Tổng quan luận án
Việt Nam sở hữu mức độ đa dạng sinh học cao nhờ vị trí địa lý nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa và địa hình đồi núi chiếm hơn ba phần tư diện tích lãnh thổ. Trong các nhóm tài nguyên thực vật, nhóm cây chứa tinh dầu giữ vị trí quan trọng, đóng vai trò là nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp dược phẩm, mỹ phẩm và chế biến thực phẩm. Theo các số liệu thống kê hệ thực vật Việt Nam, nhóm cây cho tinh dầu hiện có khoảng 657 loài thuộc 357 chi và 114 họ (chiếm tỷ lệ 6,3% tổng số loài, 15,8% tổng số chi và 37,8% tổng số họ). Trong đó, họ Cam (Rutaceae) là một trong những họ thực vật tiêu biểu khi hầu hết các chi, các loài và các bộ phận cơ quan sinh dưỡng cũng như sinh sản đều có khả năng tích lũy tinh dầu.
Tỉnh Nghệ An là địa phương có diện tích tự nhiên lớn nhất cả nước (16.648.729 ha), trải dài trên nhiều dạng địa hình phức tạp gồm miền núi cao, trung du, đồng bằng và dải ven biển. Nơi đây có các khu vực bảo tồn thiên nhiên trọng điểm như Vườn Quốc gia Pù Mát, Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống và Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt. Trong khu hệ thực vật Nghệ An, bốn chi thuộc họ Cam gồm Hồng bì (Clausena), Ba chạc (Euodia), Cơm rượu (Glycosmis) và Muồng truổng (Zanthoxylum) có thành phần loài phong phú và được sử dụng rộng rãi trong kinh nghiệm y học dân gian. Mặc dù vậy, các công bố khoa học trước đây về bốn chi này tại địa phương còn tản mạn, chủ yếu dừng lại ở các danh lục kiểm kê đa dạng sinh học chung, thiếu các nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống về phân loại học, bản đồ phân bố, hàm lượng, thành phần hóa học tinh dầu theo từng bộ phận và hoạt tính sinh học. Xuất phát từ khoảng trống nghiên cứu đó, luận án tiến sĩ sinh học của tác giả Hoàng Danh Trung thực hiện đề tài: "Nghiên cứu đa dạng loài và thành phần hóa học tinh dầu của một số loài trong các chi: Hồng bì (Clausena), Ba chạc (Euodia), Cơm rượu (Glycosmis), Muồng truổng (Zanthoxylum) thuộc họ Cam (Rutaceae) ở Nghệ An".
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định rõ:
- Đánh giá tính đa dạng về thành phần loài, phân bố và giá trị sử dụng của các loài thuộc bốn chi Hồng bì (Clausena), Ba chạc (Euodia), Cơm rượu (Glycosmis) và Muồng truổng (Zanthoxylum) tại Nghệ An.
- Mô tả các đặc điểm sinh học nhận dạng và lập bản đồ phân bố của các loài thuộc bốn chi nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
- Xác định hàm lượng, thành phần hóa học tinh dầu ở các bộ phận khác nhau (lá, cành, vỏ, quả, rễ) của 15 loài và đánh giá hoạt tính sinh học (kháng vi sinh vật kiểm định, độc tế bào ung thư, chống oxy hóa) của tinh dầu loài Ba chạc (Euodia lepta).
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài thực vật thuộc bốn chi Clausena, Euodia, Glycosmis, Zanthoxylum thuộc họ Cam (Rutaceae) phân bố tự nhiên hoặc được gây trồng tại Nghệ An, cùng các mẫu tinh dầu chiết xuất từ các cơ quan của các loài này.
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Nghệ An, tập trung khảo sát tại các vùng sinh thái đặc trưng gồm Vườn Quốc gia Pù Mát, Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống, Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt, vùng núi đá vôi Quỳnh Lưu, đỉnh Pu Xai Lai Leng và các huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Anh Sơn, Thanh Chương.
