CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu họ Cam (Rutaceae) 1. Trên thế giới Họ Cam được nghiên cứu từ thời Linnaeus (1753) với 7 chi và 19 loài [128]. Jussieu đã đặt tên cho họ Cam là Rutaceae với typus là Ruta L.
Công trình nghiên cứu tương đối toàn diện và có hệ thống về họ Cam cuối thế kỷ 19 phải kể đến A. Tác giả là người đầu tiên nghiên cứu khá kỹ về các đặc điểm từ hình thái ngoài của cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản, đến số lượng nhiễm sắc thể, phân bố địa lý, cổ sinh vật, mối quan hệ thân cận giữa các taxon trong họ Cam. Tác giả cũng là người đầu tiên định hướng cho việc sử dụng tổng hợp các đặc điểm trong phân loại họ Cam, điều đó cho phép phân định giữa các taxon có căn cứ vững chắc hơn. Vì vậy, sau này nhiều công trình nghiên cứu về họ Cam đều dựa trên nền tảng hệ thống của A.
Engler, sử dụng các đặc điểm mà ông đã lựa chọn, như công trình của W. Trong công trình, tác giả sắp xếp 12 họ thực vật có hoa vào bộ Cam, trong đó có 4 họ có đại diện ở Việt Nam gồm: họ Cam (Rutaceae), họ Xoài (Anacardiaceae), họ Thanh thất (Simaroubaceae) và họ Xoan (Meliaceae). Với những nhóm đặc điểm được sử dụng như: tính đối xứng của hoa, tính chất rời hay dính nhau của bộ nhị và bộ nhụy, sự có mặt của tuyến nhựa trong vỏ thân hay tế bào tiết trong vỏ và ruột…để sắp xếp vị trí cho các taxon. Riêng họ Cam, tác giả đã chia thành 6 phân họ (subfamily), 10 tông (tribus) và 25 phân tông (subtribus), khoảng 150 chi và gần 1.600 loài trên toàn thế giới.Takhtajan khắc phục được những điểm còn chưa hợp lý của hệ thống A.
Engler, với bổ sung của W. Reece (1967) và các công trình nghiên cứu trước đó, A.Takhtajan xếp bộ Cam gồm 10 họ, trong đó có 3 họ có đại diện ở Việt Nam (gồm: họ Cam (Rutaceae), họ Xoan (Meliaceae) 5 và họ Thanh thất (Simaroubaceae); ông cũng chia thành 2 bộ, tách họ Cam thuộc cùng một nhóm với họ Thanh thất (Simaroubaceae) và họ Xoan (Meliaceae) thuộc phân bộ còn lại. Đối với họ Cam (Rutaceae), ông chia thành 7 phân họ [103]. Bên cạnh các công trình nghiên cứu tổng thể các taxon trong họ Cam (Rutaceae) trên toàn thế giới còn có các công trình nghiên cứu riêng mỗi taxon, nhóm taxon hay các công trình Thực vật chí các nước.
Một số công trình thực vật chí đáng chú ý: J. Hooker (1875) đã chia họ Cam (Rutaceae) ở Ấn Độ và các vùng lân cận thành 4 tông: Ruteae, Zanthoxyleae, Toddalieae, Auratieae. Tác giả đã mô tả 23 chi và 78 loài của vùng này [64]. Đây là những dẫn liệu phong phú góp phần xây dựng hệ thống phân loại họ Cam của G.
