Tổng quan luận án
Khớp thái dương hàm (TDH) là cấu trúc giải phẫu học phức tạp của hệ thống nhai, được hợp thành bởi diện khớp của xương thái dương (gồm hõm khớp và lồi khớp thuộc nền sọ), lồi cầu xương hàm dưới cùng hệ thống đĩa khớp, bao khớp và dây chằng. Hai khớp thái dương hàm nằm ở hai bên vùng hàm mặt, tương đối độc lập về mặt cấu trúc nhưng liên thuộc chặt chẽ trong các vận động chức năng gồm quay, xoay và trượt. Tình trạng rối loạn khớp thái dương hàm thuộc phân nhóm rối loạn cơ - xương - thần kinh theo phân loại đau miệng - mặt của Bell. Các nghiên cứu dịch tễ ghi nhận rối loạn thái dương hàm khá phổ biến ở người trẻ: tại Hoa Kỳ ở lứa tuổi 20–40 (Lueeuw, 2008); tại Việt Nam ghi nhận chiếm 22,8% ở lứa tuổi 12 và chiếm 64,9% ở lứa tuổi 18–54.
Trong thực hành lâm sàng, việc đánh giá khớp thái dương hàm chủ yếu dựa vào các dấu chứng cơ năng và thực thể, thiếu các dữ liệu hình ảnh định lượng chuẩn xác. Các kỹ thuật X quang kinh điển (chiều thế xuyên sọ, xuyên hốc mắt, xuyên hầu, chụp toàn cảnh, chụp cắt lớp tuyến tính) đều bộc lộ hạn chế do hiện tượng trùng chập cấu trúc nền sọ (vùng đá xương thái dương, mỏm chũm, lồi khớp) và biến dạng hình học 2D. Kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính (CT) có liều chiếu xạ cao và chi phí lớn, trong khi cộng hưởng từ (MRI) chỉ tối ưu cho mô mềm và đĩa khớp. Sự phát triển của kỹ thuật chụp cắt lớp điện toán chùm tia hình nón (CBCT) cho phép tái tạo hình ảnh 3 chiều với tỷ lệ thực 1:1, độ phân giải cao và liều bức xạ thấp theo nguyên tắc ALARA. Tại Việt Nam, trước thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình nào khảo sát toàn diện đặc điểm hình thái và vị trí khớp thái dương hàm không triệu chứng trên 3 mặt phẳng không gian bằng CBCT ở người trưởng thành.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 3 nội dung:
- Xác định đặc điểm hình thái lồi cầu xương hàm dưới người Việt trưởng thành có khớp TDH không triệu chứng trên hình ảnh CBCT.
- Xác định đặc điểm hình thái hõm khớp và lồi khớp của khớp TDH không triệu chứng người Việt trưởng thành trên hình ảnh CBCT.
- Xác định vị trí lồi cầu xương hàm dưới người Việt trưởng thành có khớp TDH không triệu chứng ở tư thế lồng múi tối đa và tư thế há tối đa.
Đối tượng nghiên cứu là các cá thể người Việt trưởng thành từ 18 tuổi trở lên, có khớp thái dương hàm không triệu chứng lâm sàng. Nghiên cứu được thực hiện tại Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, hoàn thành năm 2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Lịch sử chẩn đoán hình ảnh khớp thái dương hàm phát triển qua nhiều giai đoạn. Schüller (1905) đề xuất chiều thế chụp xuyên sọ nhằm giảm thiểu sự trùng chập của nền sọ lên diện khớp. Các kỹ thuật chụp xuyên hốc mắt, chụp xuyên hầu và X quang toàn cảnh (Deman, 2014) được ứng dụng trong thăm khám ban đầu nhưng còn hạn chế về độ phân giải và biến dạng quang học. Kỹ thuật chụp khớp có thuốc cản quang (Helms, 1990) từng là phương thức đánh giá đĩa khớp trước khi MRI ra đời, nhưng có tính xâm lấn cao. Chụp cắt lớp vi tính (CT) được Wegener và cộng sự ứng dụng từ năm 1978 để đánh giá mô xương nhưng chịu hạn chế về liều tia và nhiễu ảnh kim loại. Chụp cộng hưởng từ (MR) từ thập niên 1980 đạt độ chính xác 95% trong đánh giá đĩa khớp nhưng cung cấp ít thông tin về cấu trúc xương (Whyte, 2006). Kỹ thuật CBCT (Scarfe, 2008; Tsiklakis, 2004; Kim, 2014) sử dụng chùm tia hình nón và cảm biến phẳng, cho phép khảo sát cấu trúc xương theo 3 mặt phẳng định hướng không gian: đứng dọc, đứng ngang và ngang.
