Đặt vấn đề Họ Dầu (Dipterocarpaceae) là họ thực vật phổ biến của vùng nhiệt đới. Hiện nay gỗ của các loài cây họ Dầu đang chiếm thị phần lớn trên thị trƣờng gỗ thế giới. Vì vậy chúng đang đóng vai trò quan trọng đối với nhiều quốc gia, chủ yếu các quốc nƣớc Châu Á và đặc biệt Đông Nam Á. Ngoài việc cung cấp gỗ, các loài cây họ Dầu còn đem lại nhiều loại sản phẩm có giá trị khác phục vụ đời sống con ngƣời nhƣ nhựa chai (Shorea guiso), nhựa cứng (Neobalanocarpus sp.
Cronquist (1981) [35] phân chia họ Dầu (Dipterocarpaceae) thành 3 phân họ gồm Dipterocarpoideae, Pakaraimoideae và Monotoideae. Việt Nam có trên 40 loài cây họ Dầu thuộc 6 chi (Anisoptera, Hopea, Parashorea, Vatica, Dipterocarpus, Shorea), hầu hết là loài bản địa và đặc hữu [12]. Do giá trị thƣơng mại và nhu cầu của ngƣời dân địa phƣơng, các loài cây họ Dầu bị khai thác quá mức. Số lƣợng cây cho mỗi loài không nhiều.
Nơi sống của chúng bị thu hẹp và suy giảm. Trong những năm 1980 và 1990, do khai thác quá nhanh bởi ngƣời dân địa phƣơng và các doanh nghiệp lâm nghiệp, cùng với nơi sống của loài Dầu bị thu hẹp và phân cắt. Do đó, việc đánh giá mức độ đa dạng di truyền và môi trƣờng sống của các loài Dầu đƣợc xem xét nhƣ là công việc ƣu tiên trong hoạt động bảo tồn. Dầu Song nàng (Dipterocarpus dyeri Pierre) phân bố khá rộng ở rừng nhiệt đới Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, bao gồm Khu bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai, rừng phòng hộ Tân Phú, Vƣờn Quốc gia Cát Tiên (Đồng Nai), Vƣờn Quốc gia Bù Gia Mập (Bình Phƣớc), Lò Gò – Xa Mát (Tây Ninh), khu Bảo tồn Thiên nhiên Bình Châu - Phƣớc Bửu (Bà Rịa - Vũng Tàu) và một số tỉnh khác ở 2 Tây Nguyên và đảo Phú Quốc (Kiên Giang).
Loài này nằm trong Sách Đỏ Thế giới [59] và Việt Nam [3] cần phải đƣợc bảo vệ: CR A1 cd, B1 + 2C. Phạm vi nghiên cứu của đề tài này chúng tôi tập trung đánh giá mức độ đa dạng di truyền và thụ phấn chéo trong quần thể Dầu Song nàng ở rừng nhiệt đới núi thấp Mã Đà (Vĩnh Cửu, Đồng Nai) trên cơ sở phân tích 8 cặp mồi chỉ thị Microsatellite để khám phá bản chất di truyền và hạt giống tốt đáp ứng đƣợc yêu cầu chất lƣợng cây giống phục vụ công tác bảo tồn và phát triển bền vững. Mục tiêu, nội dung, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Mục tiêu của đề tài: + Xác định đƣợc đa dạng di truyền và thụ phấn chéo loài Dầu Song nàng (Dipterocarpus dyeri Pierre) ở Khu bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai. + Mục tiêu này bảo tồn loài quý hiếm trên cơ sở nghiên cứu sâu hơn về bản chất di truyền quần thể và loài.
+ Có cơ sở khoa học chính xác giúp các nhà quản lý đƣa ra những chính sách, biện pháp bảo tồn và phục hồi loài hữu hiệu ở Việt Nam. - Nội dung nghiên cứu + Phân tích đa dạng di truyền loài Dầu Song nàng trên cơ sở phân tích 8 cặp mồi Microsatellite. + Xác định các thông số thụ phấn chéo loài Dầu Song nàng ở Khu bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai. + Đề xuất một số phƣơng án bảo tồn loài cây họ Dầu và loài Dầu Song nàng.
