Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam, chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là chăn nuôi gà, giữ vị trí then chốt trong việc cung cấp nguồn thực phẩm giàu protein cho toàn xã hội. Cùng với sự phát triển kinh tế và nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, phương thức chăn nuôi gà đang có xu hướng dịch chuyển mạnh mẽ sang việc kiểm soát chất lượng, vệ sinh an toàn sinh học và an toàn dịch bệnh. Trong số các bệnh truyền nhiễm và ký sinh trùng đường ruột phổ biến ở gia cầm, bệnh cầu trùng gà (Coccidiosis) do các loài nguyên sinh động vật thuộc giống Eimeria gây ra được xác định là mối nguy hại lớn thứ hai đối với ngành chăn nuôi gà, chỉ sau các bệnh do vi khuẩn gây ra.

Bệnh cầu trùng có vòng đời phát triển ngắn (từ 5 đến 7 ngày), không đòi hỏi ký chủ trung gian, song lại gây ra những thiệt hại kinh tế đặc biệt nghiêm trọng. Bệnh làm giảm tỷ lệ chuyển hóa thức ăn, giảm tăng trọng, tỷ lệ chết ở đàn mắc bệnh có thể dao động từ 50% đến 70%, thậm chí ở thể cấp tính có thể lên tới 90% đến 100% nếu không được can thiệp điều trị kịp thời. Đối với gà trưởng thành hoặc gà khỏi bệnh, thể mãn tính làm gà còi cọc, chậm phục hồi và suy giảm sản lượng trứng từ 15% đến 25%. Tại thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, hoạt động chăn nuôi gà của các nông hộ và trang trại tập thể diễn ra trong điều kiện địa hình phức tạp, phương thức chăn nuôi còn mang tính tận dụng, điều kiện vệ sinh thú y chưa đồng bộ, tạo môi trường thuận lợi cho mầm bệnh phát tán. Xuất phát từ thực tiễn trên, khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cầu trùng ở gà nuôi tại thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái và dùng thuốc điều trị" của tác giả Trần Quyết Chiến đã được thực hiện.

Mục đích nghiên cứu của đề tài gồm 3 nội dung:

  1. Xác định thành phần loài cầu trùng ký sinh trên gà nuôi tại thành phố Yên Bái.
  2. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh cầu trùng trên đàn gà tại địa phương.
  3. Nghiên cứu triệu chứng lâm sàng, bệnh tích mổ khám của bệnh cầu trùng ở gà và đề xuất biện pháp điều trị đạt hiệu quả cao.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể được xác lập nhằm: Xác định chính xác các loài cầu trùng ký sinh; chỉ rõ các yếu tố dịch tễ học liên quan (địa bàn, lứa tuổi, mùa vụ theo tháng, phương thức chăn nuôi); mô tả đặc điểm bệnh lý lâm sàng và đại thể; đồng thời xác định hiệu lực của các loại thuốc điều trị thử nghiệm trên thực địa.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn gà ở các lứa tuổi khác nhau nuôi tại các nông hộ, trại chăn nuôi gia đình và tập thể trên địa bàn thành phố Yên Bái; mầm bệnh cầu trùng gà và các loại thuốc điều trị thử nghiệm.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát thu thập mẫu tại 5 xã thuộc thành phố Yên Bái (Phú Lộc, Minh Bảo, Văn Tiến, Tân Thịnh, Âu Lâu); các phân tích phòng thí nghiệm được thực hiện tại Khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành thu thập mẫu và theo dõi thực địa từ ngày 25/5/2015 đến ngày 08/11/2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, bệnh cầu trùng gà do các nguyên trùng thuộc bộ Coccidia, lớp Bào tử trùng (Sporozoa), họ Eimeriidae và giống Eimeria gây ra. Y văn ghi nhận 9 loài cầu trùng phổ biến ký sinh ở gà gồm: Eimeria tenella, Eimeria maxima, Eimeria acervulina, Eimeria necatrix, Eimeria mitis, Eimeria praecox, Eimeria brunetti, Eimeria hagani và Eimeria mivati. Mỗi loài có ái lực ký sinh tại các phân đoạn ruột khác nhau (manh tràng, tá tràng, không tràng, hồi tràng, trực tràng) với mức độ độc lực và biến đổi bệnh lý đặc trưng. Chu kỳ sinh học của giống Eimeria trải qua 3 giai đoạn: sinh sản vô tính (Schizogony) và sinh sản hữu tính (Gametogony) diễn ra nội sinh trong tế bào biểu mô niêm mạc ruột ký chủ; giai đoạn sinh sản bào tử (Sporogony) diễn ra ở môi trường ngoại cảnh khi noãn nang (Oocyst) theo phân ra ngoài, hình thành 4 túi bào tử (Sporocyst), mỗi túi chứa 2 bào tử con (Sporozoit) có sức gây bệnh. Cơ chế bệnh sinh bắt nguồn từ việc Sporozoit xâm nhập phá hủy tế bào biểu mô, làm vỡ mao mạch ruột, gây xuất huyết, viêm ruột hoại tử, mất máu, rối loạn hấp thu dinh dưỡng và trúng độc cơ thể.

Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học được triển khai kết hợp giữa dịch tễ học mô tả (Descriptive study), dịch tễ học phân tích (Analytic study) và dịch tễ học thực nghiệm (dựa trên phương pháp luận của Nguyễn Văn Thiện, 1997 và Nguyễn Như Thanh, 2011).

Quy trình thu thập và xử lý mẫu thực hiện theo các bước kỹ thuật tiêu chuẩn thú y:

  • Thu thập mẫu: Lấy mẫu phân tươi mới thải của gà ở các lứa tuổi với khối lượng 10 - 15 gam/mẫu ngẫu nhiên tại nông hộ thuộc 5 xã. Mỗi túi mẫu được ghi chép đầy đủ thông tin: lứa tuổi gà, địa điểm, tính biệt, giống, phương thức nuôi, tình trạng vệ sinh và triệu chứng lâm sàng.
  • Xét nghiệm định tính: Sử dụng phương pháp phù nổi Fulleborn (với dung dịch muối ăn NaCl bão hòa) và phương pháp Darling (kết hợp ly tâm nước lã và dung dịch NaCl bão hòa) để phát hiện sự hiện diện của Oocyst dưới kính hiển vi quang học ở độ phóng đại 10x và 40x.
  • Định lượng cường độ nhiễm: Sử dụng buồng đếm McMaster với quy trình hòa 2 gam phân vào 58 ml dung dịch NaCl bão hòa, đếm số lượng Oocyst trong buồng đếm và tính toán theo công thức: Số Oocyst/gam phân = (Tổng số Oocyst đếm được / Số buồng) × 200. Tác giả phân chia cường độ nhiễm thành 4 cấp độ:
    • Cường độ nhẹ (+): $\le 5.000$ Oocyst/gam phân.
    • Cường độ trung bình (++): $> 5.000$ đến $10.000$ Oocyst/gam phân.
    • Cường độ nặng (+++): $> 10.000$ đến $15.000$ Oocyst/gam phân.
    • Cường độ rất nặng (++++): $> 15.000$ Oocyst/gam phân.
  • Định danh loài: Dựa trên khóa phân loại của Levine N. (1985), kết hợp quan sát hình thái, cấu tạo vỏ, lỗ noãn, hạt cực và đo kích thước noãn nang bằng trắc vi thị kính ở độ phóng đại 400 lần. Đồng thời, nuôi cấy Oocyst trong dung dịch Kali Bicromat ($K_2Cr_2O_7$) 2,5% có sục khí/lắc đảo để theo dõi thời gian hình thành Sporocyst có sức gây bệnh.
  • Thử nghiệm điều trị: Bố trí điều trị thử nghiệm trên gà mắc bệnh với 2 phác đồ:
    • Phác đồ 1: Dùng thuốc Avicoc (hãng Virbac) liều 1 g/lít nước uống liên tục 5 - 7 ngày; kết hợp Gluco-K-C liều 2 g/lít nước uống để trợ lực, cầm máu.
    • Phác đồ 2: Dùng thuốc Rigecoccin-ws (hãng Hanvet) liều 1 g/6 lít nước uống liên tục 5 - 7 ngày; kết hợp Gluco-K-C liều 2 g/lít nước uống. Hiệu lực thuốc được đánh giá lại sau 15 ngày bằng xét nghiệm đếm Oocyst trong phân.
