhân nhanh giống cây Giảo cổ lam, đáp ứng nhu cầu làm dược liệu mà thực tiễn đặt ra. - Về môi trường: Đề tài góp phần bổ sung nguồn tư liệu về đa dạng sinh học thực vật, nguồn gen cây Giảo cổ lam ở nước ta. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.
Nguồn gốc và phân loại 2. Nguồn gốc Trên thế giới, Giảo cổ lam được phát hiện ở độ cao 200 - 2000 m, trong các khu rừng thưa và ẩm tại Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Indonexia, Triều Tiên và một số nước châu Á khác [15, 18, 22]. Ở Việt Nam, năm 1997 Phạm Thanh Kỳ (Đại học dược Hà Nội) đã phát hiện cây Giảo cổ lam trên núi Phan – xi - păng (Lào Cai) và được Vũ Văn Chuyên (Đại học dược Hà Nội) xác định đúng là loại Gynostemma pentaphyllum Thunb [14]. Trong đợt nghiên cứu, khảo sát nguồn dược liệu ở các vùng núi cao phía Bắc, cán bộ thuộc Trung tâm nghiên cứu cây thuốc Tuệ Linh cùng với Phạm Thanh Kỳ đã phát hiện một quần thể cây Giảo cổ lam mọc hoang dại với trữ lượng lớn tại vùng núi cao thuộc huyện Mèo Vạc – Hà Giang và huyện Bảo Lạc – Cao Bằng [21].
Việc phát hiện quần thể cây Giảo cổ lam tại vùng núi Cao Bằng và Hà Giang đã chứng tỏ sự đa dạng về nguồn tài nguyên cây thuốc ở các tỉnh miền núi nước ta. Phân loại Kết quả giám định loài Giảo cổ lam nằm trong hệ thống phân loại thực vật như sau: - Ngành hạt kín: Angiospermae - Lớp hai lá mầm: Dicotylenodae - Bộ thực vật: Bầu bí - Curcubitales - Họ thực vật: Bầu bí - Curcbitaceae - Loài Giảo cổ lam 5 lá: Gynostemma pentaphyllum (Thunb. n 5 - Loài Giảo cổ lam 7 lá: Gynostemma pubescens (Gagnep) C. - Loài Giảo cổ lam 9 lá: Gynostemma sp.
* Phân loại thảo dược trong họ Curcubitaceae: Họ Bầu bí (Curcubitaceae) có tổng số gần 90 chi, trên dưới 700 loài, trong đó có khoảng 50 loài có tác dụng chữa bệnh được sử dụng trong Đông y. Các loài thực vật trong họ Bầu bí có một số đặc điểm chính như thân có các tua cuốn, phần lớn lá có chia thùy, có lông tuyến. Hoa thật, cánh hoa màu vàng hay trắng. Quả dạng bầu bí [13, 14, 16].
Ở phương Đông, một số nơi đã sử dụng các loài trong họ Bầu bí để chữa bệnh, nhờ hoạt chất Curcubitacin có trong thân lá. Một số minh chứng cho thấy Curcubitacin là hoạt chất chính có tác dụng ức chế khối u thận, khối u não và các khối u ác tính. Ở khu vực Thái Bình Dương, quả của một số loài trong họ Curcubitaceae được dùng làm lợi tiểu, hạ sốt, giảm viêm nhiễm, chống độc, trị bệnh vàng da, tiểu đường và sử dụng làm thuốc an thần [13, 14]. * Một số loài có tác dụng chữa bệnh trong họ Curcubitaceae - Gymnopentalum cochichinensis (Lour .), Cây cứt quạ.
+ Đặc điểm: Gymnopentalum cochichinensis (Lour.) có dạng cỏ bò, thân mảnh, có tua cuốn. Lá có phiến nhám, có tuyến và lông thưa. Hoa có dạng đơn tính đồng chu. Hoa đực mọc thành chùm, có cánh trắng, kích thước khoảng 3 cm, các bao phấn dính nhau.