Tuy nhiên, một số đặc điểm mà tác giả lựa chọn để phân biệt các chi không thể hiện tính đối lập rõ ràng, ví dụ khi phân biệt 2 chi Ruta và Peganum: đặc điểm “tràng 4-5” đều xuất hiện ở cả hai nhóm để phân biệt 2 chi. Stone (1972) đã công bố kết quả nghiên cứu về họ Cam trong Thực vật chí Malaysia, gồm 3 họ, 4 tông đã được lập khóa định loại, các taxon được xếp theo Reece (1967), so với các công trình Thực vật chí khác, tác giả có chỉ rõ quan điểm kế thừa hệ thống phân loại của tác giả đáng tin cậy, vì vậy các taxon được sắp xếp vào các nhóm phân loại thích hợp. Các thông tin về loài như danh pháp, mô tả, phân bố đã được công bố tương đối đầy đủ, tuy nhiên hình vẽ minh họa còn ít, chưa có mẫu nghiên cứu [100]. Chang và cộng sự (1993) đã biên soạn họ Cam trong Thực vật chí Đài Loan, tác giả không phân chia thành phân họ hay tông mà chỉ lập khóa định loại, mô tả 13 chi và 31 loài, trong đó các chi và loài được mô tả đầy đủ về danh pháp, tài liệu công bố, mẫu nghiên cứu, một số loài có hình ảnh minh họa đầy đủ [49].
Tuy vậy, đây là cuốn sách thực vật chí có giá trị khoa học lớn, là tài liệu tham khảo quan trọng cho những ai nghiên cứu về Rutaceae sau này. Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu về họ Cam ở Thái Lan, Lào, Myanma,. Ở Việt Nam Người đầu tiên nghiên cứu họ Cam ở Việt Nam là Loureiro (1790). Tác giả đã mô tả 6 chi và 12 loài có ở Việt Nam [127].
Guillaumin đã mô tả 18 chi và 63 loài ở Đông Dương trong đó có 53 loài phân bố ở Việt Nam [125]. Đến năm 1970, Lê Khả Kế và cộng sự đã xây dựng khóa định loại của 12 chi và mô tả 31 loài có ở Việt Nam [19]. Nguyễn Tiến Bân (1997) trong công trình “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam” đã mô tả đặc điểm chính của họ và lập khóa định loại của 28 chi thuộc họ Cam ở Việt Nam [2]. Sau này, nghiên cứu về họ Cam ở Việt Nam phải kể đến công trình nghiên cứu của Phạm Hoàng Hộ, trong bộ “Cây cỏ Việt Nam” được tái bản năm 2003, tác giả đã xây dựng khóa định loại cho 22 chi và mô tả sơ lược 117 loài [13], [14].
Trần Kim Liên (2003) trong công trình “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” thống kê và cập nhập danh pháp hiện nay của 27 chi và 128 loài trong họ Cam có ở Việt Nam. Đây là công trình khái quát cơ bản về họ Cam ở Việt Nam [22]. Những công trình đề cập đến giá trị sử dụng của họ Cam như: Trần Đình Lý (1993) trong công trình “1900 loài cây có ích ở Việt Nam” đã thống kê 35 loài có ích thuộc họ Cam [25]. Đặc biệt công trình “Từ điển cây thuốc Việt Nam” (2012) của Võ Văn Chi đã đề cập đến 61 loài thuộc họ Cam được sử dụng làm thuốc [8].
Gần đây nhất, năm 2012, Bùi Thu Hà với công trình “Nghiên cứu phân loại họ Cam (Rutaceae Juss.) ở Việt Nam” tác giả đã mô tả, vẽ hình chi tiết và đưa ra khóa phân loại các chi và loài cho họ Cam, đồng thời đã công bố ở Việt Nam có 107 7 loài, 1 phân loài và 3 thứ thuộc 26 chi, 5 tông và 3 phân họ [10]. Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1984) trong Danh lục thực vật Tây Nguyên đã thống kê được 45 loài và 13 chi thuộc họ Cam [3]. Sau này, Phùng Ngọc Lan và cộng sự (1996) khi nghiên cứu hệ thực vật Cúc Phương đã công bố 30 loài và 9 chi thuộc họ Cam [21]. Năm 1997, Phan Kế Lộc và cộng sự (1997) đã công bố loài 27 và 10 chi của họ Cam ở khu vực Sông Đà [23].
Lê Trần Chấn và cs (1999) đã thống kê trong hệ thực vật Việt Nam có 120 loài thuộc 21 chi thuộc họ Cam [7]. Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (1998) công bố loài 28 và 11 chi thuộc họ Cam ở VQG Hoàng Liên [38]. Trong cuốn Đa dạng hệ Nấm và thực vật VQG Bạch Mã đã thống kê 16 loài và 10 chi thuộc họ Cam [37]. Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (2004) công bố 51 loài và 12 chi thuộc họ Cam ở VQG Pù Mát [36].