Về hình thái lồi cầu, Yale và cộng sự (1963) phân loại lồi cầu thành 5 dạng trên mặt phẳng đứng ngang (bầu dục, phẳng, tam giác, tròn và dạng khác). Tadej (1987) ghi nhận kích thước lồi cầu ở nam lớn hơn ở nữ. Solberg (1986), Matsumoto và Bolognese (1994, 1995), Burke (1998), Estomaguio (2005), Saccucci (2012), Tecco (2010) và Park (2015) khảo sát mối tương quan giữa hình thái lồi cầu với kiểu hình mặt và các dạng sai khớp cắn. Về vị trí lồi cầu và khoảng gian khớp, Pullinger và Senner (1987) khảo sát 74 khớp không triệu chứng, ghi nhận 43% lồi cầu ở vị trí trung tâm, 27% lui sau và 30% ra trước. Ikeda (2009, 2011, 2013) chuẩn hóa phương pháp đo khoảng gian khớp trên 3 mặt phẳng (đứng dọc: AS, SS, PS; đứng ngang: CLS, CCS, CMS; ngang: ALS, AMS). Rodrigues (2009) và Vitral (2011) nghiên cứu tính đối xứng của lồi cầu giữa hai bên phải - trái.
Về hõm khớp và lồi khớp, Quirch (1966), Sulun (2001), Sumbullu (2012), Katsavrias và Dibbets (2001), Çağlayan (2014) khảo sát độ sâu hõm khớp và độ nghiêng lồi khớp. Tsuruta (2003), Honda (2005), Ejima (2013), Kijima (2007), Reddy (2013) và Al-koshab (2015) đo đạc chiều dày trần hõm khớp (RGF) từ 0,5 đến 3,6 mm. Hiện tượng hốc khí ở lồi khớp (Pneumatized Articular Eminence) được khảo sát bởi Tremble (1934), Tyndall và Matteson (1985), Miloglu (2011) và Yavuz (2009). Vận động lồi cầu ở tư thế há tối đa được phân loại bởi Takatsuka (2005), dos Anjos Pontual (2012) và Juca (2009).
Luận án giải quyết khoảng trống dữ liệu thực chứng về các chỉ số hình thái học 3 chiều, khoảng gian khớp và biên độ dịch chuyển lồi cầu ở người Việt trưởng thành có khớp thái dương hàm bình thường không triệu chứng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án ứng dụng lý thuyết giải phẫu học và sinh cơ học khớp thái dương hàm (Hoàng Tử Hùng, 2005; Tamimi, 2016). Các khái niệm và khung phân tích chuẩn hóa gồm:
- Phân loại 5 dạng hình thái lồi cầu theo Yale và cộng sự (1963).
- Phương pháp đo khoảng gian khớp trên mặt phẳng đứng dọc (AS, SS, PS), đứng ngang (CLS, CCS, CMS) và ngang (AMS, ALS) theo Ikeda (2009, 2011).
- Công thức xác định di lệch lồi cầu của Ikeda: $\text{Tỷ số} = \frac{PS - AS}{PS + AS} \times 100%$. Vị trí trung tâm tuyệt đối là 0%; từ -12% đến +12% là vị trí trung tâm; > +12% là ra trước; < -12% là lui sau.
- Tiêu chuẩn phân loại vị trí lồi cầu theo Pullinger và Senner (1987).
- Đo độ nghiêng lồi khớp bằng phương pháp mặt phẳng tiếp xúc (The best-fit method) và phương pháp trần - đỉnh (The top-roof line method) so với mặt phẳng Frankfort.
- Phân loại hốc khí lồi khớp thành đơn hốc và đa hốc theo Tyndall và Matteson (1985), Miloglu (2011).
- Phân loại dịch chuyển lồi cầu ở tư thế há tối đa theo Juca (2009) gồm: kém (sau lồi khớp), bình thường (ngay dưới lồi khớp) và quá mức (ra trước lồi khớp).