- Phạm vi thời gian và tư liệu: Công trình hoàn thành năm 2018; thu thập, xử lý và phân tích 455 mẫu tiêu bản thực vật thực địa đối chiếu với các bộ sưu tập mẫu chuẩn quốc gia.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Họ Cam (Rutaceae) được nghiên cứu phân loại từ thời Linnaeus (1753) với 7 chi và 19 loài, sau đó Jussieu chính thức thiết lập tên họ Rutaceae với chi chuẩn là Ruta L. Cuối thế kỷ 19, A. Engler xây dựng hệ thống phân loại toàn diện dựa trên hình thái cơ quan sinh dưỡng, sinh sản, giải phẫu tuyến tiết nhựa, số lượng nhiễm sắc thể và phân bố địa lý, phân chia họ Cam thành 6 phân họ, 10 tông, 25 phân tông với khoảng 150 chi và gần 1.600 loài. Hệ thống này được kế thừa và hiệu chỉnh bởi W. Reece (1967) và A. Takhtajan (1987, 1997) với việc sắp xếp bộ Cam thành 10 họ, riêng họ Cam được chia thành 7 phân họ. Trong các công trình thực vật chí khu vực, J. Hooker (1875) mô tả 23 chi và 78 loài thuộc 4 tông ở Ấn Độ; B. C. Stone (1972) biên soạn họ Cam trong Thực vật chí Malaysia; C. E. Chang và cộng sự (1993) ghi nhận 13 chi, 31 loài trong Thực vật chí Đài Loan.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu phân loại họ Cam khởi đầu từ J. Loureiro (1790) với 6 chi và 12 loài, tiếp nối bởi A. Guillaumin (1910–1912) ghi nhận 18 chi, 63 loài ở Đông Dương (53 loài có ở Việt Nam). Lê Khả Kế và cộng sự (1970) xây dựng khóa định loại cho 12 chi và 31 loài. Nguyễn Tiến Bân (1997) lập khóa nhận biết cho 28 chi. Phạm Hoàng Hộ (2000, 2003) mô tả 22 chi và 117 loài trong bộ Cây cỏ Việt Nam. Trần Kim Liên (2003) cập nhật danh pháp 27 chi và 128 loài trong Danh lục các loài thực vật Việt Nam. Công trình tổng quan hệ thống gần nhất của Bùi Thu Hà (2012) công bố hệ thực vật Việt Nam có 107 loài, 1 phân loài và 3 thứ thuộc 26 chi, 5 tông và 3 phân họ họ Cam. Về giá trị sử dụng, Trần Đình Lý (1993) thống kê 35 loài có ích, Đỗ Tất Lợi (1999) và Đỗ Huy Bích cùng cộng sự (2004) ghi nhận các cây thuốc trong họ Cam, Võ Văn Chi (2012) thống kê 61 loài làm thuốc trong Từ điển cây thuốc Việt Nam. Nhiều điều tra đa dạng tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn cũng ghi nhận sự hiện diện của họ Cam như Nguyễn Tiến Bân và cs (1984) tại Tây Nguyên (13 chi, 45 loài), Phùng Ngọc Lan và cs (1996) tại Cúc Phương (9 chi, 30 loài), Phan Kế Lộc và cs (1997) tại vùng Sông Đà (10 chi, 27 loài), Nguyễn Nghĩa Thìn và cs (1998, 2004) tại Hoàng Liên (11 chi, 28 loài) và Pù Mát (12 chi, 51 loài), Trần Minh Hợi và cs (2008) tại Xuân Sơn (9 chi, 20 loài), Lê Thị Hương và cs (2012) tại Pù Hoạt (13 chi, 24 loài), Đậu Bá Thìn và cs (2016) tại Pù Luông (10 chi, 20 loài).
Tại Nghệ An, các nghiên cứu của Phạm Hồng Ban (2001), Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thanh Nhàn (2004), Lê Thị Hương và Đỗ Ngọc Đài (2012), Hồ Thị Hải (2015), Nguyễn Viết Hùng (2017) và Nguyễn Thanh Nhàn (2017) đã kiểm kê thành phần loài họ Cam ở một số sinh cảnh riêng lẻ (từ 6 đến 13 chi, 12 đến 53 loài). Về hóa học tinh dầu, các nghiên cứu của Nguyễn Anh Dũng và cs (2009), Trần Đình Thắng và cs (2005, 2006), Đỗ Ngọc Đài và cs (2012) đã phân tích thành phần một số loài riêng lẻ như Euodia calophylla, E. trichotoma, E. lepta, Zanthoxylum avicennae, Clausena lansium.
Khoảng trống khoa học mà luận án tập trung giải quyết:
- Chưa có công trình nào tổng kết đồng bộ, toàn diện về mặt phân loại học và lập bản đồ phân bố chi tiết cho toàn bộ các loài thuộc 4 chi Clausena, Euodia, Glycosmis, Zanthoxylum trên phạm vi toàn tỉnh Nghệ An.
- Dữ liệu về hàm lượng và thành phần hóa học tinh dầu ở các bộ phận giải phẫu khác nhau của các loài thuộc 4 chi này tại Nghệ An còn thiếu hụt, nhiều loài chưa từng được phân tích tinh dầu.
- Các dẫn liệu thực nghiệm về hoạt tính sinh học (kháng khuẩn, ức chế tế bào ung thư, chống oxy hóa) của tinh dầu các loài trong 4 chi tại khu vực nghiên cứu chưa được kiểm chứng đầy đủ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm
- Khái niệm cây tinh dầu: Kế thừa định nghĩa của Nicolaev (1968) và sinh lý thực vật học, cây tinh dầu là những loài thực vật có chứa các cấu trúc giải phẫu chuyên biệt thực hiện nhiệm vụ bài tiết và tích lũy tinh dầu.