  • Xử lý số liệu: Số liệu thực nghiệm được xử lý thống kê sinh học bằng phần mềm Microsoft Excel 2003 và Minitab 16, xác định tỷ lệ phần trăm (%), số trung bình ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn ($S_X$) và sai số của số trung bình ($m_{\bar{X}}$).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của ngành chăn nuôi gà tại Việt Nam và thực trạng bệnh cầu trùng gây tổn thất lớn về kinh tế. Đặt ra nhiệm vụ khoa học cần làm rõ đặc điểm dịch tễ học và thành phần loài ký sinh tại thành phố Yên Bái – một địa bàn miền núi có tập quán chăn thả nông hộ phổ biến nhưng chưa có công trình nghiên cứu hệ thống. Xác lập mục đích, mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, cùng ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dữ liệu ký sinh trùng học và ý nghĩa thực tiễn giúp người chăn nuôi địa phương lựa chọn biện pháp kiểm soát phù hợp.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về cầu trùng gia cầm. Nội dung hệ thống hóa phân loại học 9 loài Eimeria, cấu tạo vỏ Oocyst (gồm lớp lipoprotein, quinonon protein và lớp lipid dày bảo vệ chống chịu hóa chất), cùng chi tiết chu kỳ phát triển 3 giai đoạn. Tác giả phân tích sâu các yếu tố dịch tễ học ảnh hưởng đến khả năng lây lan: điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi, nhiệt độ, ẩm độ, lứa tuổi cảm nhiễm (nhạy cảm nhất ở gà từ 2 đến 8 tuần tuổi), vai trò phát tán mầm bệnh cơ học của các loài côn trùng (ruồi, gián, kiến), cơ chế sinh bệnh học, triệu chứng lâm sàng ở hai thể cấp tính và mãn tính, bệnh tích đặc trưng tại từng đoạn ruột, cùng các hướng phòng trị bằng an toàn sinh học, vắc xin và hóa dược trị liệu.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương mô tả chi tiết phương pháp luận nghiên cứu thực nghiệm. Tác giả cụ thể hóa địa điểm thu thập mẫu tại 5 xã (Phú Lộc, Minh Bảo, Văn Tiến, Tân Thịnh, Âu Lâu), quy mô khảo sát 1.254 mẫu phân gà, thời gian tiến hành từ tháng 5 đến tháng 11/2015. Trình bày chi tiết kỹ thuật xét nghiệm phù nổi Fulleborn, Darling, kỹ thuật đếm buồng đếm McMaster, kỹ thuật nuôi cấy noãn nang trong môi trường $K_2Cr_2O_7$ 2,5% để xác định thời gian sinh bào tử, phương pháp mổ khám toàn diện đường tiêu hóa ghi nhận bệnh tích đại thể và phác đồ dùng thuốc điều trị đối chứng giữa Avicoc và Rigecoccin-ws.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Đây là chương trọng tâm chứa đựng toàn bộ dữ liệu thực nghiệm của khóa luận:

  • Định danh thành công 6 loài cầu trùng ký sinh trên đàn gà tại thành phố Yên Bái ($O_1$ đến $O_6$), xác định kích thước trung bình và thời gian sinh bào tử của từng loài.
  • Phân tích dịch tễ học tỷ lệ và cường độ nhiễm tại 5 xã: tổng tỷ lệ nhiễm trung bình là 28,63% (359/1.254 mẫu); trong đó xã Phú Lộc có tỷ lệ nhiễm cao nhất (32,33%) và xã Tân Thịnh thấp nhất (24,69%).
  • Khảo sát biến động theo lứa tuổi: gà 1 tuần tuổi chưa nhiễm (0%), tỷ lệ nhiễm tăng nhanh và đạt đỉnh cao nhất ở tuần thứ 4 (48,47%), sau đó giảm dần đến tuần thứ 8 (23,91%).
  • Khảo sát biến động theo thời gian: tỷ lệ nhiễm cao nhất vào tháng 6 (33,03%) tương ứng với nền nhiệt độ cao (29,6°C) và ẩm độ cao (85%), thấp nhất vào tháng 10 (25,48%).
  • So sánh phương thức chăn nuôi: gà nuôi theo phương thức bán chăn thả có tỷ lệ nhiễm (32,69%) và cường độ nhiễm nặng cao hơn đáng kể so với phương thức chăn thả tự do (24,60%).
  • Khảo sát biểu hiện lâm sàng, biến đổi bệnh tích đại thể tại niêm mạc manh tràng, ruột non và đánh giá kết quả điều trị thử nghiệm của 2 phác đồ thuốc.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Khóa luận đúc kết các kết luận khoa học chính về thành phần loài, quy luật dịch tễ theo tuổi, mùa vụ, phương thức chăn nuôi và hiệu lực phác đồ điều trị. Đồng thời, tác giả đưa ra các khuyến nghị cụ thể cho các cơ sở chăn nuôi gia cầm tại Yên Bái về việc định kỳ vệ sinh tiêu độc chuồng trại, cải tạo chất độn chuồng, chú trọng phòng bệnh bằng thuốc cho gà con giai đoạn 3 - 5 tuần tuổi và sử dụng luân phiên các loại thuốc đặc trị để tránh hiện tượng kháng thuốc.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã thu thập và xét nghiệm tổng cộng 1.254 mẫu phân gà, ghi nhận 359 mẫu dương tính với noãn nang cầu trùng, đạt tỷ lệ nhiễm trung bình 28,63%. Tác giả đã xác định được sự hiện diện của 6 loài cầu trùng thuộc giống Eimeria ký sinh trên đàn gà tại thành phố Yên Bái dựa trên các đặc điểm hình thái và thời gian sinh bào tử trong môi trường nuôi cấy Kali Bicromat 2,5%.

Ký hiệu loại Oocyst Kích thước chiều dài ($\mu m$) ($\bar{X} \pm m_{\bar{X}}$) Kích thước chiều rộng ($\mu m$) ($\bar{X} \pm m_{\bar{X}}$) Thời gian sinh Sporocyst (giờ) ($\bar{X} \pm m_{\bar{X}}$) Đặc điểm hình thái Kết luận loài định danh
$O_1$ $17,22 \pm 0,42$ $13,88 \pm 0,25$ $43,08 \pm 0,85$ Hình bầu dục, màu trắng xám, không có lỗ noãn Eimeria tenella
$O_2$ $19,44 \pm 0,67$ $14,38 \pm 0,36$ $29,47 \pm 1,57$ Hình trứng, không màu, có lỗ noãn, vỏ nhẵn Eimeria acervulina
$O_3$ $26,04 \pm 0,44$ $23,09 \pm 0,29$ $31,18 \pm 1,80$ Hình bầu dục, màu hơi vàng, vỏ hơi xù xì, không lỗ noãn Eimeria maxima
$O_4$ $25,60 \pm 0,49$ $20,78 \pm 0,33$ $22,84 \pm 0,29$ Hình bầu dục, không màu, không có lỗ noãn Eimeria necatrix
$O_5$ $22,95 \pm 0,54$ $15,26 \pm 0,23$ $20,72 \pm 0,39$ Hình bầu dục, không màu, không có lỗ noãn Eimeria brunetti
$O_6$ $12,42 \pm 0,28$ $13,52 \pm 0,27$ $45,70 \pm 0,38$ Hình cầu, không màu, không có lỗ noãn Eimeria mitis

Về đặc điểm phân bố dịch tễ học theo địa bàn nghiên cứu, kết quả khảo sát tại 5 xã cho thấy tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng:

