Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm điện sinh lý tim và kết quả điều trị hội chứng wolff parkinson white ở trẻ em bằng năng lượng sóng có tần số radio

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm điện sinh lý tim và hiệu quả điều trị hội chứng Wolff-Parkinson-White ở trẻ em bằng năng lượng sóng tần số radio.

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Nhi khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2019

163
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cấu tạo cơ tim và hệ thống dẫn truyền tim

1.2. Sinh bệnh học hội chứng Wolff-Parkinson-White

1.3. Tiền kích thích thất trong hội chứng Wolff-Parkinson-White

1.4. Các rối loạn tim nhanh trong Wolff-Parkinson-White

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Tiêu chuẩn chẩn đoán

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Thiết kế nghiên cứu

2.5.2. Phương tiện nghiên cứu

2.5.3. Trang thiết bị phòng điện sinh lý

2.5.4. Các loại catheter điện cực chẩn đoán

2.5.5. Các loại catheter điện cực triệt đốt

2.5.6. Các bước tiến hành

2.5.6.1. Trước thăm dò điện sinh lý và triệt đốt
2.5.6.2. Thăm dò điện sinh lý
2.5.6.3. Triệt đốt đường phụ

2.5.7. Xử lý số liệu

2.5.8. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung nhóm nghiên cứu

3.2. Bệnh lý tim mạch khác

3.3. Các bệnh tim bẩm sinh

3.4. Chỉ định triệt đốt

3.5. Đặc điểm điện sinh lý

3.6. Đặc điểm điện tâm đồ bề mặt và điện đồ trong tim trước triệt đốt

3.7. Đặc điểm nút nhĩ thất

3.8. Đặc điểm đường phụ nhĩ thất

3.9. Đặc điểm cơn tim nhanh

3.10. Kết quả triệt đốt

3.10.1. Kết quả chung

3.10.2. Các chỉ số triệt đốt

3.10.3. Thành công sớm theo nhóm bệnh

3.10.4. Các yếu tố nguy cơ thất bại

3.10.5. Tái phát theo nhóm bệnh

3.10.6. Các yếu tố nguy cơ tái phát

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm nhóm nghiên cứu

4.2. Tuổi và cân nặng

4.3. Bệnh tim bẩm sinh. Chỉ định can thiệp

4.4. Đặc điểm điện sinh lý

4.5. Đặc điểm điện tâm đồ bề mặt trước triệt đốt

4.6. Đặc điểm dẫn truyền qua nút nhĩ thất và hệ thống His-Purkinjer

4.7. Đặc điểm đường phụ nhĩ thất

4.8. Đặc điểm điểm điện sinh lý cơn tim nhanh

4.9. Đường phụ nguy cơ cao. Hiệu quả triệt đốt

4.10. Thành công và thất bại

4.11. Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả triệt đốt

4.12. Tử vong do can thiệp

KIẾN NGHỊ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Đặc điểm điện sinh lý tim

Nghiên cứu tập trung vào đặc điểm điện sinh lý tim ở trẻ em mắc hội chứng Wolff Parkinson White (WPW). Các đặc điểm này bao gồm sự tồn tại của đường phụ nhĩ thất, cơ chế dẫn truyền bất thường và các rối loạn nhịp tim liên quan. Thăm dò điện sinh lý (TDĐSL) được sử dụng để xác định vị trí và đặc tính của đường phụ, đồng thời phân tích cơ chế gây ra các cơn tim nhanh trên thất (TNTT). Kết quả cho thấy, đường phụ có thể dẫn truyền theo cả hai chiều hoặc chỉ một chiều, gây ra các biểu hiện lâm sàng khác nhau. Điều này giúp phân tầng nguy cơ đột tử và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

1.1. Cấu tạo và chức năng hệ thống dẫn truyền tim

Hệ thống dẫn truyền tim bao gồm nút xoang, nút nhĩ thất (NNT), bó His và mạng lưới Purkinje. Trong hội chứng WPW, sự tồn tại của đường phụ làm thay đổi cơ chế dẫn truyền bình thường, gây ra các cơn tim nhanh. Đường phụ thường là các sợi cơ tim mỏng, nối trực tiếp giữa nhĩ và thất, dẫn truyền nhanh hơn so với hệ thống dẫn truyền bình thường. Điều này dẫn đến hiện tượng tiền kích thích thất (TKTT) trên điện tâm đồ, với các đặc điểm như PR ngắn, QRS rộng và sóng delta.