Quả nạc, hình bầu dục, khi chín có màu đỏ, dài 3 – 5 cm, mặt quả có gân. Hạt màu nâu, dài 7 – 8 mm [13], [16]. + Phân bố: Gymnopentalum cochichinensis (Lour.) có ở Lào, Campuchia, Malaysia, Trung Quốc… Ở nước ta, cây mọc ở các khu rừng tái sinh, các khu đất hoang từ Bắc vào Nam. n 6 + Tác dụng chữa bệnh: Ở Lào, Campuchia, Gymnopentalum cochichinensis (Lour.) được sử dụng làm thuốc cho phụ nữ sau khi sinh.
Ở Malaysia, nước sắc của lá dùng để chống ngộ độc của các loại quả. Nước ép từ lá cây được sử dụng để làm giảm viêm mắt. Ở Trung Quốc, Gymnopentalum cochichinensis (Lour.) được gọi là Jin gua. Tuy nhiên các hoạt chất trong chi Gymnopentalum vẫn chưa được tìm hiểu [16].
Cây đài hái, sén. + Đặc điểm: Hodgsonia macrocarpa (Bl) là loài dây leo, thân to, có tua cuốn. Lá đơn nguyên, kích thước 18 – 25 cm, không có lông, cuống lá dài 5 – 8 cm. Hoa đơn tính đồng chu.
Hoa đực mọc thành chùm, tràng hoa hình ống. Quả to, thịt quả nạc, trắng. + Phân bố: Trên Thế giới, cây mọc ở một số nước trong khu vực Đông Nam Á. Nước ta, cây mọc trong các khu rừng thưa từ Vĩnh Phú tới Đồng Nai [13, 14, 16].
+ Tác dụng: Ở Indonexia, dầu ép từ hạt dùng để đốt, xông và dịch ép từ thân trị bệnh lở mũi. Ở Malaysia, Hodgsonia macromarpa (Bl) được dùng để chữa bệnh lở mũi. Dầu chiết từ hạt dùng để trừ muỗi. Những người trong bộ tộc Mlay uống nước sắc từ lá và dùng lá cây đốt xông mũi.
Nước sắc từ lá cây còn được uống để hạ sốt [16]. Đặc điểm thực vật của chi Gynostemma Chi Gynostemma chủ yếu là các cây thảo, thân leo, nhẵn hoặc có lông mịn. Lá có cuống với phiến chân vịt gồm 3 – 5 lá chét, ít khi có 1 lá chét. Lá chét hình xoan – ngọn giáo.
Các đốt thân có tua cuốn. Cụm hoa đực dài, gồm nhiều hoa nhỏ; hoa hình sao, màu trắng hay lục nhạt; cuống hoa mang lá bắc ở gốc; đế hoa dẹt, có 5 lá đài nhỏ; hoa 5 cánh, hình mũi dùi – ngọn giáo hoặc hình xoan thuôn, nhọn ở đỉnh. Bộ nhị gồm 5 chỉ nhị dính thành cột; bao phấn đều, dính với nhau. Cụm hoa cái giống cụm hoa đực nhưng dài hơn; hoa cái n 7 có bầu 2 - 3 ô, hình cầu, mỗi ô có 2 – 3 noãn treo; đầu nhụy xẻ 3.
Quả mọng hình cầu, không mở, chứa 2 – 3 hạt. Hạt hình trứng, hơi dẹp. Ở châu Á có khoảng 4 – 5 loài, nước ta có 2 loài như sau. Gynostemma laxum (Wall.) * Đặc điểm: Là cây thảo mọc leo, lóng dài 10 – 20 cm.
Thân có các tua cuốn. Lá mỏng, gồm có 3 lá chét, lá giữa dài 10 – 12 cm, mép lá có răng cưa nhọn, lá có 5 – 7 đôi gân bên, có hoặc không có lông. Cây ra hoa tháng 5, hoa đơn tính khác gốc. Cụm hoa đực có khi dài đến 30 cm; hoa nhỏ, kích thước khoảng 3 mm; bộ nhị gồm 5 nhị dính với nhau ở chỉ nhị và bao phấn.
Quả tròn, kích thước 6 – 8 mm, màu lục vàng. Mỗi quả có 2 – 3 hạt hình trái xoan, kích thước khoảng 4 mm [2, 3]. * Phân bố: Gynostemma laxum (Wall.) có ở Ấn Độ, Myanma, Trung Quốc, Thái Lan.