Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa ở bê nghé và biện pháp phòng trị tại ba huyện của tỉnh thái nguyên

Luận văn thạc sĩ phân tích nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa ở bê nghé và biện pháp phòng trị tại ba huyện, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

99
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Nghiên cứu dịch tễ bệnh giun đũa ở bê nghé tại Thái Nguyên

Nghiên cứu tập trung vào đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa ở bê nghé tại ba huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa cao ở bê nghé dưới 3 tháng tuổi, đặc biệt trong mùa đông - xuân. Dịch tễ học chỉ ra rằng bệnh lây nhiễm qua hai con đường chính: qua đường tiêu hóa và qua bào thai. Trứng giun đũa có khả năng tồn tại lâu trong môi trường, đặc biệt trong phân và đất ẩm, tạo điều kiện thuận lợi cho sự lây lan bệnh.

1.1. Tình hình nhiễm giun đũa

Tỷ lệ nhiễm giun đũa ở bê nghé tại Thái Nguyên dao động từ 40-60%, với cường độ nhiễm cao ở các khu vực có điều kiện vệ sinh kém. Nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm giữa các huyện, trong đó huyện Phú Lương có tỷ lệ nhiễm cao nhất.

1.2. Sự phát triển của trứng giun đũa

Trứng giun đũa phát triển thành trứng có sức gây bệnh trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thích hợp. Thời gian phát triển từ 7-38 ngày tùy thuộc vào nhiệt độ môi trường. Trứng có khả năng tồn tại lâu trong phân và đất, tạo nguy cơ lây nhiễm cao.

II. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh giun đũa

Bệnh giun đũa ở bê nghé gây ra các tổn thương nghiêm trọng ở ruột non, gan và phổi do ấu trùng di hành. Biểu hiện lâm sàng bao gồm gầy còm, chậm lớn, sốt cao, ỉa chảy và suy nhược. Nghiên cứu cũng chỉ ra sự thay đổi đáng kể trong các chỉ số máu và công thức bạch cầu ở bê nghé bị nhiễm bệnh so với bê nghé khỏe mạnh.

2.1. Biểu hiện lâm sàng

Bê nghé nhiễm giun đũa thường có biểu hiện gầy yếu, chậm lớn, kém ăn và ỉa chảy. Một số trường hợp nặng có thể dẫn đến tử vong nếu không được điều trị kịp thời.

2.2. Bệnh tích đại thể

Bệnh tích đại thể bao gồm viêm ruột non, tổn thương gan và phổi do ấu trùng di hành. Nghiên cứu cũng ghi nhận sự xuất hiện của giun trưởng thành trong ruột non của bê nghé bị nhiễm bệnh.

III. Biện pháp phòng trị bệnh giun đũa

Nghiên cứu đề xuất các biện pháp phòng trị hiệu quả, bao gồm việc sử dụng thuốc tẩy giun và phương pháp ủ phân nhiệt sinh học để diệt trứng giun đũa. Kết quả cho thấy hiệu quả cao của thuốc tẩy giun trong việc giảm tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm giun đũa ở bê nghé.

3.1. Phương pháp ủ phân nhiệt sinh học

Phương pháp ủ phân nhiệt sinh học được áp dụng để diệt trứng giun đũa trong phân. Kết quả cho thấy phương pháp này có hiệu quả cao trong việc giảm nguy cơ lây nhiễm bệnh.

3.2. Điều trị bằng thuốc

Các loại thuốc tẩy giun như Albendazole và Ivermectin được sử dụng để điều trị bệnh giun đũa. Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả cao của các loại thuốc này trong việc giảm tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm giun đũa ở bê nghé.

IV. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu cung cấp những thông tin khoa học quan trọng về đặc điểm dịch tễ, bệnh lýbiện pháp phòng trị bệnh giun đũa ở bê nghé. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn cao, giúp người chăn nuôi áp dụng các biện pháp phòng trị hiệu quả, giảm thiệt hại kinh tế do bệnh giun đũa gây ra.

4.1. Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu đóng góp vào kho tàng kiến thức về bệnh giun đũa ở bê nghé, đặc biệt là về đặc điểm dịch tễ và bệnh lý. Kết quả nghiên cứu cũng cung cấp cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo.

4.2. Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu giúp người chăn nuôi áp dụng các biện pháp phòng trị hiệu quả, giảm tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm giun đũa ở bê nghé. Điều này góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi và phát triển kinh tế địa phương.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa ở bê nghé và biện pháp phòng trị tại ba huyện của tỉnh thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Đặc điểm sinh học của giun đũa ký sinh ở bê, nghé 1. Vị trí của giun đũa bê, nghé trong hệ thống phân loại động vật.

