Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. MỘT SỐ HIỂU BIẾT CHUNG VỀ HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY 1. Khái niệm về hội chứng tiêu chảy Tiêu chảy là thuật ngữ để chỉ hiện tượng phân lỏng, nhiều nước hoặc có máu, mủ. Là triệu chứng chung đặc trưng và thường xuất hiện trong bệnh đường tiêu hóa của động vật.
Tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý ở đường tiêu hóa, là hiện tượng con vật đi ỉa nhiều lần trong ngày, phân có nhiều nước do rối loạn chức năng tiêu hóa, ruột tăng cường co bóp và tiết dịch (Phạm Ngọc Thạch, 1996) [51]. Hoặc chỉ phản ánh đơn thuần sự thay đổi tạm thời của phân gia súc bình thường khi gia súc đang thích ứng với những thay đổi trong khẩu phần ăn. Tiêu chảy xảy ra ở nhiều bệnh, bản thân nó không phải là bệnh đặc thù (Arch. E (1989) [67] tiêu chảy ở vật nuôi là một hiện tượng bệnh lý phức tạp gây ra bởi sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố.
Một trong những nguyên nhân quan trọng là sự tác động bất lợi của ngoại cảnh, gây ra các stress cho cơ thể. Mặt khác, chăm sóc nuôi dưỡng kém, chuồng trại không vệ sinh sạch sẽ, thức ăn, nước uống bị nhiễm khuẩn.cũng tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập của các vi sinh vật gây bệnh, đặc biệt là các vi sinh vật gây bệnh đường tiêu hoá. Từ đó dẫn tới sự nhiễm và gây loạn khuẩn đường ruột. Đây là nguyên nhân đóng vai trò quan trọng trong hội chứng tiêu chảy.
Tuỳ theo đặc điểm, tính chất, diễn biến bệnh, hoặc loài gia súc, hoặc nguyên nhân chính gây bệnh mà hội chứng tiêu chảy được gọi bằng tên khác nhau như bệnh xảy ra đối với gia súc non theo mẹ, gọi là bệnh lợn ỉa phân 5 trắng, hay bê nghé ỉa phân trắng … Còn ở gia súc sau cai sữa là chứng khó tiêu, chứng rối loạn tiêu hoá, hoặc hội chứng rối loạn tiêu hoá …. Nếu xét về nguyên nhân chính gây bệnh thì có các tên gọi như bệnh Colibacillosis do vi khuẩn E. coli, bệnh phó thương hàn lợn do vi khuẩn Salmonella cholerae suis, bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE) do Coronavirus gây ra … Thực chất tiêu chảy là một phản ứng tự vệ của cơ thể nhưng khi cơ thể tiêu chảy nhiều lần trong ngày (5 đến 6 lần trở lên) và nước trong phân từ 75% trở lên gọi là hiện tượng tiêu chảy. Tiêu chảy do nhiều nguyên nhân gây ra đồng thời nên gọi là hội chứng tiêu chảy.
Cho dù do bất kể nguyên nhân gây bệnh nào thì triệu chứng tiêu chảy vẫn luôn được coi là đặc điểm phổ biến nhất trong các dạng bệnh của đường tiêu hoá, xảy ra ở mọi lúc mọi nơi đặc biệt với gia súc non (Griffin. M et al, 1994 [92]), tiêu chảy dẫn đến mất nước, thiếu hụt các chất địên giải, suy kiệt cơ thể, nếu trầm trọng kèm hiện tượng viêm nhiễm, tổn thương thực thể đường tiêu hóa, dễ bị trụy tim mạch và chết với tỷ lệ cao (Kaufmann. J, 1996) [85] gây thiệt hại lớn về kinh tế. Một số đặc điểm sinh học của thỏ * Một số đặc điểm chung: Thỏ là loại gia súc nhạy cảm với các tác nhân ngoại cảnh.
Thỏ có ít tuyến mồ hôi dưới da, cơ thể thải nhiệt chủ yếu qua đường hô hấp. Nếu nhiệt độ không khí tăng nhanh và nóng kéo dài trên 350C thì thỏ thở nhanh và nông để thải nhiệt, khi đó thỏ dễ bị cảm nóng. Thỏ thở rất nhẹ nhàng, không có tiếng động, chỉ thấy thành bụng dao động theo nhip thở. Nếu thỏ khỏe, trong môi trường bình thường thì tần số hô hấp 60 – 90 lần/phút.