1.2. Cơ chế gây rối loạn nhịp tim

Các cơn tim nhanh trong hội chứng WPW thường do cơ chế vòng vào lại nhĩ thất. Vòng vào lại này được hình thành bởi sự kết hợp giữa hệ thống dẫn truyền bình thường và đường phụ. Khi có một kích thích sớm, sự khác biệt về thời gian dẫn truyền và tính trơ giữa hai đường tạo điều kiện cho cơn tim nhanh xuất hiện. Có hai loại tim nhanh vào lại nhĩ thất (TNVLNT): chiều xuôi và chiều ngược. Trong đó, TNVLNT chiều xuôi là phổ biến nhất, với dẫn truyền xuống thất qua hệ thống bình thường và ngược lên nhĩ qua đường phụ.

II. Điều trị hội chứng Wolff Parkinson White bằng sóng tần số radio

Phương pháp triệt đốt qua catheter bằng năng lượng sóng tần số radio (RFCA) được áp dụng để điều trị hội chứng WPW ở trẻ em. RFCA nhằm loại bỏ đường phụ, ngăn chặn các cơn tim nhanh và giảm nguy cơ đột tử. Nghiên cứu đánh giá hiệu quả và tính an toàn của RFCA trong nhóm bệnh nhi, với các chỉ số thành công, tỷ lệ tái phát và các yếu tố nguy cơ liên quan. Kết quả cho thấy, RFCA là phương pháp hiệu quả với tỷ lệ thành công cao và ít biến chứng, đặc biệt khi được thực hiện bởi các bác sĩ có kinh nghiệm.

2.1. Nguyên lý và kỹ thuật triệt đốt

RFCA sử dụng năng lượng sóng tần số radio để tạo ra tổn thương nhiệt tại vị trí đường phụ, từ đó ngăn chặn dẫn truyền bất thường. Quy trình bao gồm việc xác định chính xác vị trí đường phụ thông qua TDĐSL, sau đó đặt catheter và phát năng lượng để triệt đốt. Kỹ thuật này đòi hỏi độ chính xác cao và sự hiểu biết sâu về giải phẫu tim, đặc biệt ở trẻ em có kích thước tim nhỏ và cấu trúc phức tạp.

2.2. Kết quả và yếu tố ảnh hưởng

Nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ thành công của RFCA đạt trên 90%, với tỷ lệ tái phát thấp. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả bao gồm vị trí và số lượng đường phụ, kinh nghiệm của bác sĩ can thiệp, và cân nặng của bệnh nhi. Trẻ em có cân nặng thấp thường có nguy cơ biến chứng cao hơn, nhưng với sự tiến bộ trong công nghệ và kỹ thuật, RFCA ngày càng an toàn và hiệu quả hơn.

III. Ý nghĩa và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu cung cấp cái nhìn toàn diện về đặc điểm điện sinh lý tim và hiệu quả của RFCA trong điều trị hội chứng WPW ở trẻ em. Kết quả nghiên cứu không chỉ giúp cải thiện chất lượng chẩn đoán và điều trị mà còn góp phần vào việc xây dựng các hướng dẫn lâm sàng cho các bác sĩ nhi khoa. RFCA được khẳng định là phương pháp điều trị ưu tiên, thay thế cho các phương pháp truyền thống như dùng thuốc chống loạn nhịp, nhờ tính hiệu quả và an toàn cao.