Bệnh giun đũa do loài giun Neoascaris vitulorum (Goeze, 1782), hay còn có tên gọi khác là Toxocara vitulorum thuộc họ Anikidae gây ra. Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [40], giun đũa bê, nghé có vị trí trong hệ thống phân loại động vật học như sau: Ngành Nemathelminthes Schneider, 1873 Lớp Nematoda Rudolphi, 1808 Phân Lớp Rhabditia Pearse, 1942 Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940 Phân bộ Ascaridina Skrjabin, 1915 Họ Anisakidae Skrjabin et Karokhin, 1945 Giống Neoascaris Travassos, 1927 Loài Neoascaris vitulorum Goeze, 1782. Đặc điểm hình thái của Neoascaris vitulorum. Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11]; Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12], giun tròn Neoascaris vitulorum có thân màu vàng nhạt, đầu có ba lá môi, rìa của những môi này có răng cưa, thực quản dài 3 - 4,5 mm, chỗ nối tiếp với ruột phình thành dạ dày nhỏ, vòng thần kinh và lỗ bài tiết ở ngang nhau phần đầu.

Giun đực không có cánh đuôi, dài 13 - 15 cm, rộng nhất 0,35 cm, đuôi dài 0,21 - 0,46 mm, thon tròn, trước và sau hậu môn ở phía bụng có 20 - 27 gai, có một đôi gai giao hợp dài 0,95 - 1,20 mm. Giun cái dài 19 – 23 cm, chỗ rộng nhất là 0,5 cm, âm hộ ở khoảng 1/8 trước thân, đuôi hình nón dài 0,37 - 0,42 mm, đuôi có nhiều gai bao phủ. Trứng giun hơi tròn, có vỏ với nhiều chỗ lõm nhỏ, dài 0,080 - 0,090 mm, rộng 0,070- 0,075 mm. 5 Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [22], giun đũa Neoascaris vitulorum (Goeze, 1782) ký sinh ở bê nghé có kích thước: Giun đực ở nghé dài 13 -15 cm, đường kính 0,3 cm; ở bê dài 14 -16 cm.

Giun cái ở nghé dài 19-23 cm, đường kính 0,5 cm, trứng 70-75 x 80-90 µm; giun cái ở bê dài 20-26 cm, trứng 75-85 x 90-100 µm. Vị trí âm hộ của giun cái là 1/8 phần trước thân. Phan Lục (2005) [26] cho biết, giun đũa cỏ kích thước to, vàng nhạt, dài 13-22 cm, trên đầu cò 3 môi. Thực quản hình ống dài, phần cuối có chỗ phình to ra gọi là dạ dầy giả.

Xung quanh lỗ hậu môn của giun đực có nhiều gai chồi, có hai gai giao hợp to bằng nhau. Trứng có 4 lớp vỏ màu nhạt, lớp ngoài cùng lỗ chỗ như tổ ong, trứng dài 0,08 - 0,09 mm, rộng 0,07 - 0,75mm. Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [23] đã mô tả cấu tạo của giun đũa: giun đực dài 110 - 189 mm, rộng nhất 3,52 - 4,81mm; đuôi dài 0,21 - 0,46 mm, thon dần về cuối mút; thực quản dài 4,49 mm; gai sinh dục dài 0,57 - 1,19 mm, có màng mỏng bao bọc; ở phía trước hậu môn có 20 - 27 nhú xếp thành 2 hàng, sau hậu môn có 5 đôi nhú, đôi nhú thứ nhất kép. Giun cái dài 151 – 200 mm, rộng 4,0 - 5,7 mm; đuôi hình nón, phủ nhiều gai, dài 0,37 - 0,42 mm; gần mút đuôi có 2 nhú bên; lỗ sinh dục nằm ở phần trước cơ thể, cách mút đầu khoảng 1/10 - 2/10 chiều dài cơ thể; trứng hình cầu kích thước 0,076 - 0,095 x 0,065 - 0,080 mm.

Theo những nghiên cứu của Taira N. (1991) [63]: Từ năm 1982 - 1988 giun tròn đã được tìm thấy và nghiên cứu ở hai huyện Kyushu và Okinawa, Nhật bản. Hai tác giả đã nghiên cứu 7 giun đũa đực và 21 giun đũa cái về hình thái học, cho thấy độ dài trung bình của giun đực là 15,64 cm (14- 18cm) giun cái 25,75 cm (16,5 – 34 cm). Thân trắng đục và mềm, trứng giun dài 81,6 µm và rộng 71,8 µm, bề mặt vỏ trứng trơn nhẵn, không nhăn nheo.