Trần Minh Hợi và cs (2008) đã nghi nhận họ Cam ở VQG Xuân Sơn có 9 chi và 20 loài thuộc họ Cam [15]. Lê Thị Hương và cộng sự (2012) đã công bố 24 loài và 13 chi thuộc họ Cam phân bố ở Pù Hoạt [18]. Gần đây, Đậu Bá Thìn và cs (2016) ghi nhận ở Khu BTTN Pù Luông có 20 loài thuộc 10 chi của họ Cam [34]. Nghiên cứu về họ Cam ở Việt Nam ngoài một số công trình của Phạm Hoàng Hộ (1993, 2000), Trần Kim Liên (2003) còn có một số công trình thống kê mang tính chất của vùng, miền, VQG, KBTTN.
Gần đây nhất là công trình của Bùi Thu Hà (2012), được xem hoàn chỉnh nhất đến thời điểm hiện tại. Trong đó, chi Hồng bì (Clausena) có khoảng 30 loài phân bố ở châu Á, châu Phi, châu Úc. Việt Nam hiện gặp 10 loài; chi Ba chạc (Euodia), còn gọi là Dấu dầu, Thôi chanh: Có khoảng 120 loài phân bố ở vùng Ấn Độ-Mã Lai đến Bắc Trung Quốc và châu Úc. Ở Việt Nam gặp 6 loài phân bố rộng ở các khu vực trong cả nước; chi Cơm rượu (Glycosmis) có 50 loài, ở Việt Nam mới gặp 19 loài.
Chi Muồng truổng (Zanthoxylum), còn gọi là Hạt sẻn, Hoàng mộc: Có khoảng 250 loài phân bố ở châu Á, châu Phi, Ôxtrâylia, Bắc Mỹ trong vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, một số ít ở ôn đới. Đây là công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về 4 chi của họ Cam (Rutaceae) ở Việt Nam. Tuy nhiên, trong công trình này, tác giả chỉ đề cập đến một số địa điểm thu mẫu cụ thể, chưa mang tính chất của toàn vùng. Vì vậy, 8 cần có những nghiên cứu đầy đủ hơn nữa để đánh giá toàn diện các loài và tiềm năng ứng dụng của chúng trong tương lai.
Như vậy, trên thế giới và ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về họ Cam (Rutaceae), tuy nhiên đây là một họ thực vật rất có giá trị về mặt kinh tế, cung cấp nhiều nguồn gen có giá trị về mặt y dược, hoá mỹ phẩm, thực phẩm… Vì vậy, việc thống kê một cách đầy đủ, cập nhật thành phần loài của họ này là một công việc hết sức cần thiết và quan trọng. Ở Nghệ An Nghiên cứu về họ Cam ở Nghệ An chưa có công trình nào mang tính hệ thống mà chỉ có các công trình thống kê riêng lẻ về họ này điển hình như Phạm Hồng Ban (2001) khi nghiên cứu hệ sinh thái sau nương rẫy ở vùng Tây Nam Nghệ An đã xác định được 12 loài 6 chi [1]. Trong cuốn Đa dạng thực vật VQG Pù Mát của các tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thanh Nhàn (2004) đã thống kê được 12 chi và 51 loài [36]. Ở Pù Hoạt, Lê Thị Hương và Đỗ Ngọc Đài (2012) đã thống kê được 6 chi và 21 loài [18].
Hồ Thị Hải (2015), khi nghiên cứu họ Cam ở Lục Dạ và Châu Khê thuộc vùng đệm VQG Pù Mát đã xác định được 35 loài thuộc 13 chi [12]. Gần đây, trong quá trình điều tra về các loài thực vật có tinh dầu ở VQG Pù Mát thì Nguyễn Viết Hùng (2017) đã thống kê được 13 chi, 31 loài [17]. Cũng năm này, Nguyễn Thanh Nhàn đã công bố ở VQG Pù Mát có 12 chi và 53 loài [27].