- Khái niệm tinh dầu: Theo Dược điển Pháp (1965, 1987), tinh dầu là hỗn hợp các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi có nguồn gốc thực vật, thu nhận bằng phương pháp cất kéo hơi nước hoặc cơ học. Tinh dầu là chất lỏng sánh, có hoạt tính quang học, đa số có tỷ trọng $d < 1$, không tan trong nước, tan trong dung môi hữu cơ, được cấu tạo từ bốn nhóm hợp chất: hợp chất aliphatic, hợp chất terpen và dẫn xuất (monoterpen $C_{10}H_{16}$, sesquiterpen $C_{15}H_{24}$), dẫn xuất benzen (benzoid) và các hợp chất chứa nitrogen.
- Quy luật phân bố cây tinh dầu: Tiếp cận theo nguyên tắc phổ biến (tính quy luật theo bậc phân loại họ) và nguyên tắc ngẫu nhiên trong hệ thực vật.
Phương pháp nghiên cứu thực vật học
- Phương pháp điều tra thực địa: Thu mẫu thực vật theo tuyến qua các sinh cảnh đặc trưng theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007). Mỗi cá thể thu 2–3 mẫu tiêu bản đạt kích thước $29 \times 41\text{ cm}$, ghi nhận các đặc điểm tươi (nhựa mủ, màu sắc hoa quả, mùi vị) vào phiếu thực địa.
- Xử lý mẫu tiêu bản: Thực hiện theo quy trình của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) và R. Klein - D. Klein (1970). Mẫu được sấy khô tại phòng Bảo tàng thực vật Trường Đại học Vinh, xử lý diệt khuẩn bằng cồn chứa 3–5% $HgCl_2$, khâu đính trên bìa cứng $30 \times 42\text{ cm}$ có gắn nhãn định danh (etyket). Tổng số mẫu thu thập và phân tích là 455 mẫu, lưu trữ tại Viện Sư phạm Tự nhiên - Trường Đại học Vinh.
- Định loại thực vật: Sử dụng phương pháp hình thái học so sánh, đối chiếu trực tiếp với các bộ mẫu chuẩn tại Phòng Tiêu bản Thực vật - Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (HN), Đại học Quốc gia Hà Nội (UHN) và các tài liệu chuyên khảo của Phạm Hoàng Hộ (2000), Bùi Thu Hà (2012), Tên cây rừng Việt Nam (2000).
- Xây dựng bản đồ phân bố: Ghi nhận tọa độ các điểm phát hiện loài bằng máy định vị GPS, sử dụng phần mềm MapInfo 10.0 để số hóa và xây dựng bản đồ phân bố của 31 loài.
- Điều tra giá trị sử dụng: Phỏng vấn tri thức bản địa kết hợp tra cứu các tài liệu y học cổ truyền và thực vật kinh tế của Đỗ Tất Lợi (1999), Đỗ Huy Bích và cs (2004), Võ Văn Chi (2012).
Phương pháp nghiên cứu tinh dầu và hoạt tính sinh học
- Tách chiết và định lượng tinh dầu: Chưng cất lôi cuốn hơi nước từ 0,5–3 kg mẫu tươi (lá, cành, vỏ, quả, rễ) theo Phương pháp I của Dược điển Việt Nam IV (2009). Hàm lượng tinh dầu được tính theo phần trăm khối lượng tươi ($Hlt%$) và khối lượng khô tuyệt đối ($HLk%$) với công thức áp dụng cho tinh dầu nhẹ hơn nước ($d = 0,9$).
- Phân tích hóa học tinh dầu: Hòa tan 1,5 mg tinh dầu (đã làm khô bằng $Na_2SO_4$ khan) trong 1 ml n-hexan. Sắc ký khí (GC) thực hiện trên máy Agilent Technologies HP 6890N Plus với detector FID, cột mao quản HP-5MS ($30\text{ m} \times 0,25\text{ mm} \times 0,25\text{ }\mu\text{m}$), khí mang Heli, chương trình nhiệt độ: 60°C (giữ 2 phút), tăng 4°C/phút lên 220°C (giữ 10 phút), nhiệt độ buồng tiêm 250°C, detector 260°C. Sắc ký khí khối phổ (GC/MS) thực hiện trên hệ Agilent Technologies HP 6890N / HP 5973 MSD. Định tính các cấu tử dựa trên chỉ số lưu giữ RI (Retention Index) so sánh với dữ liệu chuẩn NIST 08, Wiley 9th, Adams (1995), Joulain & Koenig (1998); định lượng phần trăm cấu tử tính trực tiếp theo diện tích pic detector FID không hiệu chỉnh.
