MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông được thành lập năm 1999, với diện tích 17.320 ha phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và 4.343 ha phân khu phục hồi sinh thái. Pù Luông là tên gọi của đồng bào dân tộc Thái có nghĩa là đỉnh núi cao nhất trong vùng. Pù Luông được đánh giá là khu bảo tồn thiên nhiên có giá trị về khoa học, kinh tế xã hội và du lịch sinh thái.
Cùng với Pù Hu, rừng ở khu vực Pù Luông đóng vai trò quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn sông Mã ở tỉnh Thanh Hóa. Cách vườn quốc gia Cúc Phương 25 km, được nối liền với phần đuôi của vườn quốc gia Cúc Phương bằng hai dãy núi đá vôi màu xám chạy song song. Ở giữa là những thung lũng lúa. Phía Bắc và Đông Bắc của khu bảo tồn Pù Luông giáp các huyện Mai Châu, Tân Lạc và Lạc Sơn của tỉnh Hòa Bình.
Kéo dài từ phía Tây xuống phía Nam của khu bảo tồn là dòng sông Mã, từ điểm giáp giới của huyện Quan Hóa với huyện Mai Châu (tỉnh Hòa Bình) qua khu vực thị trấn Quan Hóa xuống gần thị trấn Cành Nàng (Bá Thước). Cách thành phố Thanh Hoá khoảng 130 km về phía Tây Bắc, cách Hà Nội khoảng 210 km, thuộc địa phận hai huyện Quan Hoá và Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá. Pù Luông bao gồm các phần đất thuộc 5 xã huyện Quan Hoá: Phú Lệ, Phú Xuân, Thanh Xuân, Hồi Xuân, Phú Nghiêm và 5 xã huyện Bá Thước: Thành Sơn, Thành Lâm, Cổ Lũng, Lũng Cao và xã Ban Công. Rừng nguyên sinh tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông là loại rừng kín nhiệt đới thường xanh theo mùa.
Năm loại kiểu phụ rừng chính tồn tại do kết quả của sự đa dạng độ cao và các tầng chất nền: rừng lá rộng đất thấp trên núi đá vôi (60 – 700 m); rừng lá rộng đất thấp trên các phiến thạch, sa thạch và đất sét (60 – 1.000 m); rừng lá rộng chân núi đá vôi (700 – 950 m); rừng lá kim chân núi đá vôi (700 – 850 m) và rừng lá rộng chân núi Bazan (1. Khu 1 bảo tồn cũng tồn tại các thảm rừng thứ sinh như rừng tre nứa, cây bụi và đất nông nghiệp. Khu bảo tồn có hệ động thực vật phong phú, đa dạng về số lượng và chủng loại với 598 loài động vật thuộc 130 họ động vật có xương sống, trong đó có 51 loài quý hiếm (gồm 26 loài thú, 5 loài dơi, 6 loài chim, 5 loài cá nước ngọt, 6 loài bò sát). Về khu hệ động vật có xương sống, một báo cáo cho biết có tổng số 84 loài thú (gồm cả 24 loài dơi), 162 loài chim, 55 loài cá, 28 loài bò sát và 13 loài ếch nhái đã được ghi nhận.
Khu hệ côn trùng tại Pù Luông có ít nhất là 158 loài bướm, 96 loài thân mềm trên cạn, trong đó có 12 loài thân mềm có thể là đặc hữu cho khu vực. Khu bảo tồn này là nơi cư trú của báo gấm, báo lửa, hươu sao, gấu ngựa, sơn dương, voọc quần đùi trắng. Nghiên cứu về hệ lưỡng cư ở KBTTN Pù Luông còn hạn chế, ít có công trình công bố chính thức. Các nghiên cứu trước đây tập trung chủ yếu vào đa dạng thành phần loài; nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh thái; chưa có mô tả nào về các loài lưỡng cư nói chung, Họ ếch nhái (Dicroglossidae) và Họ ếch nhái chính thức (Ranidae) nói riêng.