Nhịp đạp của tim thỏ rất nhanh và yếu, trung bình từ 100 – 120 lần/phút. 6 Thân nhiệt, tần số hô hấp, nhịp đập của tim đều tỷ lệ thuận với nhiệt độ không khí môi trường. Ở nước ta nhiệt độ môi trường thích hợp nhất với thỏ là từ 20 – 28,50C. Cơ quan khứu giác của thỏ rất phát triển, thỏ mẹ có thể phân biệt được con khác đàn mới đưa đến trong vòng 1 tiếng bằng cách ngửi mùi.
Cấu tạo khoang mũi rất phức tạp, có nhiều vách ngăn chi chít, lẫn các rãnh xoang ngõ ngách. Bụi bẩn hít vào sẽ đọng lại ở vách ngăn, kích thích gây viêm xoang mũi. Thỏ rất thính và tinh: trong đêm tối thỏ vẫn phát hiện được tiếng động nhỏ xung quanh và vẫn nhìn thấy để ăn uống được bình thường (Đinh Văn Bình và cs, 2005) [3]. * Đặc điểm sinh trưởng phát triển của thỏ: Giai đoạn bú mẹ: Sinh trưởng và phát triển của thỏ con bú mẹ (từ 1 – 30 ngày tuổi) chịu ảnh hưởng tác động của giai đoạn bào thai trong tử cung thỏ mẹ, vì vậy việc chăm sóc thỏ chửa không những ảnh hưởng đến số lượng chất lượng và sự phát triển của thai mà còn ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của thỏ con sau khi sinh ra.
Nếu thỏ cái chửa không được nuôi dưỡng tốt, nó phải huy động dinh dưỡng dự trữ của cơ thể để nuôi thai dẫn đến suy nhược cơ thể, giảm sức sống đàn con đồng thời giảm khả năng tiết sữa của thỏ mẹ làm cho đàn con còi cọc, tỷ lệ chết cao. Thỏ con bú mẹ rất nhạy cảm với các điều kiện môi trường bên ngoài nhất là nhiệt độ. Những ngày đầu sau khi sinh thỏ con cần có nhiệt độ thích hợp là 280C sau đó giảm đến 250C ở một tuần tuổi. Nếu nhiệt độ cao hơn hoặc thấp hơn thỏ con sẽ ít hoạt động, không muốn bú mẹ, da nhăn nheo, biến màu, tỷ lệ chết cao (Đinh Văn Bình và cs, 2005) [3].
Giai đoạn sau cai sữa: Tuần đầu sau cai sữa là giai đoạn sinh trưởng chậm của thỏ con, đồng thời chúng lại thay lông lần đầu (5 – 8 tuần tuổi) vì vậy đây là giai đoạn thỏ 7 khá yếu và dễ mắc bệnh nên cần chú ý các khâu chăm sóc nuôi dưỡng. Từ tuần thứ 7 – 11 thỏ thích ứng tôt với môi trường ngoại cảnh, độc lập với ảnh hưởng từ thỏ mẹ, ăn được nhiều thức ăn khác nhau nên chúng sinh trưởng nhanh, khả năng tăng trọng cũng như sự bộc lộ hệ số di truyền về tăng trọng là cao nhất trong giai đoạn này. Từ tuần tuổi thứ 12 trở đi tăng trọng giảm dần và thỏ bắt đầu phát dục. Sự phát dục và thành thục về tính: Thỏ thường thành thục tính dục ở khoảng 12 – 14 – 16 tuần tuổi tùy theo giống.
Sau 12 tuần tuổi nên nhốt tách riêng thỏ đực, thỏ cái để tránh hiện tượng rối loạn, cắn xé nhau làm giảm tăng trọng trong đàn. Khi thành thục tính dục thỏ có thể giao phối nhưng tỷ lệ thụ thai thấp và nếu thụ thai ngay lần động dục đầu thường cho kết quả sinh sản kém sau này. Vì vậy, trong thực tế người ta không cho phối giống ngay lần động dục đầu mà thường chờ đến 5 – 6 tháng tuổi khi thỏ đạt khối lượng 75 – 80% khối lượng trưởng thành thì mới cho phối giống và chuyển sang giai đoạn sinh sản (Đinh Văn Bình và cs, 2005) [3]. * Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của thỏ: Đặc điểm cấu tạo của cơ quan tiêu hóa: Đặc điểm cấu tạo đường tiêu hóa của thỏ là dạ dày đơn, co giãn tốt nhưng co bóp yếu, ruột dài 4 – 6 m, tiêu hóa chậm, từ khi ăn vào đến khi thải phân mất 60 – 72 giờ.