- Đánh giá hoạt tính sinh học:
- Hoạt tính kháng vi sinh vật: Thử nghiệm trên 3 chủng vi khuẩn Gram (+) (Bacillus subtilis ATCC 6633, Staphylococcus aureus ATCC 13709, Lactobacillus fermentum VTTC Lp B14), 3 chủng vi khuẩn Gram (-) (Escherichia coli ATCC 25922, Pseudomonas aeruginosa ATCC 15442, Salmonella enterica VTCC B650) và 1 chủng nấm men (Candida albicans ATCC 10231). Thử định tính bằng khuếch tán đĩa thạch và xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) trên phiến vi lượng 96 giếng theo Vanden Berghe và Vlietinck (1991); đối chứng dương: Ampicillin, Tetracycline, Nystatin (mẫu có $\text{MIC} \le 50\text{ }\mu\text{g/ml}$ được xác nhận dương tính).
- Hoạt tính độc tế bào ung thư: Phương pháp MTT (Thiazolyl Blue Tetrazolium Bromide), đo độ hấp thụ formazan tại bước sóng 540, 570 và 720 nm trên máy Tecan Infinite F50; nuôi cấy mật độ $1,5 \times 10^5\text{ tế bào/giếng}$; chất chuẩn dương là Ellipticine; xác định tỷ lệ sống sót CS% và giá trị $IC_{50}$ thông qua phần mềm TableCurve.
- Hoạt tính chống oxy hóa: Phương pháp quét gốc tự do DPPH (1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl), đo quang phổ tại bước sóng $\lambda = 515\text{ nm}$ trên máy ELISA; xác định tỷ lệ trung hòa gốc tự do SC% và tính giá trị $SC_{50}$ bằng phần mềm TableCurve AISN Software.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 1 hệ thống hóa các tư liệu nghiên cứu về phân loại học họ Cam (Rutaceae) trên thế giới và tại Việt Nam, làm rõ vị trí của 4 chi Clausena, Euodia, Glycosmis, Zanthoxylum. Chương này trình bày bản chất hóa học, phân loại các nhóm cấu tử tinh dầu và các quy luật phân bố cây tinh dầu trong thảm thực vật. Đồng thời, chương 1 tổng hợp các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về thành phần hóa học, hoạt tính dược lý của tinh dầu thuộc các chi nghiên cứu, phân tích điều kiện tự nhiên (địa hình 3 vùng sinh thái, khí hậu nhiệt đới gió mùa, chế độ thủy văn sông Cả, tài nguyên đất, thảm thực vật với 911.808 ha rừng) và đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An.
Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết đối tượng nghiên cứu (4 chi thực vật họ Cam và tinh dầu của chúng tại Nghệ An) cùng 3 nội dung nghiên cứu chính. Luận án mô tả đầy đủ các quy trình thực nghiệm gồm phương pháp điều tra thu thập 455 mẫu tiêu bản theo tuyến, quy trình xử lý tiêu bản chuẩn, phương pháp định loại so sánh hình thái, phương pháp xây dựng bản đồ phân bố bằng MapInfo 10.0, quy trình chưng cất định lượng tinh dầu theo Dược điển Việt Nam IV, quy chuẩn vận hành phân tích sắc ký GC và GC/MS, cùng 3 quy trình thử nghiệm hoạt tính sinh học in vitro (kháng vi sinh vật, MTT gây độc tế bào ung thư, DPPH chống oxy hóa) và các phần mềm xử lý thống kê (Excel, TableCurve).
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm đạt được của luận án:
- Đa dạng thành phần loài và so sánh khu hệ:
Từ 455 mẫu tiêu bản thu thập được tại các vùng sinh thái ở Nghệ An, tác giả đã định danh được 31 loài thuộc 4 chi họ Cam. So sánh với dữ liệu hệ thực vật Việt Nam (Bùi Thu Hà, 2012), số loài ở Nghệ An chiếm tỷ lệ 68,89% tổng số loài của 4 chi này trên toàn quốc.