Địa phương (xã) Số mẫu kiểm tra Số mẫu nhiễm Tỷ lệ nhiễm (%) Nhẹ (+) (%) Trung bình (++) (%) Nặng (+++) (%) Rất nặng (++++) (%)
Phú Lộc 232 75 32,33 52,00 28,00 12,00 8,00
Minh Bảo 258 69 26,74 49,28 27,53 18,84 4,35
Văn Tiến 263 81 30,79 45,68 30,86 17,28 6,17
Tân Thịnh 247 61 24,69 57,38 24,59 14,75 3,28
Âu Lâu 254 73 28,74 43,84 35,62 15,07 5,48
Tính chung 1.254 359 28,63 49,30 29,53 15,59 5,57

Khảo sát theo lứa tuổi cho thấy quy luật biến động rõ rệt: gà 1 tuần tuổi hoàn toàn chưa nhiễm mầm bệnh (0,00%). Bệnh bắt đầu xuất hiện ở tuần thứ 2 (15,33%), tăng nhanh ở tuần thứ 3 (21,34%), đạt đỉnh điểm cao nhất ở tuần thứ 4 với tỷ lệ 48,47% (cường độ nặng và rất nặng chiếm tỷ lệ cao). Sau đó tỷ lệ nhiễm giảm dần ở các tuần tiếp theo: tuần thứ 5 (32,37%), tuần thứ 6 (37,91%), tuần thứ 7 (28,29%) và tuần thứ 8 (23,91%).

Khảo sát theo các tháng điều tra (từ tháng 6 đến tháng 11/2015) ghi nhận tỷ lệ nhiễm biến động từ 25,48% đến 33,03%. Tháng 6 ghi nhận tỷ lệ nhiễm cao nhất (33,03%) và cường độ rất nặng cao (8,33%), tương ứng với điều kiện thời tiết nóng ẩm đặc trưng (nhiệt độ trung bình 29,6°C, độ ẩm không khí trung bình 85%, lượng mưa và số giờ nắng cao). Tỷ lệ nhiễm giảm dần trong các tháng tiếp theo: tháng 7 (31,03%), tháng 8 (26,85%), tháng 9 (28,57%), tháng 11 (26,76%) và thấp nhất vào tháng 10 (25,48%).

Phương thức chăn nuôi Số mẫu kiểm tra Số mẫu nhiễm Tỷ lệ nhiễm (%) Nhẹ (+) (%) Trung bình (++) (%) Nặng (+++) (%) Rất nặng (++++) (%)
Chăn thả tự do 630 155 24,60 47,74 40,00 8,39 3,87
Bán chăn thả 624 204 32,69 50,49 21,57 21,08 6,86

Kết quả so sánh giữa hai phương thức chăn nuôi chỉ rõ: gà nuôi theo phương thức bán chăn thả có tỷ lệ nhiễm cầu trùng cao hơn phương thức chăn thả tự do (32,69% so với 24,60%). Cường độ nhiễm nặng và rất nặng ở đàn bán chăn thả cũng cao hơn vượt trội (21,08% và 6,86% so với 8,39% và 3,87%). Nguyên nhân được xác định do gà nuôi bán chăn thả có mật độ tiếp xúc cao với nền chuồng, chất độn chuồng lưu cữu và phân tích tụ, tạo điều kiện thuận lợi cho noãn nang lưu tồn; trong khi ở phương thức chăn thả tự do, mầm bệnh trên bãi chăn thả rộng dễ bị tiêu diệt bởi ánh nắng mặt trời và điều kiện khô ráo.

Về giải pháp và đóng góp khoa học, đề tài đã thiết lập bộ cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác về hình thái, kích thước và dịch tễ học của 6 loài cầu trùng gà tại Yên Bái; chứng minh thực nghiệm hiệu quả kiểm soát của hai phác đồ thuốc Avicoc và Rigecoccin-ws phối hợp cùng chất điện giải Gluco-K-C trong việc cắt đứt bài thải Oocyst, cung cấp cơ sở kỹ thuật tin cậy cho công tác thú y dự phòng tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của khóa luận xuất phát từ điều kiện thời gian và phạm vi thực địa:

  • Đề tài chỉ mới tiến hành theo dõi trong khoảng thời gian 6 tháng (từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 11/2015), chưa bao quát trọn vẹn chu kỳ 12 tháng của năm, đặc biệt thiếu dữ liệu vào mùa đông giá rét và mùa xuân nồm ẩm – vốn là giai đoạn có nguy cơ dịch tễ cầu trùng phức tạp tại miền Bắc.
  • Phạm vi khảo sát mới dừng lại ở 5 xã ngoại thành thuộc thành phố Yên Bái, chưa mở rộng so sánh với các vùng chăn nuôi tập trung quy mô trang trại công nghiệp hoặc các huyện vùng cao trong tỉnh.
  • Phương pháp định danh loài chủ yếu dựa trên đo đạc hình thái học vi thể và nuôi cấy sinh bào tử truyền thống, chưa áp dụng các kỹ thuật sinh học phân tử hiện đại (như giải trình tự gen hay PCR) để khẳng định biến nạp di truyền hoặc phát hiện các chủng kháng thuốc.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất:

  • Mở rộng thời gian nghiên cứu liên tục cả năm để xây dựng biểu đồ dịch tễ học hoàn chỉnh theo 4 mùa tại địa phương.
  • Ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử (PCR) nhằm định loại chính xác các phân loài cầu trùng và xác định mức độ mẫn cảm/kháng thuốc của các chủng Eimeria lưu hành trên địa bàn.
  • Khảo sát thử nghiệm hiệu lực miễn dịch của các loại vắc xin phòng cầu trùng kết hợp với việc cải tiến quy trình xử lý đệm lót sinh học trong chăn nuôi gà bán chăn thả.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị tham khảo học thuật và ứng dụng thực tiễn chuyên sâu:

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Bệnh học thủy sản/gia súc gia cầm; cán bộ kỹ thuật tại các Trạm Thú y, Trung tâm Khuyến nông; và các chủ trang trại, hộ gia đình chăn nuôi gà bán chăn thả.
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất:
    • Quy trình thực hành xét nghiệm phân bằng hai phương pháp phù nổi Fulleborn và Darling kết hợp kỹ thuật đếm buồng đếm McMaster được mô tả chuẩn hóa từng bước định lượng cụ thể.
    • Bảng dữ liệu trắc vi thị kính và thời gian sinh bào tử của 6 loài cầu trùng gà trong môi trường Kali Bicromat 2,5% là tài liệu chuẩn mực hỗ trợ cho công tác chẩn đoán phân biệt hình thái học nguyên trùng.
    • Dữ liệu đối sánh cụ thể giữa phương thức chăn thả tự do và bán chăn thả cung cấp bằng chứng thực nghiệm quan trọng giúp người chăn nuôi cải tạo chuồng trại, định kỳ thay chất độn chuồng và kiểm soát mật độ nuôi để giảm thiểu áp lực mầm bệnh.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận đã phát hiện và định danh bao nhiêu loài cầu trùng ký sinh trên gà tại thành phố Yên Bái? Loài nào có kích thước lớn nhất và nhỏ nhất? Đề tài đã phát hiện và định danh được 6 loài cầu trùng gồm: Eimeria tenella ($O_1$), Eimeria acervulina ($O_2$), Eimeria maxima ($O_3$), Eimeria necatrix ($O_4$), Eimeria brunetti ($O_5$) và Eimeria mitis ($O_6$). Trong đó, loài có kích thước noãn nang lớn nhất là Eimeria maxima ($O_3$) với chiều dài $26,04 \pm 0,44 \mu m$ và chiều rộng $23,09 \pm 0,29 \mu m$; loài có kích thước nhỏ nhất là Eimeria mitis ($O_6$) với chiều dài $12,42 \pm 0,28 \mu m$ và chiều rộng $13,52 \pm 0,27 \mu m$.