- Nguyên tắc tối ưu hóa liều bức xạ ALARA theo khuyến cáo của AAOMR.
Về phương pháp thực hiện:
- Thiết kế nghiên cứu: Cắt ngang mô tả.
- Tiêu chuẩn chọn mẫu: Đối tượng từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt giới tính; không có bệnh sử hay triệu chứng lâm sàng khớp TDH; chưa từng điều trị chỉnh hình răng mặt hay mài chỉnh khớp cắn; không bất cân xứng xương hàm dưới; không có tiền sử chấn thương vùng mặt hay cằm.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Tiền sử gãy xương hoặc phẫu thuật khớp TDH; phụ nữ mang thai; có sai khớp cắn ở tư thế lồng múi tối đa; hình ảnh CBCT bị rung nhòe do cử động.
- Cỡ mẫu: Áp dụng công thức ước lượng trung bình với xác suất sai lầm loại 1 $\alpha = 0{,}05$ ($Z_{1-\alpha/2} = 1{,}96$), sai số biên $d = 0{,}1\text{ mm}$, độ lệch chuẩn tham chiếu từ Ikeda (2009, 2011). Cỡ mẫu tối thiểu được xác định là 140 cá thể.
| Mặt phẳng khảo sát |
Vị trí khoảng gian khớp |
Giá trị tham chiếu (mm) |
Tác giả tham chiếu |
Cỡ mẫu tính toán |
| Mặt phẳng đứng dọc |
Trước (AS) |
1,3 ± 0,2 |
Ikeda (2009) |
15,4 |
| Mặt phẳng đứng dọc |
Trên (SS) |
2,5 ± 0,5 |
Ikeda (2009) |
96,0 |
| Mặt phẳng đứng dọc |
Sau (PS) |
2,1 ± 0,3 |
Ikeda (2009) |
34,6 |
| Mặt phẳng đứng ngang |
Ngoài (CLS) |
1,8 ± 0,4 |
Ikeda (2011) |
61,4 |
| Mặt phẳng đứng ngang |
Trên (CCS) |
2,7 ± 0,5 |
Ikeda (2011) |
96,0 |
| Mặt phẳng đứng ngang |
Trong (CMS) |
2,4 ± 0,5 |
Ikeda (2011) |
96,0 |
| Mặt phẳng ngang |
Trong (AMS) |
2,1 ± 0,6 |
Ikeda (2011) |
138,3 |
| Mặt phẳng ngang |
Ngoài (ALS) |
2,3 ± 0,6 |
Ikeda (2011) |
138,3 |
- Phương tiện thu thập dữ liệu: Hệ thống máy CBCT Galileos (Sirona, Đức) với quang trường (FOV) 15 x 15 cm, kích thước điểm ảnh đẳng hướng (voxel) 300 micron (0,3 mm), thời gian phát tia 14 giây, điện thế 85 kV, cường độ dòng điện 5–7 mA, tần số 50 Hz. Màn hình khảo sát Dell U2713HMt (độ phân giải 2560 x 1440 WQHD), phần mềm Galaxis XG của hãng Sirona.
- Quy trình chụp: Chụp 2 lần cho mỗi cá thể ở tư thế đứng thẳng, đầu định vị theo mặt phẳng Frankfort: lần 1 ở tư thế lồng múi tối đa (LMTĐ) và lần 2 ở tư thế há miệng tối đa (MMO).
- Phân tích số liệu và đạo đức: Sử dụng thống kê mô tả, so sánh giá trị trung bình và phân tích tương quan Pearson. Đề tài được chấp thuận bởi Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
Chương 1 hệ thống hóa cấu trúc giải phẫu học và chức năng sinh cơ học của khớp thái dương hàm, bao gồm lồi cầu xương hàm dưới (trục dài nối hai cực tạo góc 145–160 độ ở bờ trước lỗ chẩm), hõm khớp và lồi khớp xương thái dương (khớp lưỡng lồi cầu), đĩa khớp và phức hợp bao khớp - dây chằng. Tác giả phân tích các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh từ X quang 2D quy ước, chụp cản quang, CT, MRI đến CBCT. Chương này tổng quan các chỉ số hình thái lồi cầu, hõm khớp, lồi khớp, chiều dày trần hõm khớp, hốc khí lồi khớp và động học dịch chuyển lồi cầu từ các y văn quốc tế.