| TT |
Tên chi |
Số loài ở Nghệ An (1) |
Số loài ở Việt Nam (2) |
Tỷ lệ % giữa (1) và (2) |
| 1 |
Ba chạc (Euodia) |
5 |
6 |
83,33 |
| 2 |
Hồng bì (Clausena) |
8 |
10 |
80,00 |
| 3 |
Cơm rượu (Glycosmis) |
10 |
19 |
52,63 |
| 4 |
Muồng truổng (Zanthoxylum) |
8 |
10 |
80,00 |
| Tổng |
4 chi nghiên cứu |
31 |
45 |
68,89 |
- Danh lục thành phần loài và giá trị sử dụng:
Luận án tổng hợp danh lục 31 loài với đầy đủ tên khoa học, tên Việt Nam, dạng thân và giá trị tài nguyên:
| TT |
Tên khoa học |
Tên Việt Nam |
Dạng thân |
Giá trị sử dụng |
| 1 |
Clausena anisata (Willd.) Hook. f. ex Benth. |
Hồng bì rừng |
Gỗ nhỏ (GON) |
Làm thuốc (THU), Tinh dầu (CTD), Ăn được (ĂNĐ) |
| 2 |
Clausena dimidiana Tanaka |
Hồng bì dại |
Gỗ nhỏ (GON) |
THU, CTD |
| 3 |
Clausena engleri Tanaka |
Hồng bì engler |
Gỗ nhỏ (GON) |
CTD |
| 4 |
Clausena excavata Burm. f. |
Hồng bì dại |
Gỗ nhỏ (GON) |
THU, CTD |
| 5 |
Clausena harmandiana (Pierre) Pierre ex Guillaum. |
Giối harmand |
Cây bụi (BUI) |
CTD |
| 6 |
Clausena indica (Dalz.) Oliv. |
Mắc mật |
Cây bụi (BUI) |
THU, CTD |
| 7 |
Clausena lansium (Lour.) Skeels |
Hồng bì |
Gỗ nhỏ (GON) |
THU, CTD, ĂNĐ |
| 8 |
Clausena lenis Drake |
Giổi nhẵn |
Gỗ nhỏ (GON) |
THU, CTD |
| 9 |
Euodia calophylla Guillaum. |
Dấu dầu lá hẹp |
Gỗ nhỏ (GON) |
CTD |
| 10 |
Euodia lepta (Spreng.) Merr. |
Ba chạc |
Gỗ nhỏ (GON) |
THU, CTD |
| 11 |
Euodia oreophila Guillaum. |
Dấu dầu háo ẩm |
Gỗ nhỏ (GON) |
THU, CTD |
| 12 |
Euodia pasteuriana A. Chev. ex Guillaum. |
Dầu dấu lá đơn |
Gỗ nhỏ (GON) |
CTD |
| 13 |
Euodia simplicifolia Ridl. |
Dấu dầu lá đơn |
Cây bụi (BUI) |
THU, CTD |
| 14 |
Glycosmis crassifolia Ridl. |
Cơm rượu lá mập |
Cây bụi (BUI) |
CTD |
| 15 |
Glycosmis craibii Tanaka |
Cơm rượu crai |
Cây bụi (BUI) |
CTD |
| 16 |
Glycosmis gracilis B. C. Stone |
Cơm rượu mảnh |
Gỗ nhỏ (GON) |
CTD |
| 17 |
Glycosmis lanceolata (Blume) Spreng. ex Teijsm & Binn. |
Cơm rượu lá thuôn |
Gỗ nhỏ (GON) |
CTD |
| 18 |
Glycosmis mauritiana Ridl. |
Cơm nguội đá |
Cây bụi (BUI) |
CTD |
| 19 |
Glycosmis nana Tanaka |
Cơm rượu lùn |
Cây bụi (BUI) |
CTD |
| 20 |
Glycosmis ovoidea Pierre |
Cơm rượu tròn |
Gỗ nhỏ (GON) |
CTD |
| 21 |
Glycosmis parviflora (Sims) Little |
Cơm rượu lá hoa nhỏ |
Gỗ nhỏ (GON) |
THU, CTD, ĂNĐ |
| 22 |
Glycosmis pentaphylla (Retz.) Correa |
Cơm rượu (Bưởi bung) |
Cây bụi (BUI) |
THU, CTD |
| 23 |
Glycosmis petelotii Guillaum. |
Cơm rượu petelot |
Cây bụi (BUI) |
CTD |
| 24 |
Zanthoxylum acanthopodium DC. |
Sẻn |
Gỗ nhỏ (GON) |
THU, CTD, Cây gia vị (CGV) |
| 25 |
Zanthoxylum armatum DC. |
Sẻn gai (Đắng cay) |
Gỗ nhỏ (GON) |
THU, CTD |
| 26 |
Zanthoxylum avicennae (Lamk.) DC. |
Muồng truổng |
Gỗ nhỏ (GON) |
THU, CTD |
| 27 |
Zanthoxylum laetum Drake |
Hoàng mộc sai |
Dây leo gỗ (GLT) |
CTD |
| 28 |
Zanthoxylum myriacanthum Wall. |
Hoàng mộc nhiều gai |
Gỗ lớn (GOL) |
THU, CTD, CGV |
| 29 |
Zanthoxylum nitidum (Lamk.) DC. |
Sưng (Hạt sẻn) |
Dây leo gỗ (GLT) |
THU, CTD, CGV |
| 30 |
Zanthoxylum ovalifolium Wight |
Hoàng mộc phi |
Dây leo gỗ (GLT) |
CTD, CGV |
| 31 |
Zanthoxylum rhetsa (Roxb.) DC. |
Sẻn hôi |
Gỗ lớn (GOL) |
THU, CTD, CGV |
- Phân tích cấu trúc dạng thân và vùng phân bố:
- Về dạng sống: Nhóm cây gỗ nhỏ (GON) chiếm ưu thế với 18 loài (58,06%); nhóm cây bụi (BUI) có 7 loài (22,58%); nhóm dây leo gỗ hoặc bụi trườn (GLT) có 4 loài (12,90%); nhóm cây gỗ lớn (GOL) có 2 loài (6,45%).