- Ý nghĩa khoa học và thực tiễn: Khoa học: Kết quả nghiên cứu là dẫn liệu khoa học di truyền loài và tuyển chọn cây trội đáp ứng đƣợc chất lƣợng cây giống phục vụ công tác bảo tồn và phục hồi loài. 3 Kinh tế - xã hội: Các cây trội sẽ đƣợc tuyển chọn có nhiều đặc tính đáp ứng cho công việc phục hồi loài. Các cây giống từ các cây trội đƣợc tuyển chọn đáp ứng yêu cầu nhƣ cây khỏe, phát triển nhanh, sức đề kháng tốt với dịch bệnh và có khả năng thích nghi với biến đổi của môi trƣờng, giảm chi phí nhân giống. Cơ chế chính sách: Các nhà quản lý có cách nhìn khoa học hơn và từ đó đƣa ra các giải pháp phục hồi hữu hiệu loài đang bị đe dọa trên phạm vi toàn quốc.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về họ Dầu và loài Dầu Song nàng 1. Tổng quan về họ Dầu (Dipterocarpaceae) Họ Dầu một số tài liệu tiếng Việt gọi là Họ Hai cánh có danh pháp khoa học là Dipterocarpaceae, thuộc Bộ Bông Malvales đƣợc cho là có lịch sử tiến hóa khoảng 70 triệu năm, từ cuối Đại Trung sinh hoặc đầu Kỷ Đệ tam và hình thành giới hạn phân bố ổn định vào cuối Kỷ Đệ tam. Họ Dầu có khoảng 17 chi và khoảng 580 - 680 loài cây thân gỗ chủ yếu ở các rừng mƣa nhiệt đới vùng đất thấp với quả có hai cánh.
Các chi lớn nhất là Shorea (196-360 loài), Hopea (105 loài), Dipterocarpus (70 loài) và Vatica (60-65 loài) [3]. Nhiều loài là các loại cây nổi bật trong các cánh rừng, thông thƣờng có thể cao tới 40 - 70 m và có đƣờng kính 2 - 3 m. Họ này nói chung đƣợc chia thành ba phân họ: - Monotoideae: 3 chi, 30 loài. + Marquesia có nguồn gốc ở châu Phi.
+ Monotes có 26 loài, phân bố rộng khắp ở châu Phi đại lục và đảo Madagascar. + Pseudomonotes có 1 loài (Pseudomonotes tropenbosii), nguồn gốc ở vùng Amazon thuộc Colombia. - Pakaraimoideae: Chứa một loài duy nhất là Pakaraimaea roraimae, đƣợc tìm thấy ở vùng cao nguyên Guiana ở Nam Mỹ. - Dipterocarpoideae: Phân họ lớn nhất, chứa 13 chi và 470 - 650 loài.
Khu vực phân bố bao gồm Seychelles, Sri Lanka, Ấn Độ, Đông Nam Á, New Guinea, nhƣng chủ yếu ở miền tây Malesia. Tại đây chúng tạo thành quần thể thống lĩnh 5 trong các cánh rừng vùng đất thấp. Phân họ Dipterocarpoideae có thể chia thành hai nhóm [27], [55]: + Nhóm Valvate - Dipterocarpi (Anisoptera, Cotylelobium, Dipterocarpus, Stemonoporus, Upuna, Vateria, Vateriopsis, Vatica). Các chi trong nhóm này có các lá đài hoa có nắp (mở bằng mảnh vỏ) trong quả, các mạch đơn độc, các ống nhựa phân tán.
+ Nhóm Imbricate - Shoreae (Balanocarpus, Hopea, Parashorea, Shorea). Các chi trong nhóm này có các lá đài hoa lợp (gối lên nhau) trong quả, các mạch nhóm lại, các ống nhựa trong các dải. Theo Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam [1]. Họ Dầu ở Việt Nam (Dipterocarpaceae) gồm 6 chi, 42 loài và 3 phân loài.
Trong đó chi Vên vên (Anisoptera) có 2 loài: chi Dầu (Dipterocarpus) có 11 loài và 2 phân loài; chi Sao (Hopea) có 11 loài; chi Chò chỉ (Parashorea) có 2 loài; chi Sến mủ (Shorea) có 8 loài; chi Táu (Vatica) có 8 loài và 1 phân loài. Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005) Việt Nam có hơn 40 loài và 1 phân loài thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae). Trong đó: chi Vên vên (Anisoptera) có 1 loài; chi Dầu (Dipterocarpus) có 12 loài và bổ sung loài Dầu cát (D. condorensis) so với Danh lục thực vật Việt Nam.