| Dạng khớp cắn / Mẫu nghiên cứu |
Kích thước ngoài - trong (mm) Phải / Trái |
Kích thước trước - sau (mm) Phải / Trái |
Góc trục dài (độ) Phải / Trái |
Khác biệt trước - sau T và P (mm) |
Khoảng cách đến MP dọc giữa (mm) Phải / Trái |
Nguồn trích dẫn |
| Khớp cắn Hạng I |
20,6 / 20,6 |
9,3 / 9,4 |
70,1 / 70,0 |
0,9 |
52,9 / 52,8 |
Rodrigues (2009) |
| Khớp cắn Hạng II chi 1 |
21,2 / 20,7 |
9,2 / 9,3 |
67,4 / 67,8 |
0,7 |
54,4 / 53,8 |
Rodrigues (2009) |
| Khớp cắn Hạng III |
21,8 / 21,9 |
9,7 / 9,4 |
72,9 / 71,3 |
0,8 |
52,3 / 53,7 |
Rodrigues (2009) |
| Khớp cắn bình thường |
22,6 / 22,0 |
10,0 / 10,1 |
68,4 / 68,7 |
0,6 |
56,3 / 56,0 |
Vitral (2011) |
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 140 cá thể người Việt trưởng thành không có triệu chứng rối loạn thái dương hàm. Tác giả chuẩn hóa quy trình khám sàng lọc lâm sàng cắn khớp, kỹ thuật chụp CBCT trên máy Galileos ở hai trạng thái LMTĐ và há tối đa. Các mặt phẳng tham chiếu gồm mặt phẳng ngang Frankfort, mặt phẳng đứng ngang và mặt phẳng dọc giữa đi qua hai điểm Basion - Nasion. Tác giả xác lập chi tiết các phép đo: kích thước lồi cầu (chiều rộng ngoài-trong, chiều dài trước-sau, góc trục lồi cầu), kích thước hõm khớp, chiều dày trần hõm khớp, độ nghiêng và chiều cao lồi khớp, sự hiện diện hốc khí, khoảng gian khớp 3 chiều và vị trí lồi cầu khi há tối đa. Quy trình kiểm soát sai lệch và phê duyệt y đức được trình bày cụ thể.
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ
Chương 3 trình bày các kết quả định lượng thu được từ dữ liệu CBCT:
- Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu và phân loại mức độ há miệng tối đa theo giới tính.
- Kích thước trung bình của lồi cầu (chiều ngoài-trong, chiều trước-sau), góc giữa trục dài lồi cầu với mặt phẳng dọc giữa, khoảng cách từ tâm lồi cầu đến mặt phẳng dọc giữa và đánh giá tính cân xứng giữa bên phải và bên trái.
- Tỷ lệ phân bố 5 dạng hình thái lồi cầu (Yale, 1963) và sự khác biệt kích thước lồi cầu theo từng dạng hình thái.
- Kích thước, hình dạng hõm khớp và mối liên quan với hình thái lồi cầu.
- Độ nghiêng, chiều cao lồi khớp; tỷ lệ xuất hiện hốc khí ở lồi khớp và trần hõm khớp (dạng đơn hốc, đa hốc); chiều dày trần hõm khớp theo tình trạng hốc khí và giới tính.
- Hệ số tương quan Pearson giữa các đặc điểm hình thái lồi cầu, hõm khớp và lồi khớp.
- Kích thước khoảng gian khớp trên 3 mặt phẳng (đứng dọc: AS, SS, PS; đứng ngang: CLS, CCS, CMS; ngang: ALS, AMS) theo giới và theo bên ở tư thế LMTĐ.
- Phân bố vị trí lồi cầu trong hõm khớp theo tiêu chuẩn Pullinger - Senner và theo tỷ số khoảng gian khớp của Ikeda.
- Vị trí lồi cầu so với lồi khớp ở tư thế há tối đa trên mặt phẳng đứng dọc và đứng ngang; tương quan với vị trí ở tư thế LMTĐ, kích thước giải phẫu và độ há miệng.
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN
Chương 4 tập trung phân tích và đối chiếu các phát hiện nghiên cứu với y văn:
- Bàn luận về tính đại diện của mẫu và độ chính xác của kỹ thuật CBCT trong đo đạc cấu trúc mô xương khớp TDH với tỷ lệ 1:1.