Manh tràng lớn gấp 5 – 6 lần dạ dày và có khả năng tiêu hóa chất xơ nhờ hệ vi sinh vật, nếu thiếu thức ăn thô thì dạ dày và manh tràng trống rỗng, gây cho thỏ có cảm giác đói. Nếu ăn thức ăn nghèo xơ hoặc thức ăn như rau xanh, củ quả chứa nhiều nước, nẫu nát, dễ phân hủy thì làm thỏ rối loạn tiêu hóa như tạp khí, đầy bụng và ỉa chảy. Tỷ lệ dung tích của các phần đường tiêu hóa của thỏ cũng khác so với của các gia súc khác, manh tràng là lớn nhất (49%), cụ thể ở bảng sau: 8 Bảng 1: So sánh tỷ lệ dung tích của các phần đường tiêu hóa của các gia súc khác (%) Tên đoạn đường Ngựa Bò Lợn Thỏ tiêu hóa Dạ dày 9 71 29 34 Ruột non 30 19 33 11 Manh tràng 16 3 6 49 Ruột già 45 7 32 6 Tổng số 100 100 100 100 Sự phát triển đường tiêu hóa theo lứa tuổi: Dạ dày: khối lượng 20g chứa đựng 90 – 100g, vật chất khô 17%, độ pH 1,5 – 2,0. Ruột non: khối lượng 60g, dài 330 cm, chứa đựng 20 – 40g, vật chất khô 7%, độ pH 2,2.
Ruột thừa: khối lượng 10g, dài 13 cm. Manh tràng: khối lượng 25g, dài 40 cm, chứa đựng 100 – 120g, vật chất khô 20%, độ pH 6,0. Kết tràng: dài 50 cm, vật chất khô 20 – 25%. Trực tràng: dài 90 cm, vật chất khô 20 – 40%.
Cơ thể thỏ sinh trưởng đều đặn cho đến tuần tuổi thứ 11 – 12. Nhưng đường tiêu hóa (trừ gan) thì dừng phát triển ở tuần tuổi thứ 9. Từ tuần thứ 3 – 9 khối lượng của từng đoạn ruột cũng thay đổi khác nhau. Vào tuần thứ 3, ruột non nặng gấp đôi ruột già.
Đến tuần thứ 9 thì khối lượng hai phần ruột đó là tương đương nhau. Sự phát triển về dộ dài của các đoạn ruột thỏ cũng tương tự như phát triển khối lượng chảy (Đinh Văn Bình và cs, 2005) [3]. * Đặc điểm tiêu hóa của thỏ : Thức ăn vào dạ dày được xếp thành từng lớp chuyển dần xuống ruột non. Nếu thức ăn cứng khó tiêu thì dễ gây viêm dạ dày và viêm ruột.
Chất 9 đạm trong thức ăn được tiêu hóa trong dạ dày nhờ dịch dạ dày, nếu thiếu muối trong khẩu phần ăn thì dịch dak dày tiết ra rất ít, thỏ sẽ không sử dụng hết lượng đạm trong thức ăn. Ở ruột già chủ yếu hấp thụ muối và nước. Trong đường ruột của thỏ tạo thành hai loại phân: phân cứng: viên tròn, thỏ không ăn; phân mềm: gồm nhiều viên nhỏ, mịn dính kết vào nhau tạo ra ở manh tràng, những viên đó được thải ra ban đêm gọi là phân “vitamin”, khi thải ra đến hậu môn thì thường được thỏ cúi xuống ăn ngay, nuốt chửng vào dạ dày và các chất dinh dưỡng được hấp thụ lại ở ruột non. Dựa vào đặc tính ăn phân “vitamin” này, người ta gọi thỏ là loài “nhai lại giả”.
Thành phần hóa học của 2 loại phân này có khác nhau rõ rệt (Đinh Văn Bình, 2006) [4]. Ở ruột non, các chất đạm đường, mỡ được phân giải nhờ các men tiêu hóa ở dịch ruột, hầu hết các chất dinh dưỡng được hấp thụ chủ yếu ở đây.