Chi Sao (Hopea) có 11 loài trong đó không nhắc đến loài Sao xanh (H. helferi) nhƣ trong Danh lục thực vật Việt Nam và bổ sung thêm một loài chƣa định danh chính xác là Sao đá (Hopea sp); chi Chò chỉ (Parashorea) có 2 loài: chi Sến mủ (Shorea) có 8 loài và chi Táu (Vatica) có 8 loài với 1 phân loài. Theo tác giả các loài Sao đá (Hopea sp), Dầu cát (D. condorensis) đƣợc ghi nhận thực sự tồn tại ở Việt Nam trong khi các loài khác là Sao xanh (H.
helferi), Kiền kiền nhẵn (A. scaphula) không chắc chắn tồn tại ở Việt Nam [12]. Về tình trạng bảo tồn hiện tại có 23 loài đƣợc ghi nhận mức bị đe dọa theo IUCN (2001) trong đó 2 loài rất nguy cấp (CR) có 3 loài nguy cấp (EN) và 18 loài sẽ nguy cấp (VU). Theo Sách đỏ Việt Nam (2007) có 11 loài đƣợc xếp hạng đe 6 dọa.
Trong đó có 1 loài rất nguy cấp (CR), 5 loài nguy cấp (EN) và 5 loài sẽ nguy cấp (VU) [2]. Về phân bố các loài họ Dầu (Dipterocarpaceae) phân bố trong các sinh cảnh rừng khô cây họ dầu, rừng mƣa mùa thƣờng xanh, nửa rụng lá hoặc rừng kín mƣa mùa thƣờng xanh ẩm. Cây họ Dầu có nhiều giá trị kinh tế. Là nguồn cung cấp gỗ quan trọng của vùng Đông Nam Á cho tiêu thụ nội địa và xuất khẩu.
Gỗ các loài cây họ Dầu đƣợc sử dụng vào các công trình xây dựng nhƣ làm dầm, xà nhà, khung cửa, cầu thang, sàn nhà … gỗ đƣợc xử lý có thể còn đƣợc dùng làm cầu tàu, tà vẹt đƣờng sắt… Cây họ Dầu còn cho các sản phẩm ngoài gỗ nhƣ: nhựa, camphor, mỡ bơ, tanin, tinh dầu. Nhựa chiết xuất từ các loài cây họ Dầu đƣợc dùng vào công nghiệp sản xuất sơn, vécni, sơn mài. Loài Dầu Song nàng (Dipterocarpus dyeri Pierre) Dầu Song nàng có tên khoa học là Dipterocarpus dyeri Pierre, thuộc chi Dầu (Dipterocarpus). Ảnh cây và quả Dầu Song nàng Dầu Song nàng là loài cây gỗ lớn, cao 30 – 40 m, đƣờng kính đạt trên 150 cm, thân thẳng, tròn đều, dáng thân đẹp.
Là một trong những loài cây gỗ có kích thƣớc lớn nhất của rừng tự nhiên nƣớc ta. Tán lá hình nón, phân cành cao. Vỏ ngoài xù xì, bong thành những mảnh nhỏ. Lá đơn mọc cách, phiến lá hình bầu dục thuôn, lá có kích thƣớc to, dài 16 – 25 cm (có khi tới 50 cm) đỉnh nhọn, gốc tù hay hình tim, đầu có mũi dài đến 1 cm.
Ở cây non lá có lông, nhất là trên các gân mặt dƣới. Mặt trên lá cây trƣởng thành hoàn toàn nhẵn; gân bên 18 - 31 đôi, nổi rõ ở mặt dƣới. Lá kèm dài 15 – 20 cm, rộng 2 – 4 cm, có màu đỏ nhạt ở trong, có lông ở ngoài. Cụm hoa chùm đơn mọc ở nách lá, có lông, dài 10 – 18 cm, mang 6 - 8 hoa không cuống, nhị 30.
Quả hình nón, thuôn, dài 4 cm, rộng 2,8 cm với 5 cạnh nổi rõ. Hai cánh lớn dài 20 – 23 cm, rộng 3 – 4 cm. Quả chín vào cuối tháng 3 đầu tháng 4. 8 Dầu Song nàng có phân bố ở Việt Nam, Lào và Campuchia.
Vùng phân bố chính ở nƣớc ta bao gồm Kon Tum, Gia Lai, các tỉnh Nam Bộ là Bình Phƣớc, Đồng Nai, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu, và đảo Phú Quốc (Kiên Giang). Cây sống trong các kiểu rừng thƣờng xanh ƣa ẩm, có kích thƣớc lớn nên thƣờng chiếm tầng cao nhất của rừng và có khả năng mọc thành quần tụ ƣu thế. Gỗ của Dầu Song nàng phân biệt lõi và giác. Lõi màu nâu đỏ, cứng, tỷ trọng đạt 0.8; dễ chế biến.
Đƣợc dùng để đóng thuyền đi sông, đồ dùng và khai thác lấy nhựa. Hiện nay không còn tìm thấy rừng tự nhiên có tỷ lệ Dầu Song nàng cao.