- Bổ sung phân bố: Ghi nhận mới vùng phân bố tại Nghệ An cho 8 loài: Clausena dimidiana, Clausena lenis, Euodia oreophila, Glycosmis ovoidea, Glycosmis nana, Zanthoxylum armatum, Zanthoxylum rhetsa, Zanthoxylum ovalifolium. Bản đồ phân bố số hóa của 31 loài được thiết lập chi tiết trên nền bản đồ hành chính tỉnh Nghệ An.
- Giá trị sử dụng: 100% loài (31/31 loài) đều chứa tinh dầu (CTD); 16 loài có công dụng làm thuốc (THU); 5 loài được dùng làm gia vị (CGV); 3 loài có bộ phận ăn được (ĂNĐ).
-
Nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu của 15 loài:
Luận án tiến hành chiết xuất và phân tích thành phần hóa học tinh dầu từ lá, cành, vỏ, quả, rễ của 15 loài thuộc 4 chi (Clausena anisata, C. dimidiana, C. indica, C. excavata, C. engleri; Euodia calophylla, E. lepta, E. simplicifolia; Glycosmis crassifolia, G. mauritiana; Zanthoxylum avicennae, Z. laetum, Z. myriacanthum, Z. nitidum, Z. ovalifolium, Z. rhetsa). Trong số này, có 06 loài lần đầu tiên được nghiên cứu và cung cấp dẫn liệu về thành phần hóa học tinh dầu gồm: Glycosmis crassifolia, Glycosmis mauritiana, Euodia simplicifolia, Zanthoxylum ovalifolium, Zanthoxylum laetum, Clausena engleri.
-
Hoạt tính sinh học của tinh dầu loài Ba chạc (Euodia lepta):
- Hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định: Thử nghiệm trên tinh dầu lá và quả đối với 7 chủng vi sinh vật chuẩn, xác định được nồng độ ức chế tối thiểu MIC.
- Hoạt tính ức chế tế bào ung thư: Đánh giá khả năng gây độc và ức chế sự tăng sinh dòng tế bào ung thư bằng phương pháp MTT, xác định giá trị $IC_{50}$ so sánh với chất chuẩn Ellipticine.
- Hoạt tính chống oxy hóa: Khảo sát khả năng bẫy gốc tự do DPPH, tính toán tỷ lệ dập tắt gốc tự do SC% và xác định nồng độ ức chế $SC_{50}$.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới của luận án
-
Về khoa học và phân loại học thực vật:
- Cung cấp hệ thống dữ liệu hoàn chỉnh và có hệ thống về 31 loài thực vật thuộc bốn chi Clausena, Euodia, Glycosmis, Zanthoxylum thuộc họ Cam (Rutaceae) tại Nghệ An, chiếm 68,89% tổng số loài của các chi này tại Việt Nam.
- Ghi nhận và bổ sung mới vùng phân bố cho 8 loài thực vật họ Cam tại Nghệ An gồm: Clausena dimidiana, Clausena lenis, Euodia oreophila, Glycosmis ovoidea, Glycosmis nana, Zanthoxylum armatum, Zanthoxylum rhetsa, Zanthoxylum ovalifolium.
- Xây dựng thành công cơ sở dữ liệu tọa độ và bản đồ phân bố không gian cho toàn bộ 31 loài thuộc 4 chi nghiên cứu tại Nghệ An bằng phần mềm MapInfo 10.0.
-
Về hóa học tinh dầu và hoạt tính sinh học:
- Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm về hàm lượng và thành phần hóa học tinh dầu ở các bộ phận (lá, thân, cành, vỏ, quả, rễ) của 15 loài thuộc 4 chi nghiên cứu.
- Lần đầu tiên công bố dữ liệu hóa học tinh dầu của 06 loài thực vật gồm: Glycosmis crassifolia, Glycosmis mauritiana, Euodia simplicifolia, Zanthoxylum ovalifolium, Zanthoxylum laetum, Clausena engleri.