(1989) [56] đã quan sát giun đũa Neoascaris vitulorum trên kính hiển vi điện tử, thấy cấu trúc bề mặt của giun gồm môi, răng, gai nhỏ và phần đuôi; ở giun non răng hình nón và nhọn chúng dài hơn khi tuổi giun tăng lên. 6 Theo mô tả của Urquhart G. và cs (1996) [64] thì giun đũa T. viturlorum là ký sinh trùng đường ruột lớn nhất ở bê nghé, giun cái dài có thể đến 30,00 cm.

Giun đũa có thân dày, màu hơi hồng khi còn sống, và lớp biểu bì khá trong suốt nên có thể nhìn thấy được các cơ quan nội tạng. Trứng giun đũa có một lớp vỏ dày và trong suốt. Đặc điểm vòng đời của Neoascaris vitulorum. Vòng đời của giun đũa bê, nghé là vòng đời trực tiếp không qua ký chủ trung gian.

Dactian (1934-1937) làm thí nghiệm: cho bê nuốt trứng giun đũa có sức gây bệnh thì sau 43 ngày có thể thấy giun đũa trưởng thành và con non ở cơ thể bê. Ngoài ra, nếu cho bò mẹ trước khi đẻ 124 - 192 ngày nuốt trứng giun có sức gây bệnh thì bê đẻ ra 20 - 31 ngày trong phân đã có trứng giun đũa. Điều đó chứng tỏ giun đũa bê, nghé có thể qua máu truyền vào bào thai. Ở trâu mẹ thời kỳ chửa đầu nuốt trứng giun cảm nhiễm thì tất cả nghé đẻ ra đều bị nhiễm giun qua nhau thai.

Giun đũa bê, nghé nhiễm vào cơ thể bằng 2 con đường: nhiễm trực tiếp và nhiễm qua bào thai (Nguyễn Hùng Nguyệt và cs 2008 [28]). Chẩn đoán bằng cách xét nghiệm phân tìm trứng giun Neoascaris vitulorum hoặc trên cơ sở phát hiện thấy giun tự thải ra ở trong phân. Phạm Sỹ Lăng (2005) [19] cũng cho biết, bệnh giun đũa bê nghé lây nhiễm qua 2 con đường: - Qua đường tiêu hóa do bê, nghé ăn phải trứng giun đũa cảm nhiễm. - Ấu trùng từ máu trâu, bò mang thai xâm nhập vào bào thai.

Vichitr Sukhapesna (1982) [66] đã nghiên cứu 10 trâu, bò mẹ nhiễm Strongyloides papillosus và Neoascaris vitulorum cùng với bê nghé kể từ khi bê nghé được sinh ra. Tác giả cho rằng trâu, bò mẹ là nơi chứa mầm bệnh chính làm cho bê nghé con bị nhiễm S. Bê nghé đã bị nhiễm S. papillosus qua bú sữa từ trâu, bò mẹ và nhiễm N.

vitulorum qua nhau thai. 7 Nghé đẻ ra sau 14 ngày đã có trứng giun trong phân (tức là có giun trưởng thành trong ruột) chứng tỏ nghé bị nhiễm bệnh từ trong bào thai. Giun đũa có chu kỳ phát triển trực tiếp, không qua ký chủ trung gian. Giun trưởng thành sống trong ruột non của bê nghé đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi thì phát triển thành phôi thai trong trứng.

Trứng có phôi thai là trứng đã có sức gây bệnh. Sau đó trứng này lại vào cơ thể con vật theo thức ăn, nước uống. Khi mới theo phân ra ngoài trứng không phân chia. Tuỳ theo điều kiện nhiệt độ và độ ẩm bên ngoài, thời gian trứng phát triển thành trứng cảm nhiễm có khác nhau.

và cs (1990) [49] cho biết, ở 250C trứng giun đũa phát triển thành trứng ấu trùng sau 7 ngày. Trứng giun cảm nhiễm có sức đề kháng cao với một số hoá chất cũng như yếu tố vật lý. Khi trứng ở trong phân thì trứng có sức đề kháng cao đối với một số chất sát trùng. Đối với một số chất sát trùng thông thường như Lysol 2%, Zyphen 4 - 5%, sau 17 - 20 giây phôi bị huỷ hoàn toàn, nhưng ở trong phân thì phôi không bị diệt.