- Phân tích kích thước, hình thái lồi cầu và tính cân xứng hai bên; đối chiếu với các công trình của Yale (1963), Tadej (1987), Rodrigues (2009), Vitral (2011), Reddy (2013), Park (2015).
- Bàn luận về độ sâu hõm khớp, độ nghiêng lồi khớp, độ dày trần hõm khớp và sự hiện diện của hốc khí lồi khớp; phân tích nguy cơ tổn thương trong phẫu thuật tạo hình khớp hoặc chấn thương nền sọ.
- Đánh giá vị trí lồi cầu và khoảng gian khớp ở tư thế LMTĐ; chỉ ra rằng vị trí không ở trung tâm tuyệt đối vẫn hiện diện ở người không triệu chứng (phù hợp với nhận định của Pullinger và Senner, 1987).
- Phân tích các dạng dịch chuyển lồi cầu ở tư thế há tối đa, mối liên hệ với độ nghiêng lồi khớp và biên độ há miệng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học:
- Cung cấp bộ dữ liệu có hệ thống về các chỉ số kích thước, hình thái học của lồi cầu, hõm khớp, lồi khớp trên hình ảnh CBCT ở quần thể người Việt trưởng thành có khớp thái dương hàm không triệu chứng.
- Xác định các giá trị tham chiếu về khoảng gian khớp trên 3 mặt phẳng không gian (đứng dọc, đứng ngang, ngang) ở tư thế lồng múi tối đa và các dạng dịch chuyển của lồi cầu ở tư thế há tối đa.
- Làm sáng tỏ mối liên hệ hình thái học giữa các thành phần xương khớp thái dương hàm trong hệ thống nhai ở người Việt.
Đóng góp về mặt thực tiễn và ứng dụng lâm sàng:
- Thiết lập cơ sở dữ liệu bình thường hỗ trợ bác sĩ lâm sàng Răng - Hàm - Mặt phân biệt giữa các biến thể giải phẫu bình thường với các tình trạng bệnh lý (như loạn năng khớp, tiêu xương lồi cầu, di lệch đĩa khớp).
- Cung cấp thông số giải phẫu phục vụ việc lập kế hoạch điều trị chỉnh hình răng mặt, phẫu thuật chỉnh hình xương hàm và phẫu thuật khớp thái dương hàm.
- Cung cấp dữ liệu cảnh báo lâm sàng về sự hiện diện của hốc khí lồi khớp và độ mỏng của trần hõm khớp nhằm hạn chế nguy cơ thủng lồi khớp hoặc tổn thương nền sọ trong các can thiệp phẫu thuật.
Kiến nghị:
- Ứng dụng quy trình chụp và phân tích CBCT chuẩn hóa trong thăm khám chuyên sâu khớp thái dương hàm khi có chỉ định.
- Kết hợp đánh giá lâm sàng với các chỉ số hình ảnh đa mặt phẳng trước khi can thiệp điều trị khớp cắn, chỉnh nha hoặc phẫu thuật hàm mặt.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật CBCT nên chỉ tập trung đánh giá các cấu trúc mô xương cứng, không hiển thị và đánh giá trực tiếp đĩa khớp và mô mềm hoạt dịch như chụp cộng hưởng từ (MRI).
- Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả tại một thời điểm, chưa theo dõi dọc sự biến đổi hình thái khớp theo thời gian và chức năng nhai.
- Mẫu nghiên cứu giới hạn ở các cá thể có khớp cắn bình thường và không có triệu chứng lâm sàng.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Thực hiện nghiên cứu kết hợp đồng thời CBCT và MRI để khảo sát toàn diện tương quan giữa cấu trúc mô xương và đĩa khớp.
- Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chứng giữa nhóm bình thường với các nhóm bệnh nhân có rối loạn nội khớp, thoái hóa khớp thái dương hàm hoặc các dạng sai khớp cắn xương (Hạng II, Hạng III).
- Tiến hành nghiên cứu dọc đánh giá sự thay đổi vị trí lồi cầu và khoảng gian khớp trước và sau điều trị chỉnh nha hoặc phẫu thuật chỉnh hình xương hàm.