- Xác lập các dữ liệu định lượng về hoạt tính kháng vi sinh vật, ức chế tế bào ung thư (MTT) và chống oxy hóa (DPPH) của tinh dầu loài Ba chạc (Euodia lepta).
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đề xuất các cơ quan quản lý lâm nghiệp và chính quyền địa phương đưa các loài có vùng phân bố hẹp hoặc giá trị kinh tế cao vào kế hoạch bảo tồn nguyên vị (in-situ) tại các Vườn Quốc gia và Khu Bảo tồn Thiên nhiên trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
- Khai thác hợp lý và phát triển nguồn tài nguyên thực vật cho tinh dầu và làm thuốc trong dân gian (đặc biệt là các loài trong chi Clausena và Zanthoxylum) nhằm phát triển kinh tế xã hội bền vững tại các vùng đệm miền núi.
- Đề xuất tiếp tục nghiên cứu mở rộng thử nghiệm hoạt tính sinh học trên các loài còn lại và nghiên cứu quy trình công nghệ nhân giống, trồng trọt bán tự nhiên các loài có tiềm năng dược liệu cao.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu giới hạn phạm vi thu mẫu trong địa giới hành chính tỉnh Nghệ An. Do đặc điểm địa hình núi cao hiểm trở, chia cắt mạnh (như khu vực đỉnh Pu Xai Lai Leng, vùng sâu Vườn Quốc gia Pù Mát), việc thu thập mẫu vật vào đúng các thời điểm ra hoa, kết quả của một số loài gặp khó khăn. Ngoài ra, thử nghiệm hoạt tính sinh học mới tập trung thực hiện chuyên sâu trên một loài đại diện là Ba chạc (Euodia lepta), chưa tiến hành thử nghiệm hoạt tính trên toàn bộ 15 loài đã chiết xuất tinh dầu.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi điều tra sang các tỉnh lân cận thuộc khu vực Bắc Trung Bộ và biên giới Việt - Lào nhằm đánh giá toàn diện sự biến động hình thái và biến dị hóa học theo vùng sinh thái.
- Tiếp tục nghiên cứu đánh giá hoạt tính sinh học (kháng khuẩn, kháng nấm, kháng viêm, độc tế bào ung thư) đối với tinh dầu của 14 loài còn lại, đặc biệt là 6 loài mới được công bố thành phần hóa học.
- Nghiên cứu sâu hơn về thành phần hóa học của các phân đoạn chiết xuất không bay hơi và khảo sát quy trình nhân giống, trồng trọt phục vụ khai thác thương mại bền vững.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Thực vật học, Sinh học, Lâm nghiệp, Dược học và Hóa học các hợp chất thiên nhiên.
- Cán bộ nghiên cứu khoa học tại các Viện nghiên cứu sinh thái, Viện Dược liệu, Trung tâm Tài nguyên thực vật.
- Cán bộ quản lý tại Chi cục Kiểm lâm, Ban quản lý các Vườn Quốc gia (Pù Mát), Khu Bảo tồn Thiên nhiên (Pù Huống, Pù Hoạt) và các cơ quan hoạch định chính sách phát triển dược liệu tỉnh Nghệ An.
- Nội dung tham khảo trọng tâm:
- Khóa định loại, đặc điểm hình thái nhận dạng, dữ liệu phân bố và bản đồ số hóa của 31 loài họ Cam.
- Phương pháp phân tích sắc ký khí GC/MS, bộ dữ liệu phổ và chỉ số lưu giữ RI của các cấu tử tinh dầu trong 15 loài nghiên cứu.
- Quy trình thử nghiệm hoạt tính sinh học chuẩn hóa (MIC, MTT, DPPH) ứng dụng cho các mẫu tinh dầu thực vật.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đã xác định được bao nhiêu loài thuộc 4 chi họ Cam tại Nghệ An và chiếm tỷ lệ bao nhiêu so với cả nước?
Luận án đã xác định được 31 loài thuộc 4 chi họ Cam (Rutaceae) tại Nghệ An từ 455 mẫu tiêu bản thu thập được. Số loài này chiếm 68,89% tổng số loài của 4 chi hiện biết ở Việt Nam (31 trên tổng số 45 loài theo phân loại của Bùi Thu Hà, 2012). Tỷ lệ cụ thể theo từng chi gồm: Ba chạc (Euodia) chiếm 83,33% (5/6 loài), Hồng bì (Clausena) chiếm 80,00% (8/10 loài), Muồng truổng (Zanthoxylum) chiếm 80,00% (8/10 loài) và Cơm rượu (Glycosmis) chiếm 52,63% (10/19 loài).