Phạm Chức (1980) [4] cũng cho biết, Lysol 5% diệt trứng giun đũa trong một giờ; Axit phênic 5% diệt trứng trong thời gian 45 phút đến một giờ. Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [31], trứng giun đũa phát dục thành phôi thai trong khoảng 20 ngày ở nhiệt độ 19 - 22°C, nhưng phải cần 38 ngày ở nhiệt độ 15 - 17°c. Dương Công Thuận và cs (1986) [38] đã lấy phân của bê, nghé bị nhiễm giun đũa có nhiều trứng, trộn với nước để giữ ẩm, cho vào đĩa Pettri, để ở nhiệt độ trong phòng khoảng 15 - 22°C (tháng 10 - 11), thấy trứng phát triển thành phôi thai sau 20 ngày, ở nhiệt độ 15 - 17°C phôi hình thành sau 38 ngày. Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1999) [22] cho biết, con cái đẻ trứng ở ruột non, theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ thích hợp trứng phát triển thành 8 trứng có khả năng gây bệnh (nhiệt độ 15 - 17°C cần 38 ngày, 19 - 22°C cần 20 ngày, 25°C cần 10 - 12 ngày, 28 - 30°C cần 65 ngày, nhưng khi nhiệt độ đến 34 - 35°C thì trứng không phát triển.

Theo Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008) [28], trứng giun đũa bê, nghé có sức đề kháng với điều kiện ngoại cảnh, chỉ bị diệt ở nhiệt độ 45°C trở lên và ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp. Sau khi trứng giun cảm nhiễm vào cơ thể trâu bò mẹ, dưới tác dụng của dịch vị và ruột non, ấu trùng nở ra và vào từ ruột non theo mạch máu vào gan, qua tim lên phổi, ấu trùng đến tim và từ đó vào đại tuần hoàn. Phần lớn ấu trùng đều theo mạch máu đến các mô và phủ tạng, ở đó nó đóng kén và có thể sống từ 5 đến 6 tháng hoặc lâu hơn. Trường hợp trâu bò cái nhiễm phải trứng giun trong giai đoạn có chửa thì ấu trùng có thể qua hệ tuần hoàn của nhau thai đến bào thai, hoặc có thể trâu, bò cái nhiễm trong thời gian không chửa, ấu trùng đóng kén ở mô và phủ tạng, khi trâu bò chửa, ấu trùng thoát ra khỏi kén theo mạch máu đến nhau thai và vào bào thai.

Kén của ấu trùng có thể thấy ở nhiều mô và phủ tạng của trâu, bò mẹ như: cơ, thận, não, gan, phổi. Ấu trùng có thể sống ở đó 6 tháng. Ở con vật không chửa, quá thời gian 6 tháng ấu trùng chết. Ở con vật chửa trong vòng 6 tháng, ấu trùng chui ra khỏi kén đi vào nhau thai.

Ở bào thai ấu trùng sống trong gan. Nhưng kết quả nghiên cứu đều cho thấy: chỉ sau khi bê nghé được đẻ ra, ấu trùng mới tiếp tục biến thái sau khi hoàn thành một đợt di hành qua phổi, khí quản, ruột giống như sự di hành của giun đũa lợn, xuống ruột, giun lớn lên nhanh chóng và phát triển thành giun trưởng thành đẻ trứng. Trong điều kiện tự nhiên, ở bê nghé từ 17 ngày tuổi trở lên đã cỏ thể tìm thấy trứng giun đũa trong phân. Đối với một số giun đũa khác như Ascaris của lợn, người, Parascaris của ngựa, thời gian từ khi con vật bắt đầu cảm nhiễm trứng giun đũa cho đến khi thành giun trưởng thành có khả năng đẻ trứng phải tối thiểu trên một tháng.

Tuổi mắc bệnh quá sớm của bê nghé làm người ta nghĩ đến bê nghé có thể mắc bệnh từ khi còn trong bào thai.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh giun đũa ở bê nghé tại Thái Nguyên" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình dịch tễ học của bệnh giun đũa ở bê nghé, cùng với các biện pháp phòng ngừa và điều trị hiệu quả. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về bệnh lý mà còn đưa ra các giải pháp thực tiễn nhằm nâng cao sức khỏe cho đàn bê nghé, từ đó cải thiện năng suất chăn nuôi.

Để mở rộng kiến thức về chăm sóc và phòng trị bệnh cho gia súc, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn tốt nghiệp thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại nguyễn thanh lịch xã ba trại huyện ba vì thành phố hà nội, nơi cung cấp quy trình chăm sóc cho lợn nái sinh sản. Ngoài ra, tài liệu Tiểu luận thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho đàn lợn nái sinh sản tại trang trại ngô thị hồng gấm huyện hiệp hòa tỉnh bắc giang cũng sẽ giúp bạn có thêm thông tin về quy trình chăm sóc lợn. Cuối cùng, tài liệu Luận văn tốt nghiệp theo dõi khả năng sinh trưởng biện pháp phòng và điều trị một số bệnh trên đàn lợn thịt nuôi tại trại lợn nguyễn văn tưởng huyện kim thành tỉnh hải dương sẽ cung cấp thêm kiến thức về biện pháp điều trị bệnh cho lợn thịt. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về việc chăm sóc và phòng trị bệnh cho gia súc.