Tại sao phương thức chăn nuôi bán chăn thả lại có tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng cao hơn phương thức chăn thả tự do? Kết quả nghiên cứu cho thấy đàn gà nuôi bán chăn thả có tỷ lệ nhiễm 32,69% (nhiễm nặng 21,08%, rất nặng 6,86%), cao hơn so với gà nuôi chăn thả tự do có tỷ lệ nhiễm 24,60% (nhiễm nặng 8,39%, rất nặng 3,87%). Nguyên nhân là do ở phương thức bán chăn thả, gà thường xuyên bị nhốt trong không gian hạn chế, tiếp xúc trực tiếp với phân và chất độn chuồng tích tụ lâu ngày, tạo điều kiện thuận lợi cho noãn nang cầu trùng lưu truyền và tái nhiễm. Ngược lại, ở phương thức chăn thả tự do trên diện tích bãi rộng, noãn nang thải ra môi trường dễ bị khô hanh và bức xạ ánh nắng mặt trời tiêu diệt.

Tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm cầu trùng biến động như thế nào theo các tuần tuổi của gà? Gà 1 tuần tuổi chưa xuất hiện noãn nang cầu trùng trong phân (tỷ lệ 0,00%). Bệnh bắt đầu xuất hiện ở tuần thứ 2 (15,33%), tăng nhanh ở tuần thứ 3 (21,34%) và đạt đỉnh điểm cao nhất ở tuần thứ 4 với tỷ lệ 48,47%. Từ tuần thứ 5 trở đi, tỷ lệ nhiễm bắt đầu giảm dần (tuần 5: 32,37%; tuần 6: 37,91%; tuần 7: 28,29%; tuần 8: 23,91%). Về cường độ nhiễm, giai đoạn từ 3 đến 5 tuần tuổi là giai đoạn gà bị nhiễm ở cường độ nặng và rất nặng cao nhất (từ 5,31% đến 7,37%).

Yếu tố thời tiết, khí hậu trong các tháng điều tra tác động thế nào đến tỷ lệ nhiễm bệnh? Trong 6 tháng điều tra (từ tháng 6 đến tháng 11/2015), tỷ lệ nhiễm cầu trùng đạt mức cao nhất vào tháng 6 (33,03%) và cường độ rất nặng cao nhất vào tháng 7 (10,53%). Theo số liệu khí tượng thủy văn, tháng 6 là thời điểm có nhiệt độ trung bình cao nhất (29,6°C), ẩm độ trung bình cao (85%), cùng tổng lượng mưa và số giờ nắng cao nhất trong đợt điều tra. Nền nhiệt ẩm này là môi trường lý tưởng thúc đẩy noãn nang cầu trùng sinh bào tử ngoài ngoại cảnh, dẫn đến tỷ lệ cảm nhiễm của đàn gà tăng cao.

Hai phác đồ dùng thuốc điều trị thử nghiệm trong đề tài được thiết lập với thành phần và liều lượng cụ thể ra sao? Tác giả bố trí 2 phác đồ điều trị liên tục trong 5 - 7 ngày:

  • Phác đồ 1: Sử dụng thuốc Avicoc (công ty Virbac) với liều lượng 1 g/lít nước uống, kết hợp Gluco-K-C liều 2 g/lít nước uống để trợ lực, tăng cường sức đề kháng và chống xuất huyết.
  • Phác đồ 2: Sử dụng thuốc Rigecoccin-ws (công ty cổ phần dược thú y Hanvet) với liều lượng 1 g/6 lít nước uống, kết hợp Gluco-K-C liều 2 g/lít nước uống.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Trần Quyết Chiến đã phản ánh toàn diện hiện trạng dịch tễ học bệnh cầu trùng ở gà tại thành phố Yên Bái với tỷ lệ nhiễm trung bình 28,63% trên tổng số 1.254 mẫu phân khảo sát. Nghiên cứu đã xác định và định danh hình thái của 6 loài cầu trùng thuộc giống Eimeria, đồng thời chứng minh rõ quy luật nhiễm bệnh đạt đỉnh điểm ở gà 4 tuần tuổi, tăng cao trong các tháng hè nóng ẩm (tháng 6) và có nguy cơ cao hơn ở phương thức nuôi bán chăn thả. Các dẫn liệu thực nghiệm về kỹ thuật chẩn đoán buồng đếm McMaster và phác đồ can thiệp bằng hóa dược kết hợp chất trợ sức là tài liệu khoa học hữu ích cho công tác kiểm soát dịch bệnh gia cầm tại các tỉnh trung du miền núi phía Bắc.