Giá trị tham khảo
Đối tượng thụ hưởng:
- Bác sĩ chuyên khoa Răng - Hàm - Mặt, chuyên gia Cắn khớp học, Chỉnh hình răng mặt, Phẫu thuật hàm mặt và Chẩn đoán hình ảnh nha khoa.
- Giảng viên, học viên sau đại học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Răng - Hàm - Mặt sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và đào tạo.
Nội dung có giá trị tham khảo:
- Quy trình chuẩn hóa các mặt phẳng đo đạc hình ảnh CBCT khớp thái dương hàm trên 3 chiều không gian.
- Bộ số liệu tham chiếu về kích thước lồi cầu, khoảng gian khớp 3 chiều, độ nghiêng lồi khớp và chiều dày trần hõm khớp ở người Việt trưởng thành.
- Phương pháp phân tích vị trí lồi cầu ở tư thế lồng múi tối đa và động học dịch chuyển ở tư thế há tối đa.
Câu hỏi thường gặp
-
Tại sao CBCT được lựa chọn để khảo sát cấu trúc xương khớp thái dương hàm?
CBCT hiển thị hình ảnh 3 chiều với tỷ lệ kích thước thực 1:1, loại bỏ hiện tượng trùng chập cấu trúc nền sọ của X quang 2D, cho phép đo đạc chính xác các chi tiết xương với độ phân giải cao và liều bức xạ thấp hơn đáng kể so với CT quy ước.
-
Tiêu chuẩn chọn mẫu nghiên cứu của luận án gồm những điều kiện nào?
Đối tượng nghiên cứu là người Việt từ 18 tuổi trở lên; không có bệnh sử hay triệu chứng lâm sàng rối loạn thái dương hàm; chưa từng điều trị chỉnh hình răng mặt hay mài chỉnh khớp cắn; không bất cân xứng xương hàm dưới; không chấn thương vùng mặt hay cằm; có khớp cắn bình thường ở tư thế lồng múi tối đa.
-
Vị trí lồi cầu trong hõm khớp ở tư thế lồng múi tối đa được xác định như thế nào theo Ikeda?
Vị trí lồi cầu được xác định trên mặt phẳng đứng dọc qua công thức di lệch lồi cầu: $\text{Tỷ số} = \frac{PS - AS}{PS + AS} \times 100%$, trong đó AS là khoảng gian khớp trước và PS là khoảng gian khớp sau. Giá trị 0% là trung tâm tuyệt đối; từ -12% đến +12% là vị trí trung tâm; > +12% là ra trước; < -12% là lui sau.
-
Hiện tượng hốc khí ở lồi khớp (Pneumatized Articular Eminence) có ý nghĩa lâm sàng gì?
Hốc khí ở lồi khớp là biến thể thấu quang không triệu chứng, cần được chẩn đoán phân biệt với các tổn thương u hoặc nang tiêu xương ở cung gò má. Sự hiện diện của hốc khí làm giảm độ chịu lực của xương, tạo nguy cơ gãy xương thái dương hoặc thủng lồi khớp khi thực hiện phẫu thuật cố định xương và tái tạo khớp.
-
Sự dịch chuyển của lồi cầu ở tư thế há tối đa được phân loại theo các mức độ nào?
Vận động lồi cầu ở tư thế há tối đa được đánh giá qua mối tương quan trước - sau giữa lồi cầu và lồi khớp trên mặt phẳng đứng dọc, gồm 3 mức độ: dịch chuyển kém (lồi cầu nằm sau lồi khớp), bình thường (lồi cầu nằm ngay dưới lồi khớp) và quá mức (lồi cầu vượt ra trước lồi khớp).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Lân đã thực hiện khảo sát có hệ thống đặc điểm hình thái học và vị trí lồi cầu, hõm khớp, lồi khớp trên hình ảnh CBCT ở người Việt trưởng thành có khớp thái dương hàm không triệu chứng. Đề tài đã xác lập bộ chỉ số giải phẫu chuẩn mực trên 3 mặt phẳng không gian, xác định kích thước khoảng gian khớp ở tư thế lồng múi tối đa và các dạng dịch chuyển lồi cầu ở tư thế há tối đa. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học thực chứng phục vụ hiệu quả cho công tác chẩn đoán, lập kế hoạch điều trị chỉnh hình răng mặt và phẫu thuật hàm mặt tại Việt Nam.