Từ những lý do trên tôi chọn đề tài “Nghiên cứu đặc điểm hình thái của một số loài lưỡng cư thuộc Họ Dicroglossidae và Họ Ranidae ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa”. Đây là vấn đề rất cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Mục tiêu Xác định được đặc điểm hình thái của các cá thể trưởng thành và mô tả được nòng nọc của một số loài thuộc Họ ếch nhái (Dicroglossidae) và Họ ếch nhái chính thức (Ranidae) ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa. Nội dung nghiên cứu 3.
Nghiên cứu đặc điểm hình thái của các cá thể trưởng thành và đặc điểm hình thái nòng nọc của một số loài thuộc Họ ếch nhái (Dicroglossidae) và Họ ếch nhái chính thức (Ranidae) ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông. Mô tả đặc điểm hình thái con trưởng thành các loài lưỡng cư thuộc đối tượng nghiên cứu đã xác định được ở khu vực nghiên cứu. Ý nghĩa khoa học Cung cấp dẫn liệu về thành phần loài Họ ếch nhái và Họ ếch nhái chính thức tại Khu BTTN Pù Luông từ đó làm cơ sở khoa học cho công tác quản lý bảo tồn và khai thác bền vững nhóm động vật này. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Sơ lược nghiên cứu về Họ ếch nhái (Dicroglossidae) và Họ ếch nhái chính thức (Ranidae) trên thế giới Họ Ếch nhái là một họ động vật lưỡng cư trong bộ Anura. Họ này có khoảng 362 loài. Chúng có phạm vi phân bố rộng nhất trong các họ ếch và có mặt ở hầu hết các châu lục trừ Nam Cực [59]. Họ Ranidae phân bố ở Bắc Mỹ, bắc Nam Mỹ, Châu Âu, Châu Á, Madagascar, Châu Phi, từ Đông Ấn đến New Guinea [59].
Họ Dicroglossidae phân bố ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới châu Phi và châu Á, kéo dài từ tây bắc và hạ Sahara, châu Phi đến bán đảo Ả Rập, Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ tới Nepal, Malaya, Sri Lanka; phía đông qua Nepal và Myanma tới tây và nam Trung Quốc, Đông Dương, các đảo thuộc Sunda; Philippines; Nhật Bản. Đồng thời ghi nhận tại tại Papua New Guinea [60]. Mặc dù phân bố bản địa của chúng ở thời điểm hiện tại rất lớn, bằng chứng phát sinh loài chỉ ra rằng Ranidae (cùng với họ hàng gần nhất của chúng, họ Dicroglossidae) có nguồn gốc Gondwanan , đã tiến hóa ở Insular India trong kỷ Phấn trắng. Chúng hoàn toàn bị giới hạn trong tiểu lục địa Ấn Độ cho đến cuối Eocen , khi Ấn Độ va chạm với châu Á , cho phép họ Ranidae xuất hiện ở Âu - Á và cuối cùng là phần còn lại của thế giới.
Cho đến nay, trên thế giới hiện đã ghi nhận được khoảng 6.433 loài ếch nhái thuộc 59 họ, 3 bộ, trong đó: bộ Không đuôi (Anura) có 5.679 loài, 47 họ; bộ có đuôi (Caudata) 580 loài, 9 họ; bộ Không chân (Gymnophiona hay Apoda) có 174 loài, 3 họ (Frost, 2009). Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng: Rừng nhiệt đới là nơi đa dạng nhất về thành phần loài ếch nhái. Ví dụ, Thái Lan là một trong các quốc gia nằm trong vùng nhiệt đới và được đánh giá có khu hệ ếch nhái khá phong phú. Theo thống kê, tổng số có 130 loài ếch nhái, thuộc 8 họ và 3 bộ được ghi nhận ở nước này.
Tương tự, Trung Quốc cũng là một quốc gia có tính đa dạng cao về các loài ếch nhái. Theo thống kê 4 của Zhao và Adler (1993), tổng số 274 loài ếch nhái, thuộc 11 họ và 3 bộ đã được ghi nhận tại Trung Quốc. Trong đó, bộ Không đuôi có 250 loài (chiếm 91,24%) thuộc 7 họ, bộ Có đuôi 23 loài thuộc 3 họ và bộ Không chân chỉ có 1 loài. Một ví dụ nữa chứng minh cho nhận định về tính đa dạng của các loài ếch nhái tại khu vực nhiệt đới đó là Ấn Độ.