3.1. Đóng góp vào y học lâm sàng

Nghiên cứu đã làm rõ các đặc điểm điện sinh lý của hội chứng WPW ở trẻ em, giúp các bác sĩ hiểu sâu hơn về cơ chế bệnh sinh và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp. RFCA được chứng minh là phương pháp hiệu quả, giảm thiểu nguy cơ đột tử và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhi.

3.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Cần tiếp tục nghiên cứu trên quy mô lớn hơn để đánh giá hiệu quả lâu dài của RFCA ở trẻ em. Đồng thời, nghiên cứu các yếu tố nguy cơ và biến chứng liên quan đến kỹ thuật này, đặc biệt ở nhóm bệnh nhi có cân nặng thấp hoặc mắc các bệnh tim bẩm sinh phức tạp.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm điện sinh lý tim và kết quả điều trị hội chứng wolff parkinson white ở trẻ em bằng năng lượng sóng có tần số radio

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương Hội chứng Wolff-Parkinson-White kinh điển: triệu chứng lâm sàng có cơn tim nhanh tái diễn, điện tâm đồ (ĐTĐ) có PQ ngắn và QRS dạng block nhánh [15]. Ngày nay, hội chứng WPW được xem là tình trạng bệnh lý bẩm sinh gây ra do sự tồn tại của một hoặc nhiều đường dẫn truyền bất thường nối tâm nhĩ và tâm thất hay còn gọi là ĐP gây ra các cơn tim nhanh [1]. Hội chứng WPW được phân làm 2 thể [16]: Hội chứng WPW điển hình: ĐTĐ có hình ảnh tiền kích thích thất (TKKT) điển hình (PR ngắn, QRS rộng, sóng delta), ĐP nhĩ thất có dẫn truyền xuôi gây kích hoạt V sớm được gọi là ĐP hiện.

Hội chứng WPW ẩn: ĐTĐ không có hình ảnh TKTT, ĐP chỉ dẫn truyền ngược không có dẫn truyền xuôi được gọi là ĐP ẩn. Cấu tạo cơ tim và hệ thống dẫn truyền tim 1. Cấu tạo cơ tim Tim có cấu tạo như khối cơ rỗng bao gồm các thớ cơ vân đan xen chằng chịt, mỗi thớ cơ được tạo bởi rất nhiều tế bào cơ tim với chức năng co bóp khi có kích thích. Xen kẽ giữa các sợi cơ tim còn có các sợi biệt hóa được tạo bởi các tế bào biệt hóa có chức năng khởi phát xung điện và dẫn truyền xung điện đến các sợi cơ tim [17].

Hệ thống dẫn truyền tim Nút xoang. Do Keith và Flack phát hiện vào năm 1907, nằm phía bên chỗ tiếp nối giữa tĩnh mạch chủ trên và nhĩ phải và ngay dưới thượng tâm mạc, hình dấu phẩy dài 10-20 mm và rộng khoảng 5mm. Về mặt mô học, nút xoang được cấu tạo bởi ba loại tế bào bao gồm tế bào nút, tế bào chuyển tiếp và 4 thế bào cơ nhĩ. Hệ thống dẫn truyền tim.

RA, tâm nhĩ phải; LA, tâm nhĩ trái; TV, van ba lá; MV, van hai lá; RV, tâm thất phải; LV, tâm thất trái [19] Nút nhĩ thất. Được Karl Albert Ludwig Aschoff (Đức) và Sunao Tawara (Nhật) tìm ra năm 1906, còn được gọi là nút Aschoff-Tawara. Có hình bầu dục nằm ở đỉnh tam giác Koch (được tạo bở hai cạnh là bờ dưới vách liên nhĩ và vòng van ba lá, đáy là xoang vành. NNT gồm nhiều tế bào biệt hóa đan với nhau chằng chịt làm cho xung điện qua đây bị chậm lại và dễ bị block.