2. Tám loài thực vật nào được ghi nhận bổ sung vùng phân bố mới cho tỉnh Nghệ An?
Tám loài được luận án ghi nhận mới về vùng phân bố tại Nghệ An gồm:
- Clausena dimidiana Tanaka (Hồng bì dại)
- Clausena lenis Drake (Giổi nhẵn)
- Euodia oreophila Guillaum. (Dấu dầu háo ẩm)
- Glycosmis ovoidea Pierre (Cơm rượu tròn)
- Glycosmis nana Tanaka (Cơm rượu lùn)
- Zanthoxylum armatum DC. (Sẻn gai)
- Zanthoxylum rhetsa (Roxb.) DC. (Sẻn hôi)
- Zanthoxylum ovalifolium Wight (Hoàng mộc phi)
3. Sáu loài thực vật nào lần đầu tiên được cung cấp dẫn liệu về thành phần hóa học tinh dầu?
Sáu loài lần đầu tiên được phân tích và công bố dữ liệu thành phần hóa học tinh dầu trong luận án gồm:
- Glycosmis crassifolia Ridl. (Cơm rượu lá mập)
- Glycosmis mauritiana Ridl. (Cơm nguội đá)
- Euodia simplicifolia Ridl. (Dấu dầu lá đơn)
- Zanthoxylum ovalifolium Wight (Hoàng mộc phi)
- Zanthoxylum laetum Drake (Hoàng mộc sai)
- Clausena engleri Tanaka (Hồng bì engler)
4. Tinh dầu của loài Ba chạc (Euodia lepta) được thử nghiệm những hoạt tính sinh học nào?
Tinh dầu chiết xuất từ lá và quả của loài Ba chạc (Euodia lepta) được luận án đánh giá qua ba thử nghiệm sinh học in vitro:
- Hoạt tính kháng 7 chủng vi sinh vật kiểm định chuẩn (gồm 3 chủng vi khuẩn Gram dương, 3 chủng vi khuẩn Gram âm và 1 chủng nấm men) bằng phương pháp khuếch tán đĩa thạch và xác định giá trị nồng độ ức chế tối thiểu (MIC).
- Hoạt tính gây độc và ức chế sự tăng sinh tế bào ung thư theo phương pháp MTT, xác định tỷ lệ sống sót của tế bào CS% và nồng độ ức chế 50% số lượng tế bào ($IC_{50}$) so với chất chuẩn Ellipticine.
- Hoạt tính chống oxy hóa dập tắt gốc tự do trên hệ DPPH, xác định nồng độ trung hòa 50% gốc tự do ($SC_{50}$).
5. Cấu trúc dạng thân của 31 loài thuộc 4 chi họ Cam ở Nghệ An phân bố như thế nào?
Trong 31 loài được nghiên cứu tại Nghệ An, cấu trúc dạng thân được phân chia thành 4 nhóm:
- Nhóm cây gỗ nhỏ (GON): Chiếm ưu thế lớn nhất với 18 loài (58,06%), ví dụ như Clausena anisata, Euodia lepta, Glycosmis parviflora, Zanthoxylum avicennae.
- Nhóm cây bụi (BUI): Gồm 7 loài (22,58%), ví dụ như Clausena indica, Glycosmis pentaphylla, Glycosmis crassifolia.
- Nhóm dây leo gỗ hoặc bụi trườn (GLT): Gồm 4 loài (12,90%), gồm Zanthoxylum laetum, Zanthoxylum nitidum, Zanthoxylum ovalifolium.
- Nhóm cây gỗ lớn (GOL): Gồm 2 loài (6,45%), gồm Zanthoxylum myriacanthum và Zanthoxylum rhetsa.
Kết luận
Luận án tiến sĩ sinh học của tác giả Hoàng Danh Trung đã hoàn thành việc đánh giá toàn diện tính đa dạng loài, đặc điểm sinh học và thành phần hóa học tinh dầu của 4 chi Hồng bì (Clausena), Ba chạc (Euodia), Cơm rượu (Glycosmis), Muồng truổng (Zanthoxylum) thuộc họ Cam (Rutaceae) tại Nghệ An với 31 loài được xác định, chiếm 68,89% tổng số loài của 4 chi này ở Việt Nam. Công trình đã bổ sung vùng phân bố mới cho 8 loài, xây dựng bản đồ phân bố chi tiết bằng MapInfo 10.0, đồng thời phân tích thành phần hóa học tinh dầu của 15 loài và lần đầu tiên công bố dữ liệu tinh dầu cho 06 loài thực vật. Các kết quả thực nghiệm về hoạt tính kháng khuẩn, độc tế bào ung thư và chống oxy hóa của tinh dầu loài Ba chạc (Euodia lepta) đã cung cấp luận cứ khoa học quan trọng cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học và định hướng khai thác, ứng dụng bền vững nguồn tài nguyên cây tinh dầu tại địa phương.