Berkeley (2009) đã thống kê được 213 loài ếch nhái thuộc 10 họ, 3 bộ. Trong số 213 loài thì có 27 loài thuộc họ Megophryidae, 35 loài thuộc họ Bufonidae, 33 loài thuộc họ Microhylidae, 55 loài thuộc họ Ranidae, 43 loài thuộc họ Rhacophoridae và 7 loài thuộc họ Ichthyophiidae [35]. Sơ lược nghiên cứu ếch nhái ở Việt Nam. Tổng hợp đầu tiên về khu hệ ếch nhái miền Nam Việt Nam được thực hiện bởi Morice (1875), tác giả đã thống kê được 13 loài ếch nhái.
So với Morice (1875), số loài tác giả phát hiện được nhiều hơn do mở rộng khu vực nghiên cứu [35]. Trong số các nhà nghiên cứu người Pháp (thời kỳ Pháp thuộc), những người đặc biệt quan tâm nghiên cứu đến ếch nhái ở Việt Nam có thể kể đến là: Vaillant (1834 - 1914), Mocquard (1834 - 1917), Pellegrin (1873 - 1944), Chabanaud (1876 - 1959), Angel (1881 - 1950) và Bourret (1884 - 1957). Bourret là nhà khoa học dẫn đầu trong lĩnh vực nghiên cứu ếch nhái ở Đông Dương. Ông đã viết một số lượng lớn các bài báo và sách về ếch nhái ở Việt Nam: Năm 1937, Bourret đã công bố loài Ophryophryne poilani thu được ở Quảng Trị, Quảng Bình.
Năm 1939, ông công bố 12 loài ếch nhái, bò sát trong đó có các loài: Ophryophryne microstoma, Huia nasia, Rana kuhlii, Rhacophorus leucomystax và Philautus banaensis. Năm 1942, trong chuyên khảo về ếch nhái Đông Dương, Bourret đã ghi nhận thêm 4 loài ếch nhái: 5 Rana kokchangae, Rana verrucospinosa, Megophrys longipes, Philautus petersi. Các kết quả nghiên cứu của ông trong giai đoạn này được viết thành cuốn “Les batraciens de L’Indochine (Ếch nhái ở Đông Dương) xuất bản năm 1942 (Bourret, 1942), trong công trình này, ông đã tổng kết ở Đông Dương có 171 loài ếch thuộc 9 họ và 3 bộ, trong đó có 2 loài thuộc bộ Không chân (Gymnophiona), 4 loài thuộc bộ Có đuôi (Caudata), 165 loài thuộc bộ Không đuôi (Anura). Trong số 171 loài, có 59 loài thuộc 9 họ, 3 bộ phân bố ở Việt Nam.
Bourret cũng đã ước lượng có 82 loài ếch nhái xuất hiện ở Việt Nam [58]. Trong giai đoạn từ năm 1945 – 1954 không có ghi nhận mới cho khu hệ ếch nhái ở Việt Nam do bị ảnh hưởng của chiến tranh. Sau khi miền Bắc Việt Nam được giải phóng (năm 1954) và từ năm 1956 nghiên cứu ếch nhái lại được tiếp tục và ngày càng được đẩy mạnh. Trong thời gian này, các công trình nghiên cứu về ếch nhái chủ yếu do các nhà khoa học Việt Nam đảm nhiệm.
Kết quả điều tra ếch nhái ở miền Bắc của Trần Kiên và cộng sự từ năm 1956 đến 1976 đã ghi nhận 68 loài ếch nhái. Nghiên cứu về ếch nhái được đẩy mạnh đặc biệt từ những năm 1990 trở lại đây. Việc thành lập các VQG, Khu BTTN đã đòi hỏi phải tiến hành khảo sát và đánh giá tổng thể về hiện trạng nguồn tài nguyên sinh vật nhằm tạo lập cơ sở khoa học cho việc xây dựng phương án quản lý. Vì vậy, danh lục các loài động vật trong đó có thành phần loài ếch nhái đã được công bố, bổ sung qua nhiều đợt khảo sát của nhiều chuyên gia trong và ngoài nước qua các dự án nghiên cứu ở các khu như: Hoàng Liên (Ohler et al.