NNT chủ yếu làm nhiệm vụ dẫn truyền và chỉ có ít tế bào tự động [18]. Là các sợi biệt hóa nối giữa nút xoang và NNT, có khả năng dẫn truyền xung điện, mốt số tế bào có khả năng tự động phát xung. Có đường liên nút: Đường liên nút trước (bó Bachman) có một phân nhánh sang nhĩ trái, đường giữa (bó Wenckebach) và đường sau (bó Thorel) [18]. Được His mô tả năm 1893, tiếp nối với NNT và chạy dọc và ngay dưới mặt phải của vách liên thất.

Bó His bao gồm các sợi dẫn truyền chạy song song và các tế bào có tính tự động cao. Sự tiếp nối giữa bó His và 5 NNT không có ranh giới rõ rệt và khó phân biệt về mặt tổ chức học do vậy được gọi chung là bộ nối nhĩ thất [18]. Các nhánh bó His và mạng lưới Purkinje. Phần dưới bó His chia làm hai nhánh phải và trái, nhánh trái lớn hơn và phân thành hai nhánh là trái trước và trái sau.

Các nhánh và phân nhánh tiếp tục chia nhỏ và đan vào nhau như một mạng lưới bọc lấy tâm thất từ bên trong, mạng này nằm ngay dưới lớp nội mạc và đi xen vào lớp cơ vài milimet. Hai nhánh và mạng lưới Purkinje rất giầu tế bào có tính tự động cao nên có thể tạo ra các chủ nhịp thất [18]. Cả tế bào cơ tim co bóp và tế bào biệt hóa cơ tim dẫn truyền đều được nuôi dưỡng bởi hệ thống động mạch vành. Hệ thống dẫn truyền chịu sự điều khiển của các nhánh thần kinh giao cảm và phó giao cảm [18].

Sinh bệnh học hội chứng Wolff-Parkinson-White 1. Đường phụ nhĩ thất Bình thường đường dẫn truyền nhĩ thất nhờ có khung xơ bao bọc và cách điện. Vòng van nhĩ thất là tổ chức xơ đóng vai trò như lá răng cách điện. Do vậy xung điện dẫn truyền nhĩ thất chỉ qua đường dẫn truyền bình thường và duy nhất đó là NNT và hệ thống His-Purkinje [20].

Trong hội chứng WPW còn có một hoặc nhiều đường dẫn truyền khác nối tâm nhĩ và tâm thất được gọi là ĐP nhĩ thất cấu tạo bởi những sợi cơ tim biến thể nối giữa cơ nhĩ với cơ thất qua vòng van nhĩ thất (hình 1. Ngoài ĐP nhĩ thất điển hình gây hội chứng WPW, còn có các ĐP biến thể hiếm gặp khác (hình 1. Tùy theo phương thức kết nối mà ĐP được phân loại thành ĐP nhĩ nhánh, nhĩ thất dài, nút nhánh, nút thất, nhánh thất và nhĩ His [21]. Các dạng đường phụ [21] ĐP có thể ở bất kỳ vị trí nào quanh vòng van nhĩ thất trừ tam giác xơ phải và trái (hình 1.

Một số ĐP nằm ở các vị trí bất thường như: ĐP gốc động mạch chủ, ĐP xoang vành kết nối nhĩ thất qua lớp áo cơ xoang vành, ĐP kết nối tiểu nhĩ phải hoặc tiểu nhĩ trái với thất, ĐP kết nối qua tam giác xơ [22] Hình 1. Vị trí đường phụ nhĩ thất [23] 7 ĐP thường là các sợi cơ tim mỏng và hiếm khi dày hơn 1-2mm, nhưng đôi khi có thể có dạng dải băng rộng. Các ĐP này thường chạy xiên từ nhĩ xuống thất hơn là vuông góc với vòng van nhĩ thất, khoảng cách đầu vào nhĩ và đầu vào thất của ĐP có thể xiên chéo các nhau 1 đến vài cm [24]. Một vài ĐP sau vách không tiếp nối trực tiếp với cơ nhĩ mà lại tiếp nối với lớp áo cơ của xoang vành.

Phần lớn bệnh nhân có một ĐP, khoảng 10% có đến hai hoặc nhiều hơn hai đường (cách 1-3cm). Nhiều được phụ hay gặp ở các yếu tố như TNVLNT chiều ngược, rung nhĩ chuyển thành rung thất, bất thường Ebstein [25]. Dẫn truyền qua ĐP có thể theo cả hai chiều, chỉ theo chiều ngược thất nhĩ, một số ít trường hợp chỉ dẫn truyền theo chiều xuôi nhĩ thất. Khi ĐP có dẫn truyền xuôi thì ĐTĐ thường có hình ảnh TKTT.

Nhưng nếu chỉ dẫn truyền ngược thì ĐTĐ có hình ảnh như bình thường (ĐP thể ẩn) [26]. Phần lớn ĐP được cấu thành bởi các tế bào sợi cơ tim hoạt động, dẫn truyền qua ĐP nhanh phụ thuộc kênh Na+ nhanh. Do vậy tốc độ dẫn truyền qua ĐP nhanh và hằng định tương tự như cơ nhĩ và cơ thất, rất ít thay đổi khi tăng tần số kích thích trước khi đạt đến thời gian trơ hiệu quả (TGTHQ). Trái lại dẫn truyền qua NNT phụ thuộc chủ yếu vào dòng canxi chậm đi vào, tốc độ dẫn truyền qua đây sẽ chậm dần khi chu kỳ kích thích nhĩ ngắn dần (giảm dần tuần tiến) cho đến khi bị block.

Tốc độ dẫn truyền qua ĐP nhanh hơn nhiều so với qua NNT, sự khác biệt này có ý nghĩa lâm sàng rất quan trọng. Với các kích thích nhanh như trong rung nhĩ hoặc cuồng nhĩ, dẫn truyền qua NNT sẽ bị chậm lại và block tại NNT như là một cơ chế bảo vệ tự nhiên tránh rung thất do kích thích thất nhanh. Tuy nhiên ở những bệnh nhân có dẫn truyền xuôi qua ĐP nhanh (TGTHQ ngắn), kích thích nhanh từ nhĩ xuống thất 8 có thể gây rung thất. Một số ĐP có đặc tính dẫn truyền giảm dần giống như NNT [25].

Tiền kích thích thất trong hội chứng Wolff-Parkinson-White Hội chứng WPW là thể hay gặp nhất của hội chứng TKTT. Hội chứng TKTT đặc chưng bởi lâm sàng có triệu chứng cơn tim nhanh, ĐTĐ ngoài cơn tim nhanh có kích hoạt V sớm. Bình thường dẫn truyền nhĩ thất chỉ qua một đường dẫn truyền NNT-HTHP. Trong TKTT còn có dẫn truyền qua ĐP nối tắt toàn bộ (hội chứng WPW) hoặc một phần (Hội chứng Lown-Ganon- Levine) qua hệ thống dẫn truyền nhĩ thất bình thường, sự nối tắt này gây tâm thất khử cực sớm hơn bình thường gọi là TKTT [27].

Cơ chế gây hoặc WPW điển hình trên ĐTĐ (hình 1. Khi nhịp xoang dẫn truyền nhĩ xuống thất theo cả 2 đường. Tuy nhiên, dẫn truyền qua ĐP nhanh hơn qua đường bình thường gây khử cực sớm một phần hoặc toàn bộ tâm thất trước khi dẫn truyền qua đường bình thường xuống được tâm thất. Khử cực tâm thất theo con đường TKTT theo phương thức khử cực lan truyền từ tế bào cơ tim đến tế bào cơ tim cận kề, do vậy tốc độ lan truyền chậm hơn nhiều so với kích hoạt V qua hệ thống His-Purkinje, vì thế khi dẫn truyền đã xuống đến hệ thống dẫn truyền bình thường trong thất thì kích hoạt V sẽ chiếm ưu thế theo con đường này.

Do vậy ĐTĐ trong WPW sẽ có PR ngắn, QRS rộng và sóng delta [28]. Tiền kích thích thất trong khi nhịp xoang ở bệnh nhân có WPW. Hình trái trên: sóng kích hoạt A lan truyền từ nút xoang, tạo ra sóng P trên ĐTĐ. Hình trái dưới: Tiền kích thích thất phải do đường phụ nhĩ thất phải bên, gây ra sóng delta trên điện tâm đồ.

Hình phải trên và dưới: Kích hoạt V qua hệ thống His-Purkinje bình thường, gây phần sau phức bộ QRS hẹp [28]. Các rối loạn tim nhanh trong Wolff-Parkinson-White  Tim nhanh vào lại nhĩ thất Đây gọi là tim nhanh vòng vào lại lớn, vòng vào lại được tạo bởi đường dẫn truyền bình thường và ĐP về giải phẫu. Khi một kích thích sớm (KTS) là một ngoại tâm thu thất hoặc nhĩ thích hợp, tạo ra được sự khác biệt hiệu quả giữa thời gian dẫn truyền và tính trơ giữa 2 đường có thể là điều kiện hình thành vòng vào lại hay cơn tim nhanh. Có hai loại TNVLNT là chiều xuôi và chiều ngược (hình 1.

Trong TNVLNT chiều xuôi vòng vào lại dẫn truyền xuống thất theo đường bình thường và chiều ngược lên nhĩ qua ĐP. Đây là thể tim nhanh hay gặp nhất trong hội chứng WPW điển hình và hầu hết các trường hợp ĐP ẩn. Trong 10 TNVLNT chiều ngược, loại này ít gặp ở cả trẻ em và người lớn và chỉ có ở bệnh nhân có ĐTĐ dạng WPW điển hình. Vòng vào lại xuống thất qua ĐP rồi quay ngược lên nhĩ qua đường dẫn truyền bình thường bình thường [29], [30].

Cơ chế gây các cơn tim nhanh trong hội chứng Wolff-Parkinson-White Tim nhanh vào lại bộ nối dai dẳng: đây là một thể của TNVLNT chiều xuôi. ĐP thể ẩn có tính dẫn truyền ngược chậm và giảm dần, còn chậm hơn cả tốc độ dẫn truyền xuôi qua đường dẫn truyền bình thường. Các ĐP này thường ở vùng sau vách. Do đặc tính dẫn truyền của ĐP này, nên cơn tim nhanh rất rễ khởi phát và kéo dài dai dẳng xen kẽ với từng lúc nhịp xoang ngắn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu đặc điểm điện sinh lý tim và điều trị hội chứng Wolff Parkinson White ở trẻ em bằng sóng tần số radio là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích các đặc điểm điện sinh lý tim ở trẻ em mắc hội chứng Wolff Parkinson White (WPW). Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn chi tiết về phương pháp điều trị hiệu quả bằng sóng tần số radio, một kỹ thuật tiên tiến giúp loại bỏ các đường dẫn truyền bất thường trong tim. Điều này không chỉ cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân mà còn giảm thiểu nguy cơ biến chứng tim mạch nghiêm trọng.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề tim mạch liên quan, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ NT-proBNP huyết tương với biến thiên nhịp tim rối loạn nhịp tim ở bệnh nhân bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn tính có suy tim, nghiên cứu này giúp hiểu rõ hơn về các chỉ số sinh học liên quan đến rối loạn nhịp tim. Ngoài ra, Luận án nghiên cứu lâm sàng cận lâm sàng hình thái và chức năng tim ở bệnh nhân xơ gan cung cấp thông tin về ảnh hưởng của bệnh gan đến chức năng tim. Cuối cùng, Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành y đa khoa nhận xét tình trạng thiếu máu ở các bệnh nhân suy tim mạn phân số tống máu giảm tại viện tim mạch bệnh viện bạch mai từ tháng 01 đến tháng 06 năm 2019 là một tài liệu hữu ích để hiểu thêm về tình trạng thiếu máu ở bệnh nhân suy tim.

Mỗi liên kết trên là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan, từ đó nâng cao hiểu biết về lĩnh vực tim mạch.